ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
NGUYỄN THỊ THẮM
ĐẢNG BỘ HUYỆN BA VÌ (HÀ TÂY)
LÃNH ĐẠO XÂY DỰNG ĐỘI NGŨ CÁN BỘ CẤP HUYỆN
TỪ NĂM 1996 ĐẾN NĂM 2008
LUẬN VĂN THẠC SĨ LỊCH SỬ
HÀ NỘI - 2013
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
NGUYỄN THỊ THẮM
ĐẢNG BỘ HUYỆN BA VÌ (HÀ TÂY)
LÃNH ĐẠO XÂY DỰNG ĐỘI NGŨ CÁN BỘ CẤP HUYỆN
TỪ NĂM 1996 ĐẾN NĂM 2008
Chuyên ngành: Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam
Mã số : 60220315
LUẬN VĂN THẠC SĨ LỊCH SỬ
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS. Triệu Quang Tiến
HÀ NỘI - 2013
1.1. Huyện Ba Vì và tình hình đội ngũ cán bộ của huyện trước năm 1996.. 10
1.1.1. Vài nét về huyện Ba Vì ............................................................... 10
1.1.2. Tình hình đội ngũ cán bộ của huyện trước năm 1996 ............... 15
1.2. Đảng bộ huyện Ba Vì lãnh đạo công tác xây dựng đội ngũ cán bộ
cấp huyện từ năm 1996 đến năm 2000 ................................................... 24
1.2.1. Chủ trương của Đảng và sự vận dụng của Đảng bộ huyện Ba Vì
về công tác xây dựng đội ngũ cán bộ cấp huyện .................................. 24
1.2.2. Đảng bộ huyện Ba Vì chỉ đạo xây dựng đội ngũ cán bộ cấp huyện.... 33
Chương 2: QUÁ TRÌNH LÃNH ĐẠO XÂY DỰNG ĐỘI NGŨ CÁN BỘ
CẤP HUYỆN CỦA ĐẢNG BỘ HUYỆN BA VÌ TỪ NĂM 2001 ĐẾN
NĂM 2008 ................................................................................................... 43
2.1. Chủ trương của Đảng về công tác xây dựng đội ngũ cán bộ cấp huyện . 43
2.1.1. Chủ trương của Đảng ................................................................. 43
2.1.2. Sự vận dụng của Đảng bộ huyện Ba Vì về công tác xây dựng đội
ngũ cán bộ cấp huyện ........................................................................... 49
1
2.2. Đảng bộ huyện Ba Vì chỉ đạo xây dựng đội ngũ cán bộ cấp huyện56
2.2.1. Thực hiện quy hoạch và luân chuyển cán bộ ............................. 56
2.2.2. Đào tạo, bồi dưỡng, sử dụng đội ngũ cán bộ .............................. 62
2.2.3. Thực hiện chính sách cán bộ ...................................................... 68
Chương 3: NHẬN XÉT CHUNG VÀ MỘT SỐ KINH NGHIỆM CHỦ
YẾU CỦA ĐẢNG BỘ HUYỆN BA VÌ ...................................................... 72
3.1. Kết quả công tác xây dựng đội ngũ cán bộ cấp huyện ở Ba Vì trong
những năm từ 1996 đến 2008 ................................................................ 72
3.1.1. Những thành tựu cơ bản ............................................................ 72
3.1.2. Một số hạn chế chính.................................................................. 75
3.2. Một số kinh nghiệm chủ yếu của éảng bộ huyện Ba Vì .................. 76
của chế độ. Xây dựng đội ngũ cán bộ luôn luôn là nhiệm vụ quan trọng của
Đảng. Hồ Chí Minh đã nói: “Cán bộ là cái gốc của mọi công việc” [65, tr.
269], “công việc thành công hay thất bại đều do cán bộ tốt hay kém” [65, tr.
240]. Thực tiễn cách mạng Việt Nam hơn nửa thế kỷ qua đã chứng minh vai
trò của đội ngũ cán bộ - một lực lượng nòng cốt cùng với nhân dân làm lên
cuộc cách mạng tháng Tám thành công, kháng chiến chống Pháp, chống Mĩ
thắng lợi, giải phóng đất nước, đem lại độc lập, tự do cho dân tộc, hạnh phúc
cho nhân dân. Trong công cuộc xây dựng đất nước và đổi mới hiện nay, yêu
cầu đối với đội ngũ cán bộ là vừa phải phát huy những ưu điểm và nhiệt tình
về phẩm chất chính trị, vừa phải vươn lên rất nhiều về năng lực chuyên môn
để quản lý và tổ chức thực hiện thắng lợi đường lối, chính sách của Đảng và
Nhà nước. Trong những năm gần đây, Đảng và Nhà nước đã ban hành nhiều
chủ trương, chính sách về xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức nói chung, xây
dựng đội ngũ cán bộ cấp tỉnh, huyện nói riêng nhằm củng cố, đổi mới, phát
triển và nâng cao chất lượng của đội ngũ này. Do vậy, đội ngũ cán bộ của
3
Đảng đã có những đóng góp to lớn vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ vững
chắc Tổ quốc Việt Nam XHCN trong giai đoạn cách mạng hiện nay.
Cùng với sự phát triển kinh tế - xã hội nói chung của đất nước, huyện
Ba Vì, một huyện có tiềm năng, lợi thế về vị trí địa lý, lao động, đất đai, tài
nguyên, giao thông, du lịch...đã tiến hành đổi mới, phát triển kinh tế và thu
được nhiều thành tựu to lớn. Trong sự phát triển to lớn đó không thể không kể
đến vai trò của đội ngũ cán bộ cấp huyện ở Ba Vì. Cán bộ là những người
“công bộc” của dân, người “đầy tớ” của dân và người “lãnh đạo” của dân.
Cán bộ sâu sắc với công việc, gần gũi với nhân dân, luôn luôn tuyên truyền,
vận động và hướng dẫn nhân dân thực hiện đường lối, chính sách, pháp luật
của Đảng, Nhà nước. Cán bộ xây dựng, chỉ đạo các mô hình kinh tế địa
thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, Nxb. Chính trị
quốc gia, Hà Nội...
Những công trình nghiên cứu trên đã nêu lên những quan niệm mới phù
hợp trong đánh giá thực trạng đội ngũ cán bộ hiện nay, cũng như đề xuất, làm
rõ một số quan điểm và định hướng, giải pháp xây dựng đội ngũ cán bộ đáp
ứng đòi hỏi của Đảng, của nhân dân và đất nước trong thời kỳ mới.
Các bài báo khoa học đăng tải trên các tạp chí khoa học
Lê Hữu Xanh (1993), “Từ vai trò xã hội mới của các đoàn thể nghĩ về
tiêu chuẩn cán bộ các đoàn thể nhân dân”, Tạp chí Nghiên cứu lý luận, số 4;
Trần Hưng (1995), “Khắc phục tư tưởng cục bộ địa phương trong lựa chọn sử
dụng, đề bạt cán bộ”, Tạp chí Xây dựng Đảng, số 7; Lê Doãn Tá (1995),
“Mấy vấn đề cơ cấu, tiêu chuẩn cán bộ chủ chốt trong hệ thống chính trị”,
Tạp chí Xây dựng Đảng , số 9; Lê Văn Lý (1997), “Giải pháp nâng cao chất
lượng công tác cán bộ”, Tạp chí Cộng sản, số 7; Lê Văn Lý (1999), “Bàn về
đổi mới đội ngũ cán bộ lãnh đạo quản lý”, Tạp chí Cộng sản, số 11; Tô Huy
Rứa (1999), “Xây dựng và thực hiện tốt công tác quy hoạch cán bộ trong thời
kỳ mới”, Tạp chí Cộng sản, số 3; Cao Duy Hạ (1999), “Nghĩ về giải pháp
5
nâng cao phẩm chất, năng lực đội ngũ cán bộ lãnh đạo chủ chốt của Đảng”,
Tạp chí Thông tin lý luận, số 253; Lê Quang (2009), “Tiếp tục đổi mới
phương thức lãnh đạo của Đảng đối với công tác cán bộ”, Tạp chí Xây dựng
Đảng, số 7, Hà Nội; Cao Duy Hạ (2010), “Những yêu cầu cơ bản đối với cán
bộ chủ chốt cấp huyện”, Tạp chí Tổ chức Nhà nước, số 1...
Những công trình nghiên cứu trên đã bàn nhiều về phẩm chất đạo đức,
năng lực của người cán bộ ở các cấp. Các tác giả đã đề cập nhiều đến vị trí,
vai trò của người cán bộ trong tình hình mới, đồng thời nêu lên thực trạng đội
ngũ cán bộ của Đảng ở các cấp và đưa ra những giải pháp thiết thực để xây
tổng kết sự lãnh đạo của Đảng bộ huyện Ba Vì về công tác xây dựng đội ngũ
cán bộ cấp huyện, góp phần bổ sung thêm cơ sở thực tiễn, làm tài liệu tham
khảo phục vụ công tác lãnh đạo và xây dựng đội ngũ cán bộ huyện trong thời
gian tới.
3. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu
* Mục đích: Làm rõ quá trình Đảng bộ huyện Ba Vì vận dụng đường
lối, chủ trương, sự chỉ đạo của Đảng, của Tỉnh ủy Hà Tây vào xây dựng đội
ngũ cán bộ cấp huyện từ năm 1996 đến năm 2008; từ đó rút ra những kinh
nghiệm nhằm xây dựng và nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ cấp huyện ở
Ba Vì phù hợp với nhiệm vụ của địa phương trong giai đoạn hiện nay.
* Nhiệm vụ:
Để đạt được mục đích trên, luận văn cần giải quyết các nhiệm vụ sau:
Làm rõ yêu cầu khách quan xây dựng đội ngũ cán bộ cấp huyện của
Đảng bộ huyện Ba Vì trong những năm 1996 - 2008.
Phân tích, làm rõ quá trình Đảng bộ huyện Ba Vì vận dụng đường lối,
chủ trương của Đảng, của Tỉnh ủy Hà Tây để lãnh đạo xây dựng đội ngũ cán
bộ cấp huyện từ năm 1996 đến năm 2008.
7
Đánh giá thành tựu, hạn chế, nguyên nhân và rút ra một số kinh nghiệm
nhằm xây dựng đội ngũ cán bộ cấp huyện ở Ba Vì .
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
*Đối tượng nghiên cứu: Nghiên cứu chủ trương và sự chỉ đạo của
Đảng bộ huyện Ba Vì về xây dựng đội ngũ cán bộ cấp huyện từ năm 1996 đến
năm 2008.
* Phạm vi nghiên cứu:
Thời gian: từ năm 1996 đến năm 2008 (Vì từ 1/8/2008 toàn bộ tỉnh Hà
Tây sát nhập vào thành phố Hà Nội).
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, phụ lục,
luận văn gồm 3 chương, 6 tiết.
Chương 1: Sự lãnh đạo của Đảng bộ huyện Ba Vì đối với công tác xây
dựng đội ngũ cán bộ cấp huyện ở Ba Vì từ năm 1996 đến năm 2000
Chương 2: Quá trình lãnh đạo xây dựng đội ngũ cán bộ cấp huyện của
Đảng bộ huyện Ba Vì từ năm 2001 đến năm 2008
Chương 3: Nhận xét chung và một số kinh nghiệm chủ yếu của Đảng
bộ huyện Ba Vì
9
Chương 1
SỰ LÃNH ĐẠO CỦA ĐẢNG BỘ HUYỆN BA VÌ ĐỐI VỚI CÔNG TÁC
XÂY DỰNG ĐỘI NGŨ CÁN BỘ CẤP HUYỆN
TỪ NĂM 1996 ĐẾN NĂM 2000
1.1. Huyện Ba Vì và tình hình đội ngũ cán bộ của huyện trước năm 1996
1.1.1. Vài nét về huyện Ba Vì
Ba Vì (trong thời gian nghiên cứu của đề tài thuộc tỉnh Hà Tây) là
huyện thuộc vùng bán sơn địa, nằm về phía Tây Bắc thủ đô Hà Nội. Với tổng
diện tích 424km2, dân số hơn 265 nghìn người (bao gồm 3 dân tộc Kinh,
Mường, Dao), toàn huyện có 31 xã, thị trấn, trong đó có 7 xã miền núi, một
xã giữa sông Hồng. Phía Đông giáp thị xã Sơn Tây, phía Nam giáp tỉnh Hòa
Bình, phía Tây giáp tỉnh Phú Thọ và phía Bắc giáp tỉnh Vĩnh Phúc. Thực hiện
Nghị quyết 15 của Quốc Hội khóa XII, Ba Vì tái nhập Thủ đô Hà Nội từ
tháng 8 năm 2008.
Địa hình của huyện thấp dần từ phía Tây Nam sang phía Đông Bắc, chia
thành 3 tiểu vùng khác nhau: Vùng núi, vùng đồi, vùng đồng bằng ven sông Hồng.
Về khí hậu, Ba Vì nằm trong vùng đồng bằng sông Hồng chịu ảnh hưởng
khí hậu nhiệt đới gió mùa.
Huyện Ba Vì có một hệ thống đường giao thông thuỷ bộ rất thuận lợi nối
liền các tỉnh Tây Bắc, Việt Bắc với toàn bộ đồng bằng Bắc Bộ, trong đó có
thủ đô Hà Nội - Trung tâm chính trị, kinh tế, văn hoá của cả nước. Từ trung
tâm huyện lỵ theo quốc lộ 32 đi Sơn Tây về Hà Nội và các tỉnh đồng bằng
Bắc bộ hoặc ngược Trung Hà đi Tây Bắc, Việt Bắc. Đồng thời cũng từ trung
tâm huyện đi theo sông Hồng ngược lên Trung Hà, theo sông Lô, sông Thao
lên vùng Việt Bắc, hoặc theo sông Đà đi Hoà Bình - cửa ngõ Tây Bắc của Tổ
11
quốc. Ngoài ra trên địa bàn huyện còn có một số tuyến đường Tỉnh lộ như
411A, B, C; 412, 413, 414, 415 và các đường liên huyện, đê sông Hồng, đê
sông Đà... nối liền giữa các vùng, miền, các tỉnh, huyện bạn. Với những lợi
thế về giao thông đường thủy, đường bộ, Ba Vì có điều kiện khá thuận lợi
trong giao lưu kinh tế, văn hóa với bên ngoài, tiếp thu những tiến bộ khoa học
- kỹ thuật để phát triển kinh tế với cơ cấu : nông nghiệp, dịch vụ, du lịch,
công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp.
Núi Ba Vì là cái nôi của huyền thoại Sơn Tinh, Thuỷ Tinh - Thần Tản
Viên và thần Sông nước (sông Đà). Xung quanh núi Ba Vì có nhiều nơi thờ
Sơn Tinh - vị thánh đứng đầu trong Tứ bất tử mà điển hình là: Đền Thượng,
Đền Trung, Đền Hạ, Đình Tây Đằng (Bắc Cung), Đền Và - Sơn Tây (Đông
Cung), Đền Bố - Tản Lĩnh (Nam Cung)...
Đến năm 2008 huyện Ba Vì có 63 di tích lịch sử - văn hoá được xếp
hạng, được phân bố đều khắp ở cả 3 vùng trong huyện. Những di tích lịch sử
này phần lớn có kiến trúc độc đáo gắn liền với tên tuổi các vị anh hùng của dân
tộc, danh nhân văn hoá. Nhiều di tích có tầm cỡ quốc gia như: Đình Tây Đằng,
Đình Chu Quyến là 2 di tích được xếp hạng đặc biệt quan trọng cấp quốc gia,
Đình Thụy Phiêu được các nhà khoa học đánh giá là một trong những ngôi
đình cổ nhất Việt Nam có niên đại 1531- thời Nhà Mạc, Đền thờ Chủ tịch Hồ
địa phương. Đến nay đã có 95 trang trại đạt tiêu chuẩn, 116 mô hình chuyển
đổi quy mô nhỏ mang lại hiệu quả kinh tế cao. Các dự án chăn nuôi bò thịt, bò
sữa, thủy sản đã phát huy được hiệu quả. Nhiều sản phẩm nông nghiệp như:
sữa, thịt, chè, rau trở thành sản phẩm mang lại hiệu quả kinh tế cao cho người
lao động.
13
Công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, xây dựng: thu hút lớn sự đầu tư của
các doanh nghiệp, góp phần giải quyết việc làm cho hàng nghìn lao động. Đã
có 14 làng nghề được thành phố công nhận.
Các ngành dịch vụ ngân hàng, bưu chính, viễn thông, điện lực tiếp tục
phát triển mạnh. Đã có 13 tổng đài cố định, có 13 điểm cung cấp internet,
bình quân 10 máy điện thoại/100 dân.
Ngành du lịch được sự quan tâm đầu tư, có 15 doanh nghiệp hoạt động
trên địa bàn với tổng diện tích đất dành cho du lịch trên 1.300 ha, thu hút 1.5
triệu lượt khách. Đầu tư cơ sở hạ tầng và sản phẩm du lịch đạt 300 tỷ đồng.
Huyện thực hiện tốt chế độ chính sách đối với người có công và người
hưởng chính sách xã hội, giải quyết cơ bản các trường hợp tồn đọng sau chiến
tranh. Hàng năm tạo việc làm mới cho 8.200 lao động. Tỷ lệ hộ nghèo giảm
bình quân hàng năm là 3,3%, không có hộ đói. Các chương trình hành động vì
sự tiến bộ của phụ nữ, bình đẳng giới và trẻ em được quan tâm của toàn xã
hội; các quyền phụ nữ và trẻ em được đảm bảo. Thực hiện tốt chương trình
quốc gia về phòng tện nạn xã hội. Công tác bảo hiểm xã hội luôn hoàn thành
tốt chỉ tiêu, đảm bảo quyền lợi của người tham gia bảo hiểm xã hội.
Huyện thực hiện tốt công tác phòng chống dịch bệnh, khám chữa bệnh
cho nhân dân, không có dịch bệnh lớn bùng phát trên địa bàn, công suất sử
dụng giường bệnh đạt 120%. Hoàn thành các chương trình mục tiêu y tế quốc
gia, mạng lưới y tế cơ sở được tăng cường đầu tư và củng cố.
khi Người qua đời luôn luôn quan tâm đến vấn đề cán bộ và công tác cán bộ.
Theo Luật cán bộ, công chức năm 2008, Điều 4 xác định những đối
tượng được công nhận là cán bộ, công chức như sau:
1. Cán bộ là công dân Việt Nam, được bầu cử, phê chuẩn, bổ nhiệm giữ
chức vụ, chức danh theo nhiệm kỳ trong cơ quan Đảng Cộng sản Việt Nam,
Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội ở trung ương, ở tỉnh, thành phố trực
15
thuộc trung ương (sau đây gọi chung là cấp tỉnh), ở huyện, quận, thị xã, thành
phố thuộc tỉnh (sau đây gọi chung là cấp huyện), trong biên chế và hưởng
lương từ ngân sách nhà nước.
2. Công chức là công dân Việt Nam, được tuyển dụng, bổ nhiệm vào
ngạch, chức vụ, chức danh trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà
nước, tổ chức chính trị - xã hội ở trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện; trong cơ
quan, đơn vị thuộc Quân đội nhân dân mà không phải là sĩ quan, quân nhân
chuyên nghiệp, công nhân quốc phòng; trong cơ quan, đơn vị thuộc Công an
nhân dân mà không phải là sĩ quan, hạ sĩ quan chuyên nghiệp và trong bộ máy
lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập của Đảng Cộng sản Việt
Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội (sau đây gọi chung là đơn vị sự
nghiệp công lập), trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước; đối
với công chức trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập
thì lương được bảo đảm từ quỹ lương của đơn vị sự nghiệp công lập theo quy
định của pháp luật.
3. Cán bộ xã, phường, thị trấn (sau đây gọi chung là cấp xã) là công dân
Việt Nam, được bầu cử giữ chức vụ theo nhiệm kỳ trong Thường trực Hội
đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân, Bí thư, Phó Bí thư Đảng ủy, người đứng
đầu tổ chức chính trị - xã hội; công chức cấp xã là công dân Việt Nam được
tuyển dụng giữ một chức danh chuyên môn, nghiệp vụ thuộc Ủy ban nhân dân
mục tiêu chiến lược phát triển kinh tế - xã hội ở địa phương trong thời kỳ mới.
Cán bộ cấp huyện là người trực tiếp tiếp thu chủ trương, chính sách của
Đảng, Nghị quyết của Tỉnh đưa xuống và triển khai thực hiện tại cấp cơ sở.
Họ cũng là người tiếp thu, báo cáo ý kiến phản hồi của cấp cơ sở lên cấp trên.
Cán bộ cấp huyện là kênh thông tin quan trọng để nối liền Trung ương, tỉnh
và xã, góp phần cho xã hội vận hành một cách nhịp nhàng và thông suốt. Nếu
cán bộ cấp huyện tuyên truyền, giải thích cho cấp cơ sở biết và hiểu một cách
chính xác sẽ giúp cho việc tiếp thu và triển khai thực hiện ở cấp cơ sở có hiệu
17
quả. Ngược lại, nếu cán bộ cấp huyện truyền đạt không đầy đủ hoặc thiếu
chính xác, không rõ ràng thì không những làm cấp cơ sở không nắm được mà
còn hiểu một cách sai lệch về quan điểm, đường lối của Đảng và pháp luật
của Nhà nước.
Cán bộ cấp huyện là người trực tiếp kiểm tra, giám sát hoạt động của
cấp cơ sở trong việc thực hiện chủ trương, đường lối cuả Đảng và pháp luật
của Nhà nước. Công việc kiểm tra đó giúp cho cấp cơ sở giải quyết tốt công
việc theo đúng yêu cầu đặt ra. Việc kiểm tra, giám sát đó giúp cán bộ gần dân
hơn, hiểu được những khó khăn, vướng mắc của nhân dân trong công việc
cũng như trong đời sống. Từ đó có những kiến nghị lên cấp tỉnh và Nhà nước
để có những chính sách phù hợp, giúp nhân dân phát triển kinh tế - xã hội ở
địa phương mình.
Để thực hiện có hiệu quả chiến lược phát triển kinh tế - xã hội trên địa
bàn huyện trong giai đoạn đẩy mạnh CNH, HĐH hiện nay và trong thời gian
tới, đòi hỏi huyện Ba Vì phải có một đội ngũ cán bộ cấp huyện vừa hồng vừa
chuyên.
Trong công tác xây dựng đội ngũ cán bộ, Đảng bộ huyện Ba Vì đã thực
hiện tốt nguyên tắc Đảng thống nhất lãnh đạo và quản lý công tác cán bộ theo
vệ lợi ích của Đảng, bảo vệ lợi ích giai cấp và lợi ích dân tộc, bảo vệ chế độ
XHCN. Đội ngũ cán bộ được bố trí tương đối hợp lý ở các cấp, các ngành và
đã có nhiều cố gắng nâng cao trình độ chuyên môn, lý luận chính trị, năng lực
và hiệu quả công tác. Vì vậy đã có những đóng góp tích cực vào công cuộc
đổi mới của đất nước nói chung, của huyện nói riêng.
19
Bảng 1.1: Phân tích trình độ của đội ngũ cán bộ cấp huyện Ba Vì năm 1995
(Đơn vị: người)
Cán bộ chính
Cán bộ khối
Cán bộ khối
quyền
Đảng
Đoàn thể
41
23
38
5
10
9
11
Tiểu học
0
0
0
Trung học cơ sở
8
4
7
Trung học phổ thông
32
19
31
Thạc sĩ
1
0
0
Chức danh cán bộ
Các chỉ tiêu
Tổng số
+ Phụ nữ
Phân tích tổng số
theo:Tuổi đời
1. Trình độ giáo dục
phổ thông
2. Trình độ chuyên
môn kỹ thuật
Công nhân kĩ thuật,
công nhân nghiệp vụ
20
3. Trình độ lý luận
chính trị
10
Quản lý nhà nước
24
12
22
Kiến thức quốc phòng
31
13
29
Trình độ A
12
9
15
Trình độ B
4
21