LUẬN văn THẠC sĩ xây DỰNG đội NGŨ cán bộ CÔNG CHỨC NGÀNH THUẾ TỈNH bạc LIÊU HIỆN NAY - Pdf 40

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU
Chương 1

Trang
4
NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ LÝ LUẬN, THỰC
12
TIỄN XÂY DỰNG ĐỘI NGŨ CÁN BỘ, CÔNG
CHỨC NGÀNH THUẾ TỈNH BẠC LIÊU

12
1.1. Đội ngũ cán bộ, công chức và xây dựng đội ngũ cán
bộ, công chức ngành thuế của tỉnh Bạc Liêu
37
1.2. Thực trạng và kinh nghiệm xây dựng đội ngũ cán
bộ, công chức ngành thuế tỉnh Bạc Liêu
Chương 2

YÊU CẦU VÀ GIẢI PHÁP CƠ BẢN XÂY DỰNG

58

ĐỘI NGŨ CÁN BỘ, CÔNG CHỨC NGÀNH THUẾ
TỈNH BẠC LIÊU HIỆN NAY

52
2.1. Tình hình, nhiệm vụ và yêu cầu xây dựng đội ngũ
cán bộ, công chức ngành thuế tỉnh Bạc Liêu hiện
nay

DBHB
ĐCSVN
TCCSĐ
TSVM
TPB,PB
VMTD
XHCN

MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Cán bộ và công tác cán bộ là những vấn đề hết sức hệ trọng. Sinh thời,


Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định: “Cán bộ là cái gốc của mọi công việc”,
“Muôn việc thành công hay thất bại đều do cán bộ tốt hay kém” [5, tr. 269]. Vì
thế, trong quá trình lãnh đạo cách mạng, Đảng ta đặc biệt coi trọng đến cán bộ
và công tác cán bộ. Hội nghị lần thứ 3 Ban Chấp hành Trung ương khoá VIII về
Chiến lược cán bộ thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước chỉ
rõ: Cán bộ là nhân tố quyết định sự thành bại của cách mạng, gắn liền với vận
mệnh của Đảng, của đất nước và chế độ, là khâu then chốt trong công tác xây
dựng Đảng.
Tỉnh Bạc Liêu có đặc thù là một tỉnh không lớn, mật độ dân số trung bình
là 338 người/Km2, địa hình tương đối bằng phẳng, diện tích chia làm hai vùng rõ
rệt, vùng Bắc quốc lộ 1A thích nghi cho trồng lúa, màu và cây nông nghiệp
khác; vùng Nam quốc lộ 1A là vùng đất mặn ven biển, thích nghi, phù hợp cho
nuôi trồng thuỷ sản, làm muối và phát triển rừng ngập mặn. Những năm qua tình
hình chính trị, an ninh trật tự xã hội tương đối ổn định, kinh tế có sự phát triển,
song nhìn chung tình hình kinh tế, xã hội của tỉnh Bạc Liêu còn nhiều khó khăn,
chậm phát triển so với các tỉnh trong khu vực. Thực trạng trên do nhiều nguyên
nhân, trong đó có nguyên nhân về cán bộ và công tác cán bộ.

* Những công trình nghiên cứu về cán bộ và công tác cán bộ của
Đảng, Nhà nước, quân đội có liên quan đến đề tài
Bùi Đình Phong, Tư tưởng Hồ Chí Minh về cán bộ và công tác cán bộ,
Nxb Lao động, Hà Nội, 2006; Thang văn Phúc, Đạo đức, phong cách, lề lối làm
việc của cán bộ, công chức theo tư tưởng Hồ Chí Minh, Nxb CTQG, Hà Nội,
1998; Lê Hữu Nghĩa, Tư tưởng Hồ Chí Minh với việc nâng cao đạo đức của cán
bộ, đảng viên hiện nay, Tạp chí Cộng sản, Số 2/2006; Mạch Quang Thắng, Rèn
luyện nhân cách người cán bộ, quản lý theo tư tưởng Hồ Chí Minh, Tạp chí Quốc
phòng toàn dân, Số 4/2007; Ban Tư tưởng văn hoá Trung ương, Đẩy mạnh học
tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh, Nxb CTQG, Hà Nội, 2007.
Các công trình nghiên cứu trên đã nghiên cứu một cách cơ bản, hệ thống
tư tưởng Hồ Chí Minh về cán bộ, công tác cán bộ, tập trung làm rõ tư tưởng Hồ
Chí Minh về vị trí, vai trò của cán bộ, khẳng định công tác cán bộ là công việc
gốc của Đảng. Các tác giả đã đi sâu làm rõ tư tưởng Hồ Chí Minh về đánh giá,
đào tạo, bồi dưỡng, sử dụng và thực hiện chính sách cán bộ. Đặc biệt các tác giả
đã giành một phần rất cơ bản đề cập tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức cách
mạng của người cán bộ, đảng viên, các công trình đều khẳng định vị trí tầm
quan trọng giá trị đặc sắc của tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức cách mạng của
người cán bộ, đảng viên. Các công trình đã khẳng định giá trị tư tưởng Hồ Chí
Minh về cán bộ, công tác cán bộ đối với việc xây dựng đội ngũ cán bộ, đảng
viên hiện nay. Đánh giá thực trạng, chỉ ra những nguyên nhân của những hạn


chế, yếu kém trong công tác cán bộ, nhất là trong giáo dục, rèn luyện đạo đức
cách mạng cho cán bộ, công chức theo tư tưởng Hồ Chí Minh, xác định phương
hướng yêu cầu, đề xuất một số giải pháp xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức
theo tư tưởng Hồ Chí Minh.
Nguyễn Phú Trọng và Trần Xuân Sầm (Chủ biên), 2001, Luận cứ khoa
học cho việc nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ trong thời kỳ đẩy mạnh công
nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, Nxb CTQG - Sự thật, Hà Nội, 2001. Cuốn

sự, Hà Nội, 1996; Tô Xuân Sinh, Dự báo chất lượng đội ngũ cán bộ ở các đơn vị
cơ sở thuộc các binh đoàn chủ lực trong Quân đội nhân dân Việt Nam trong giai
đoạn 2000 - 2010, đề tài cấp cơ sở, Hà Nội, năm 2000; Phạm Ngọc Thuỵ, Xây
dựng đội ngũ cán bộ chủ trì cơ quan ở Trường Sĩ quan Lục quân 1 trong giai
đoạn hiện nay, Luận văn thạc sĩ chuyên ngành Xây dựng Đảng Cộng sản Việt
Nam, Hà Nội, 2004; Nguyễn Quang Phát, Quan điểm tư tưởng Hồ Chí Minh về
đức tài trong xây dựng đội ngũ cán bộ quân đội, Nxb QĐND, Hà Nội 2006.
Trong các công trình này, các tác giả đã dựa vào quan điểm của chủ nghĩa
Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm của Đảng về cán bộ và xây
dựng đội ngũ cán bộ. các đề tài nêu trên đã nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn
của công tác quản lý, nhận xét, đánh giá cán bộ. Các công trình đã đánh giá thực
trạng công tác cán bộ của một số cơ quan, đơn vị, làm rõ vai trò của công tác
cán bộ, khẳng định những yêu cầu khách quan của công tác cán bộ. Làm rõ
những tác động ảnh hưởng, qua đó khẳng định những vấn đề có tính nguyên tắc,
xác định rõ yêu cầu, giải pháp đổi mới, nâng cao chất lượng công tác cán bộ
trong tình hiện nay.
* Các công trình nghiên cứu về ngành thuế và xây dựng đội ngũ cán
bộ, công chức ngành thuế
Bộ Tài chính, Chức năng, nhiệm vụ, cơ cấu tổ chức của Tổng cục thuế, chi
cục thuế, Hà Nội, 2010; Lịch sử ngành thuế từ 1945 đến nay, Hà Nội, 2011; Cục
thuế tỉnh Bạc Liêu, chức năng, nhiệm vụ của cục thuế, chi cục thuế tỉnh Bạc Liêu;
Biên niên sự kiện cục thuế tỉnh Bạc Liêu, Bạc Liêu, 2007. Ngoài ra còn có một số
bài báo khoa học đăng trên các tạp chí chuyên ngành của cán bộ lãnh đạo, quản lý
ngành thuế và các nhà khoa học đề cập đến xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức
ngành thuế. Các công trình trên đã phân tích, luận giải khá sâu sắc chức năng,
nhiệm vụ, quyền hạn, cơ cấu tổ chức, biên chế đội ngũ cán bộ, công chức ngành
thuế; cơ chế lãnh đạo, chỉ đạo, quản lý ngành thuế Việt Nam nói chung và tỉnh
Bạc Liêu nói riêng. Các tác giả đã luận giải làm rõ vị trí, vai trò, chức trách,
nhiệm vụ, đặc điểm hoạt động, yêu cầu phẩm chất, năng lực của cán bộ, công
chức ngành thuế; đánh giá thực trạng, phân tích nguyên nhân của những ưu điểm,

chức ngành thuế của tỉnh Bạc Liêu.
- Đánh giá đúng thực trạng và rút ra kinh nghiệm xây dựng đội ngũ cán
bộ, công chức ngành thuế của tỉnh Bạc Liêu trong những năm qua.
- Đề xuất yêu cầu và những giải pháp cơ bản xây dựng đội ngũ cán bộ,
công chức ngành thuế của tỉnh Bạc Liêu giai đoạn hiện nay.


4. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu của đề tài
* Đối tượng nghiên cứu của đề tài là: Xây dựng đội ngũ cán bộ, công
chức ngành thuế của tỉnh Bạc Liêu giai đoạn hiện nay.
* Phạm vi nghiên cứu
Đề tài tập trung nghiên cứu thực trạng đội ngũ cán bộ, công chức ngành
thuế của tỉnh Bạc Liêu hiện nay và hoạt động lãnh đạo, chỉ đạo của cấp uỷ,
chính quyền các cấp trong xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức ngành thuế của
tỉnh Bạc Liêu. Các báo cáo sơ kết, tổng kết và các tư liệu, số liệu điều tra, khảo
sát phục vụ nghiên cứu chủ yếu từ 2010 đến nay.
5. Cơ sở lý luận, thực tiễn và phương pháp nghiên cứu
* Cơ sở lý luận
Hệ thống quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh;
đường lối, quan điểm và các nghị quyết, chỉ thị, quy định, quy chế của Đảng về
cán bộ, công chức và xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức trong thời kỳ đẩy
mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước.
* Cơ sở thực tiễn
Thực tiễn hoạt động của đội ngũ cán bộ, công chức ngành thuế tỉnh Bạc
Liêu; thực tế tình hình đội ngũ cán bộ, công chức tỉnh Bạc Liêu và hoạt động
lãnh đạo, chỉ đạo cấp uỷ, tổ chức đảng các cấp trong xây dựng đội ngũ cán bộ,
công chức ngành thuế của tỉnh Bạc Liêu; các báo cáo sơ kết, tổng kết về công
tác cán bộ, xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức của tỉnh uỷ Bạc Liêu, của cấp
uỷ, tổ chức đảng trong ngành thuế và các huyện uỷ, thành ủy thuộc đảng bộ tỉnh
Bạc Liêu. Các kết quả nghiên cứu, điều tra khảo sát thực tiễn của tác giả về xây

Bạc Liêu.
Cơ cấu tổ chức: Cục Thuế tỉnh Bạc Liêu hiện tại có Phòng Tổ chức cán
bộ; Phòng Hành chính quản trị - Tài vụ - Ấn chỉ; Phòng Tuyên truyền và hỗ trợ;
Phòng Thanh tra thuế; Phòng Kiểm tra thuế; Phòng Kiểm tra nội bộ; Phòng Kê
khai và kế toán thuế; Phòng Quản lý nợ và cưỡng chế nợ thuế; Phòng Quản lý
thuế thu nhập cá nhân; Phòng Tin học; Phòng Tổng hợp - Nghiệp vụ - Dự toán.
Chi cục thuế các huyện Vĩnh Lợi, Hoà Bình, Giá Rai, Đông Hải, Phước
Long, Hồng Dân và thành phố Bạc Liêu.
Chức năng của Cục thuế tỉnh:
Theo Quyết định số 108/QĐ-BTC ngày 14/01/2010 của Bộ trưởng Bộ Tài
chính Quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Cục
Thuế trực thuộc Tổng cục Thuế.
Cục Thuế tỉnh Bạc Liêu là tổ chức trực thuộc Tổng cục Thuế, có chức
năng tổ chức thực hiện công tác quản lý thuế, phí, lệ phí và các khoản thu khác
của ngân sách nhà nước thuộc phạm vi nhiệm vụ của ngành thuế trên địa bàn
tỉnh theo quy định của pháp luật. Cục Thuế tỉnh Bạc Liêu có tư cách pháp nhân,
con dấu riêng, được mở tài khoản tại Kho bạc Nhà nước theo quy định của pháp
luật. Cục Thuế tỉnh Bạc Liêu thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn, trách nhiệm theo
quy định của Luật Quản lý thuế, các luật thuế, các quy định pháp luật có liên
quan khác và các nhiệm vụ, quyền hạn cụ thể sau đây:
Nhiệm vụ của Cục Thuế tỉnh Bạc Liêu:
Tổ chức, chỉ đạo, hướng dẫn và triển khai thực hiện thống nhất các văn bản
quy phạm pháp luật về thuế, quy trình nghiệp vụ quản lý thuế trên địa bàn tỉnh,
thành phố. Phân tích, tổng hợp, đánh giá công tác quản lý thuế; tham mưu với cấp


uỷ, chính quyền địa phương về lập dự toán thu ngân sách Nhà nước, về công tác
quản lý thuế trên địa bàn; phối hợp chặt chẽ với các ngành, cơ quan, đơn vị liên
quan để thực hiện nhiệm vụ được giao. Tổ chức thực hiện nhiệm vụ quản lý thuế
đối với người nộp thuế thuộc phạm vi quản lý của Cục Thuế: đăng ký thuế, cấp


báo cáo khác phục vụ cho việc chỉ đạo, điều hành của cơ quan cấp trên, của Uỷ
ban nhân dân đồng cấp và các cơ quan có liên quan; tổng kết, đánh giá tình hình
và kết quả công tác của Cục Thuế. Kiến nghị với Bộ Tài chính - Tổng cục
trưởng Tổng cục Thuế những vấn đề vướng mắc cần sửa đổi, bổ sung các văn
bản quy phạm pháp luật về thuế, các quy định của Tổng cục Thuế về chuyên
môn nghiệp vụ và quản lý nội bộ; kịp thời báo cáo với Tổng cục trưởng Tổng
cục Thuế về những vướng mắc phát sinh, những vấn đề vượt quá thẩm quyền
giải quyết của Cục Thuế. Quyết định hoặc đề nghị cấp có thẩm quyền quyết định
miễn, giảm, hoàn thuế, gia hạn thời hạn khai thuế, gia hạn thời hạn nộp tiền
thuế, truy thu tiền thuế, xoá nợ tiền thuế, miễn xử phạt tiền thuế theo quy định
của pháp luật. Được yêu cầu người nộp thuế, các cơ quan Nhà nước, các tổ
chức, cá nhân có liên quan cung cấp kịp thời các thông tin cần thiết cho việc
quản lý thu thuế; đề nghị cơ quan có thẩm quyền xử lý các tổ chức, cá nhân
không thực hiện trách nhiệm trong việc phối hợp với cơ quan thuế để thu thuế
vào ngân sách Nhà nước. Được ấn định thuế, thực hiện các biện pháp cưỡng chế
thi hành quyết định hành chính thuế theo quy định của pháp luật; thông báo trên
các phương tiện thông tin đại chúng đối với người nộp thuế vi phạm pháp luật
thuế. Bồi thường thiệt hại cho người nộp thuế; giữ bí mật thông tin của người
nộp thuế; xác nhận việc thực hiện nghĩa vụ thuế của người nộp thuế khi có đề
nghị theo quy định của pháp luật thuộc phạm vi quản lý của Cục Thuế. Giám
định để xác định số thuế phải nộp của người nộp thuế theo yêu cầu của cơ quan
nhà nước có thẩm quyền. Tổ chức tiếp nhận và triển khai ứng dụng tiến bộ khoa
học, công nghệ thông tin và phương pháp quản lý hiện đại vào các hoạt động
của Cục Thuế.
Quản lý bộ máy, biên chế, công chức, viên chức, lao động và tổ chức đào
tạo, bồi dưỡng đội ngũ công chức, viên chức của Cục Thuế theo quy định của
Nhà nước và của ngành thuế. Quản lý, lưu giữ hồ sơ, tài liệu, ấn chỉ thuế và kinh
phí, tài sản được giao theo quy định của pháp luật. Thực hiện các nhiệm vụ khác
do Tổng cục trưởng Tổng cục Thuế giao.

trên địa bàn; Thanh tra, kiểm tra, giám sát việc kê khai thuế, hoàn thuế, miễn
thuế, giảm thuế, nộp thuế, quyết toán thuế và chấp hành chính sách, pháp luật
thuế đối với người nộp thuế và các tổ chức, cá nhân được uỷ nhiệm thu thuế
theo phân cấp và thẩm quyền quản lý của Chi cục trưởng Chi cục Thuế; Quyết
định hoặc đề nghị cấp có thẩm quyền quyết định miễn, giảm, hoàn thuế, gia hạn
thời hạn khai thuế, gia hạn thời hạn nộp tiền thuế, truy thu tiền thuế, xoá nợ tiền
thuế, miễn xử phạt tiền thuế theo quy định của pháp luật; Được quyền yêu cầu
người nộp thuế, các cơ quan Nhà nước, các tổ chức, cá nhân có liên quan cung
cấp kịp thời các thông tin cần thiết phục vụ cho công tác quản lý thu thuế; đề


nghị cơ quan có thẩm quyền xử lý các tổ chức, cá nhân không thực hiện trách
nhiệm trong việc phối hợp với cơ quan thuế để thực hiện nhiệm vụ thu ngân
sách Nhà nước; Được quyền ấn định thuế, thực hiện các biện pháp cưỡng chế thi
hành quyết định hành chính thuế theo quy định của pháp luật; thông báo trên các
phương tiện thông tin đại chúng về hành vi vi phạm pháp luật thuế của người
nộp thuế; Bồi thường thiệt hại cho người nộp thuế do lỗi của cơ quan thuế, theo
quy định của pháp luật; giữ bí mật thông tin của người nộp thuế; xác nhận việc
thực hiện nghĩa vụ thuế của người nộp thuế theo quy định của pháp luật; Tổ
chức thực hiện thống kê, kế toán thuế, quản lý biên lai, ấn chỉ thuế; lập báo cáo
về tình hình kết quả thu thuế và báo cáo khác phục vụ cho việc chỉ đạo, điều
hành của cơ quan cấp trên, của Uỷ ban nhân dân đồng cấp và các cơ quan có
liên quan; tổng kết, đánh giá tình hình và kết quả công tác của Chi cục Thuế. Tổ
chức thực hiện kiểm tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo về thuế và khiếu nại, tố cáo
liên quan đến việc thi hành công vụ của công chức, viên chức thuế thuộc thẩm
quyền quản lý của Chi cục trưởng Chi cục Thuế theo quy định của pháp luật. Xử
lý vi phạm hành chính về thuế, lập hồ sơ đề nghị cơ quan có thẩm quyền khởi tố
các tổ chức, cá nhân vi phạm pháp luật thuế theo quy định của Luật quản lý thuế
và pháp luật khác có liên quan. Giám định để xác định số thuế phải nộp của
người nộp thuế theo yêu cầu của cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Thực hiện

thuộc tỉnh (sau đây gọi chung là cấp huyện), trong biên chế và hưởng lương từ
ngân sách nhà nước.
Công chức là công dân Việt Nam, được tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch,
chức vụ, chức danh trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ
chức chính trị - xã hội ở Trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện; trong cơ quan, đơn vị
thuộc Quân đội nhân dân mà không phải là sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp,
công nhân quốc phòng; trong cơ quan, đơn vị thuộc Công an nhân dân mà không
phải là sĩ quan, hạ sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp và trong bộ máy lãnh đạo,
quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước,
tổ chức chính trị - xã hội, trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước;
đối với công chức trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập
thì lương được bảo đảm từ quỹ lương của đơn vị sự nghiệp công lập theo quy
định của pháp luật.
Cán bộ ngành thuế tỉnh Bạc Liêu là công dân Việt Nam, được bổ nhiệm
chức vụ cục trưởng, chi cục trưởng, trưởng phòng, phó phòng, đội trưởng, đội
phó về chuyên môn, nghiệp vụ.
Công chức ngành thuế tỉnh Bạc Liêu là công dân Việt Nam được tuyển
dụng giữ một chức danh chuyên môn, nghiệp vụ, trợ lý hoặc nhân viên chuyên
môn thuộc ngành thuế tỉnh Bạc Liêu.


Từ điển tiếng Việt giải thích thuật ngữ đội ngũ có các nghĩa: 1. Khối đông
người được tập hợp và tổ chức thành lực lượng chiến đấu. Các đơn vị đã chỉnh tề
đội ngũ. 2. Tập hợp số đông người cùng chức năng hoặc nghề nghiệp thành một
lực lượng. Đội ngũ những người viết văn trẻ. Đội ngũ nhà giáo [51, tr. 328]. Như
vậy đội ngũ không phải là một người mà bao gồm nhiều người được tập hợp lại
và tổ chức lại thành một lực lượng để hoạt động theo những mục đích, nhiệm vụ
nhất định. Những thành viên của đội ngũ phải là những người có cùng chức
năng, nghề nghiệp hoạt động. Nếu thiếu một trong hai dấu hiệu đó thì không
được gọi là đội ngũ. Để đáp ứng nhu cầu hoạt động ở các lĩnh vực nào đó của

ngũ cán bộ, công chức ngành thuế tỉnh Bạc Liêu.
Chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức ngành thuế tỉnh Bạc Liêu được thể
hiện trước hết ở phẩm chất, năng lực của từng người. Đó phẩm chất chính trị của
người cán bộ, công chức thể hiện ở niềm tin, lý tưởng chính trị, nghề nghiệp;
phẩm chất đạo đức cách mạng, nghề nghiệp thể hiện ở chí hướng và lòng mong
muốn, thái độ tích cực đối với hoạt động của ngành thuế. Năng lực của cán bộ,
công chức ngành thuế tỉnh Bạc Liêu thể hiện ở việc làm chủ kiến thức, các năng
lực tổ chức, kỹ năng giao tiếp trong quá trình thực thi chức trách, nhiệm vụ. Tuy
nhiên chất lượng của đội ngũ cán bộ, công chức ngành thuế tỉnh Bạc Liêu không
chỉ là sự cộng lại thuần tuý các phẩm chất cá nhân của mỗi người mà là tổng hoà
của các phẩm chất ấy thể hiện ở những đặc trưng của một tập thể mạnh. Đó là
bầu không khí chính trị - tinh thần, sự đoàn kết tương trợ, giúp đỡ lẫn nhau trong
hoạt động; ở việc xây dựng tập thể chi cục, tổ thuế vững mạnh về chính trị, tư
tưởng, tổ chức....
Cơ cấu đội ngũ cán bộ, công chức ngành thuế tỉnh Bạc Liêu bao gồm cơ cấu
về độ tuổi, thâm niên công tác, cơ cấu chuyên ngành công tác. Nếu trong đội ngũ cán
bộ, công chức ngành thuế tỉnh Bạc Liêu mà không bảo đảm sự kế thừa chuyển tiếp
giữa các thế hệ thì sẽ dẫn đến sự hẫng hụt. Bởi vì, tuổi phục vụ của cán bộ, công
chức theo Luật cán bộ, công chức. Vả lại do nhiều nguyên nhân khác nhau mà trong
đội ngũ cán bộ, công chức ngành thuế tỉnh Bạc Liêu luôn có sự biến đổi. Do đó cần
phải bảo đảm cơ cấu về độ tuổi và thâm niên công tác để bảo đảm sự phát triển liên
tục, vững chắc của đội ngũ. Trong ngành thuế lại có nhiều bộ phận chuyên môn theo
các mặt, các nội dung hoạt động của ngành thuế, do đó cần có một cơ cấu hợp lý về
cán bộ, công chức ngành thuế tỉnh Bạc Liêu ở các mặt, nội dung ấy. Nếu không có
cơ cấu hợp lý, sẽ dẫn đến tình trạng một cán bộ, công chức phải kiêm nhiệm nhiều
công việc thuộc chức năng, nhiệm vụ của bộ phận khác, hoặc trong một bộ phận.
Tình trạng đó sẽ làm cho chất lượng công tác thấp, thậm chí dễ dẫn đến những tiêu
cực trong thực thi chức trách, nhiệm vụ. Đây cũng là một vấn đề đang nổi cộm ở
một số chi cục thuế các huyện ở tỉnh Bạc Liêu hiện nay.


điểm chi phối việc xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức ngành thuế tỉnh Bạc
Liêu. Với những người ở trình độ cử nhân thì chưa được trang bị kiến thức về lý
luận chính trị một cách có hệ thống. Những người từ cán bộ chính quyền, cán bộ
đảng chuyển vào ngành thuế thì ở họ lại thiếu kiến thức chuyên môn, nghiệp vụ


về thuế. Trình độ ngoại ngữ và tin học còn nhiều hạn chế. Vì vậy khi xây dựng đội
ngũ cán bộ, công chức ngành thuế tỉnh Bạc Liêu các chủ thể phải nắm vững trình
độ học vấn của mỗi người để xác định đúng những giải pháp khắc phục những
thiếu hụt của họ đáp ứng yêu cầu chức trách, nhiệm vụ.
Đội ngũ cán bộ, công chức ngành thuế tỉnh Bạc Liêu có sự khác biệt nhất
định về bản lĩnh chính trị, về kinh nghiệm và vốn sống, tuổi đời. Số cán bộ, công
chức đã qua các cương vị lãnh đạo, quản lý, được tu dưỡng, rèn luyện trong thực
tiễn hoạt động chính trị - xã hội, nên ở họ có khả năng tự ý thức được về bản
thân. Tuy nhiên, ở đội ngũ này dễ nảy sinh tư tưởng công thần, chủ quan. Nhìn
nhận cấp dưới đôi khi mang theo lề thói gia trưởng, độc đoán, dựa vào kinh
nghiệm cũ, thiếu phương pháp tiếp cận thế hệ.
Những cán bộ, công chức ở cấp cơ sở phần lớn trong số họ là những người
sinh và lớn lên sau năm 1975. Vì thế, họ chưa trải qua thử thách nhiều trong thực
tiễn chính trị - xã hội. Những đức tính của người cán bộ như: tính kỷ luật, tính tự
kiềm chế, khả năng làm chủ bản thân, ý thức tự phê bình và phê bình, kỹ năng đánh
giá hành vi, mặt mạnh, mặt yếu của bản thân còn nhiều mặt hạn chế. Trong cách tư
duy thiếu biện chứng, mềm dẻo. Trong giao tiếp, quan hệ với con người, thiếu tế
nhị hoặc theo cảm tính, che giấu khuyết điểm cho nhau.
Nắm vững đặc điểm này, việc xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức phải
đánh giá đúng những điểm mạnh, những thiếu hụt về kiến thức, kỹ năng, kinh
nghiệm của từng người để có sự cá biệt hoá về nội dung, hình thức, phương
pháp xây dựng.
Hai là, đội ngũ cán bộ, công chức ngành thuế tỉnh Bạc Liêu đa dạng, phức
tạp về thành phần xuất thân, nơi cư trú. Nhìn chung thành phần xuất thân của

thuế cấp trên quan tâm tạo điều kiện thuận lợi, nhưng cũng như đội ngũ cán bộ,
công chức khác của tỉnh điều kiện làm việc và đời sống của cán bộ, công chức
ngành thuế tỉnh Bạc Liêu vẫn ở trong tình trạng khó khăn, thiếu thốn. Việc bảo
đảm các tài liệu, thông tin phục vụ cho công tác, nhất là ở cấp huyện còn rất hạn
chế. Điều kiện về nhà ở, kinh tế, đời sống hậu phương gia đình của không ít cán
bộ, công chức ngành thuế tỉnh Bạc Liêu còn nhiều khó khăn là một trong những
nguyên nhân gây ra những tiêu cực.
Chính sự đa dạng về loại hình, môi trường, điều kiện công tác, nhiệm vụ
chính trị của từng bộ phận quy định công tác xây dựng đội ngũ cán bộ, công
chức ngành thuế tỉnh Bạc Liêu phải hết sức cụ thể. Xây dựng đội ngũ cán bộ,
công chức ở chi cục thuế khác với xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức ở cục
thuế về phạm vi, nội dung. Vì thế, khi xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức
ngành thuế tỉnh Bạc Liêu một mặt phải nắm vững quan điểm, nguyên tắc chung
phải đặc biệt chú ý đến hoàn cảnh, điều kiện, công việc của tổ chức, lực lượng,


coi đây là một căn cứ, cơ sở để xác định quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng, bố trí,
sử dụng, đánh giá phẩm chất, năng lực phong cách của cán bộ, công chức,
không thể dập khuôn chung chung.
* Vai trò của đội ngũ cán bộ, công chức ngành thuế tỉnh Bạc Liêu
Đội ngũ cán bộ, công thức ngành thuế tỉnh Bạc Liêu có vị trí, vai trò đặc
biệt trong thực hiện nhiệm vụ chính trị của ngành thuế và xây dựng ngành vững
mạnh toàn diện.
Một là, đội ngũ cán bộ, công chức ngành thuế tỉnh Bạc Liêu là lực
lượng nòng cốt, trực tiếp, giữ vai trò quyết định đến thực hiện kết quả chức
năng, nhiệm vụ của ngành thuế; góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản
lý Nhà nước về thuế. Vấn đề này, xuất phát từ mối quan hệ biện chứng giữa
cá nhân với tổ chức. Đội ngũ cán bộ, công chức ngành thuế tỉnh Bạc Liêu vừa
là người trực tiếp thực hiện chức năng, nhiệm vụ của ngành theo chức trách,
nhiệm vụ của mỗi người, vừa là người chỉ đạo, hướng dẫn các hoạt động của

bộ, công chức ngành thuế tỉnh Bạc Liêu. Thường xuyên bồi dưỡng, rút kinh
nghiệm kịp thời trong quá trình tổ chức thực hiện chức trách, nhiệm vụ. Tạo mọi
điều kiện thuận lợi để mỗi cán bộ, công chức ngành thuế tỉnh Bạc Liêu có cơ hội
tốt nhất trong việc rèn luyện, tự học tập, tự tích luỹ kinh nghiệm để không ngừng
phát triển năng lực và phát huy vai trò của mình đối với xây dựng chi cục, đội, tổ,
phòng thành tập thể vững mạnh.
Ba là, đội ngũ cán bộ, công chức ngành thuế tỉnh Bạc Liêu, trực tiếp góp
phần củng cố, tăng cường mối quan hệ của Đảng, Nhà nước với nhân dân ở địa
phương. Chi cục Thuế ở các huyện, thành phố trực thuộc Cục Thuế tỉnh Bạc
Liêu có chức năng tổ chức thực hiện công tác quản lý thuế, phí, lệ phí, các
khoản thu khác của ngân sách nhà nước thuộc phạm vi nhiệm vụ của ngành thuế
trên địa bàn theo quy định của pháp luật. Cán bộ, công chức ngành thuế tỉnh,
nhất là những cán bộ, công chức ở các chi cục thuế huyện, thành phố Bạc Liêu,
các đội, tổ thuế hàng ngày trực tiếp tiếp xúc với nhân dân, các đối tượng nộp
thuế, phí và lệ phí. Ý thức pháp luật, thái độ giao tiếp ứng xử của họ khi thực thi
chức trách, nhiệm vụ có ảnh hưởng rất mạnh đến tình cảm niềm tin của các đối
tượng nộp thuế không chỉ đối với nhân dân và cả với những cá nhân, tổ chức
người nước ngoài đối với quan điểm của Đảng, pháp luật của Nhà nước về quản
lý thuế. Nhận thức, lòng tin của nhân dân và các đối tượng nộp thuế đối với
quan điểm của Đảng, pháp luật của Nhà nước thông qua ý thức, hành vi của cán
bộ, công chức ngành thuế khi thực thi chức trách, nhiệm vụ. Với ý nghĩa ấy, đội
ngũ cán bộ, công chức ngành thuế tỉnh Bạc Liêu, trực tiếp góp phần củng cố,
tăng cường mối quan hệ của Đảng, Nhà nước với nhân dân ở địa phương.


1.1.2. Một số vấn đề cơ bản về xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức
ngành thuế tỉnh Bạc Liêu
* Quan niệm xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức ngành thuế tỉnh Bạc Liêu
Để có quan niệm khoa học về xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức ngành
thuế tỉnh Bạc Liêu cần thống nhất nhận thức về khái niệm xây dựng nói chung.

ngũ cán bộ, công chức ngành thuế tỉnh Bạc Liêu có số lượng, cơ cấu phù hợp,
chất lượng cao; có phẩm chất chính trị, đạo đức, lối sống, trình độ học vấn,
năng lực, phong cách làm việc theo tiêu chuẩn cán bộ, công chức, đáp ứng yêu
cầu chức năng, nhiệm vụ của ngành thuế tỉnh Bạc Liêu hiện nay.
Mục đích nhằm xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức ngành thuế tỉnh Bạc
Liêu có số lượng đủ, có cơ cấu hợp lý và chất lượng ngày càng cao, bảo đảm
tiêu chuẩn cán bộ, công chức ngành thuế theo quy định của Đảng, Nhà nước,
đáp ứng yêu cầu chức năng, nhiệm vụ của ngành thuế tỉnh Bạc Liêu hiện nay.
Chủ thể xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức ngành thuế tỉnh Bạc Liêu, là
tỉnh uỷ, huyện uỷ, uỷ ban nhân dân tỉnh, uỷ ban nhân dân huyện (quận, thị xã,
thành phố), Sở Nội vụ tỉnh, phòng nội vụ các huyện và cấp uỷ, tổ chức đảng các
cấp trong ngành thuế.
Chủ thể xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức ngành thuế tỉnh Bạc Liêu
bao gồm chủ thể lãnh đạo, chỉ đạo và quản lý, điều hành tổ chức thực hiện. Mỗi
chủ thể có vị trí, vai trò, chức năng, nhiệm vụ cụ thể. Vì vậy, cần xác định rõ
ràng, cụ thể chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm pháp lý của từng tổ
chức, cơ quan, cá nhân theo Luật Cán bộ, công chức và quy chế công tác cán bộ
của Đảng. Xây dựng cơ chế lãnh đạo, tổ chức phối hợp khoa học, tránh sự chồng
chéo về chức năng, nhiệm vụ, hoặc buông lỏng, “bỏ trống” các nội dung của quá
trình xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức ngành thuế tỉnh Bạc Liêu.
Lực lượng tham gia xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức ngành thuế tỉnh
Bạc Liêu bao gồm: các cơ quan, ban ngành của tỉnh uỷ, huyện uỷ; cơ quan, ban
ngành của uỷ ban nhân dân tỉnh, uỷ ban nhân huyện; các trường đại học, cao
đẳng của quốc gia; trường chính trị của tỉnh Bạc Liêu; ban chấp hành các tổ
chức quần chúng (công đoàn, hội phụ nữ, đoàn thanh niên CSHCM...)
Đối tượng xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức ngành thuế tỉnh Bạc Liêu
bao gồm từng người và cả đội ngũ cán bộ, công chức ngành thuế tỉnh Bạc Liêu
(Cục thuế tỉnh và chi cục thuế của các huyện, quận, thành phố, thị xã).
Quy trình, nội dung, biện pháp xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức
ngành thuế tỉnh Bạc Liêu bao gồm:

Nội dung đào tạo, bồi dưỡng phải toàn diện, chuyên sâu, bám sát chức trách,
nhiệm vụ của cán bộ, viên chức để bồi dưỡng, thực hiện phương châm yếu gì,
thiếu gì bồi dưỡng nấy. Công tác đào tạo, bồi dưỡng phải thực hiện thành nề
nếp, chế độ, bằng nhiều hình thức, biện pháp con đường khác nhau, kết hợp chặt
chẽ giữa đào tạo cơ bản, chính quy ở các học viện, nhà trường với bồi dưỡng tại
chức và tự đào tạo, tự bồi dưỡng của mỗi người.
Quản lý, đánh giá, bố trí, sử dụng đội ngũ cán bộ, công chức ngành thuế
là nội dung rất quan trọng trong xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức. Quản lý



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status