Đặc trưng ngôn ngữ học xã hội của từ ngữ kiêng kị trong tiếng Việt - Pdf 41

Header Page 1 of 123.

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
-------------

BÙI THỊ NGỌC ANH

ĐẶC TRƯNG NGÔN NGỮ HỌC
XÃ HỘI CỦA TỪ NGỮ KIÊNG KỊ
TRONG TIẾNG VIỆT

LUẬN ÁN TIẾN SĨ NGỮ VĂN

HÀ NỘI 2014

Footer Page 1 of 123.


Header Page 2 of 123.

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
-------------

BÙI THỊ NGỌC ANH

ĐẶC TRƯNG NGÔN NGỮ HỌC
XÃ HỘI CỦA TỪ NGỮ KIÊNG KỊ
TRONG TIẾNG VIỆT
Chuyên ngành: Lý luận Ngôn ngữ

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN ..................................................................... 18
1.1. DẪN NHẬP .............................................................................................. 18
1.2. QUAN NIỆM VỀ TỪ NGỮ KIÊNG KỊ ..................................................... 19
1.2.1. Quan điểm của các tác giả ngoài nước về từ ngữ kiêng kị.................. 19
1.2.2. Quan điểm của các tác giả trong nước về từ ngữ kiêng kị.................. 25
1.2.3. Quan niệm của luận án về từ ngữ kiêng kị ......................................... 27
1.3. MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÍ THUYẾT NGÔN NGỮ HỌC XÃ HỘI LIÊN QUAN
CÁCH TIẾP CẬN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN ............................................................ 28
1.3.1. Vài nét thông tin chung về ngôn ngữ học xã hội ................................. 28
1.3.2. Phương pháp nghiên cứu của ngôn ngữ học xã hội ........................... 30
1.3.3. Biến ngôn ngữ và biến xã hội ............................................................. 32
1.4. NGHIÊN CỨU SỰ PHÁT TRIỂN NGÔN NGỮ CỦA TRẺ EM THEO
HƯỚNG NGÔN NGỮ HỌC XÃ HỘI........................................................................35
1.4.1. Về mục tiêu phát triển khả năng diễn đạt hiệu quả của trẻ ........ 36
1.4.2. Về vai trò của ngôn ngữ dùng để nói với trẻ em .......................... 38
1.4.3. Về vai trò phản hồi của những người chăm sóc trẻ em ................ 39
1.5. TIỂU KẾT................................................................................................. 40
CHƯƠNG 2: KHÁI QUÁT TÌNH HÌNH SỬ DỤNG TỪ NGỮ KIÊNG KỊ Ở
HOÀI THỊ....................................................................................................... 42
2.1. DẪN NHẬP .............................................................................................. 42
2.2. SỐ LƯỢNG, TẦN SỐ XUẤT HIỆN VÀ PHÂN LOẠI TỪ NGỮ KIÊNG
KỊ Ở HOÀI THỊ ............................................................................................... 44
2.2.1. Số lượng từ ngữ kiêng kị được sử dụng............................................... 44
2.2.2. Tần số xuất hiện từ ngữ kiêng kị.......................................................... 46
2.2.3. Phân loại từ ngữ kiêng kị ..................................................................... 48
2.3. SỰ PHỔ BIẾN CỦA TỪ NGỮ KIÊNG KỊ .............................................. 50

Footer Page 4 of 123.



TNKK............................................................................................................ 104
3.4. TIỂU KẾT............................................................................................... 108

Footer Page 5 of 123.


Header Page 6 of 123.

CHƯƠNG 4: ẢNH HƯỞNG CỦA TÌNH HUỐNG GIAO TIẾP ĐẾN SỰ SỬ
DỤNG TỪ NGỮ KIÊNG KỊ........................................................................ 110
4.1. DẪN NHẬP ............................................................................................ 110
4.2. MIÊU TẢ CHUNG VỀ SỰ SỬ DỤNG TỪ NGỮ KIÊNG KỊ TRONG CÁC
TÌNH HUỐNG GIAO TIẾP........................................................................... 111
4.3. SỰ SỬ DỤNG TỪ NGỮ KIÊNG KỊ TRONG TÌNH HUỐNG GIAO TIẾP
CÙNG GIỚI VÀ LẪN GIỚI .......................................................................... 115
4.3.1. Sự xuất hiện của TNKK trong tình huống giao tiếp cùng giới và lẫn
giới................................................................................................................. 115
4.3.2. Mức độ tăng cấp của các TNKK trong tình huống giao tiếp trẻ chơi
trong nhóm cùng giới và trẻ chơi trong nhóm lẫn giới............................... 120
4.4. SỰ SỬ DỤNG TỪ NGỮ KIÊNG KỊ TRONG TÌNH HUỐNG GIAO TIẾP
TRANG TRỌNG VÀ PHI TRANG TRỌNG................................................. 123
4.4.1. Sự xuất hiện của TNKK trong tình huống giao tiếp trang trọng và phi
trang trọng .................................................................................................... 123
4.4.2. Mức độ tăng cấp của các TNKK trong tình huống giao tiếp trang
trọng và phi trang trọng............................................................................... 134
4.5. SỰ SỬ DỤNG TỪ NGỮ KIÊNG KỊ TRONG TÌNH HUỐNG GIAO

TIẾP CÓ SỰ THAY ĐỔI QUAN HỆ VỊ THẾ GIỮA NGƯỜI NÓI VÀ
NGƯỜI NGHE.............................................................................................. 136
4.5.1. Sự xuất hiện của TNKK trong tình huống giao tiếp có sự thay đổi

Bảng 3.10. Giới của người lớn và TNKK trong sử dụng
Bảng 3.11. Giới của trẻ em và tỉ lệ sử dụng TNKK
Bảng 3.12. Tỉ lệ sử dụng TNKK của người lớn với bé trai và bé gái
Bảng 3.13. Phản ứng của người lớn khi nghe bé trai và bé gái sử dụng TNKK
Bảng 4.1. Tần số các TNKK xuất hiện trong các tình huống giao tiếp (theo tỉ lệ)
Bảng 4.2. Sự xuất hiện của các nhóm TNKK trong các tình huống giao tiếp
Bảng 4.3. Tỉ lệ sử dụng TNKK trong tình huống giao tiếp trẻ chơi trong nhóm
cùng giới - lẫn giới và các tình huống giao tiếp còn lại
Bảng 4.4. Tỉ lệ xuất hiện TNKK trong tình huống giao tiếp trẻ chơi trong nhóm
cùng giới và lẫn giới
Bảng 4.5. Mức độ tăng cấp của TNKK xuất hiện trong tình huống giao tiếp trẻ
chơi trong nhóm cùng giới và lẫn giới

Footer Page 7 of 123.


Header Page 8 of 123.

Bảng 4.6. TNKK của trẻ em xuất hiện trong tình huống giao tiếp trang trọng và
phi trang trọng
Bảng 4.7. TNKK của người lớn xuất hiện trong tình huống giao tiếp trang trọng
và phi trang trọng
Bảng 4.8. Tuổi của người nói và xu hướng sử dụng TNKK trong tình huống
giao tiếp trang trọng
Bảng 4.9. Mức độ tăng cấp của TNKK xuất hiện trong tình huống giao tiếp
trang trọng và phi trang trọng
Bảng 4.10. Trẻ em sử dụng TNKK với người trên, người ngang hàng và người dưới
Bảng 4.11. Người lớn sử dụng TNKK với người trên, người ngang hàng và
người dưới
Bảng 4.12. TNKK của trẻ em Hoài Thị khi nói với người trên, người ngang

trọng và phi trang trọng
Biểu đồ 4.6.Tuổi của người nói và xu hướng sử dụng TNKK trong tình huống
giao tiếp trang trọng
Biểu đồ 4.7. Trẻ em sử dụng TNKK với người trên, người ngang hàng và người dưới
Biểu đồ 4.8. Người lớn sử dụng TNKK với người trên, người ngang hàng và
người dưới

Footer Page 9 of 123.


Header Page 10 of 123.

CÁC CHỮ VIẾT TẮT
VÀ CÁC QUY ƯỚC TRONG LUẬN ÁN

1. Các chữ viết tắt
TNKK:

Từ ngữ kiêng kị

LA:

Luận án

ĐTV:

Điều tra viên

2. Các quy ước
Ví dụ:

dùng uyển ngữ thay thế. Vì vậy, TNKK chưa thực sự thu hút được sự quan tâm
của các nhà Việt ngữ học. Các công trình đã có thường đi theo hướng mô tả/phân
loại TNKK và dùng uyển ngữ thay thế, nhưng mô tả TNKK và các cách tránh sử
dụng chúng không giải thích được bản chất, sự tồn tại và phát triển của lớp từ
này. Ví dụ, không thể giải thích được tại sao những từ như “con đĩ” lại là TNKK,
không nên sử dụng trong khi có hẳn một xuất bản phẩm với tên “Xin lỗi em chỉ
là con đĩ”. Thực ra, cũng giống như mọi hiện tượng xã hội khác, để tồn tại,

1

Footer Page 11 of 123.


Header Page 12 of 123.

TNKK cũng phải có chức năng xã hội của nó nên chúng ta chỉ có thể đánh giá
được những từ ngữ như trên có thô thiển, mất lịch sự hay không thông qua việc
tìm hiểu chức năng xã hội của nó, tức là nghiên cứu chúng trong mối tương liên
chặt chẽ với hoàn cảnh giao tiếp mà chúng xuất hiện. Nghiên cứu TNKK trong
hoàn cảnh giao tiếp cũng chính là cách tiếp cận TNKK từ góc độ ngôn ngữ học
xã hội, đó cũng chính là hướng tiếp cận của LA.
1.3. Hiện nay trên thế giới, đã có nhiều công trình nghiên cứu về TNKK, tuy
nhiên ở Việt Nam lại chưa có một đề tài, một LA nào nghiên cứu về đặc trưng
ngôn ngữ học xã hội, tức là ảnh hưởng của các yếu tố xã hội như tuổi tác, giới
tính, giai tầng v.v… đến sự sử dụng TNKK trong tiếng Việt. Vì vậy, chúng tôi
chọn “Đặc trưng ngôn ngữ học xã hội của từ ngữ kiêng kị trong tiếng Việt”, trên
cứ liệu giao tiếp ngôn ngữ ở Hoài Thị giai đoạn 2001 - 2002 - làm đề tài cho LA.
2. TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU TỪ NGỮ KIÊNG KỊ
Với các cách thức tiếp cận khác nhau, hiện nay ở trên thế giới, nghiên cứu
về TNKK đã dành được sự quan tâm lớn của các nhà nghiên cứu ở nhiều lĩnh

nghiệp tầm thường, và những thứ liên quan đến quần áo lót.
Liên quan đến niềm tin, Nguyễn Quý Thành (1993) [16] nghiên cứu
những TNKK trong nghề đi biển vùng Nam Trung Bộ, và giải thích rằng nghề đi
biển là nghề khắc nghiệt và nguy hiểm nên để tránh những rủi ro do thiên tai
mang lại, dân đi biển kiêng nói những từ ngữ gợi báo điềm gở, sự mất mát,
không vững chắc: như về (vì về gợi báo trước điều chẳng lành, không gặp may),
mất (nếu đánh mất đồ - vì sợ mất mát, chết chóc); úp (vì sợ bị úp thuyền); v.v …
Nguyễn Thị Tâm Hạnh (2010) [7] cũng đã miêu tả các TNKK trong nghề làm
gốm, ví dụ, kiêng kị nói đến những gì liên quan đến: sự thiếu lành nguyên, méo
mó, đổ vỡ như: rịn (rịn nước), nứt (nứt toác ra), tréo chân méo miệng, nát (vì
liên quan đến sự đổ nát), (kể cả trong giao tiếp thông thường bên ngoài lò nung),
vì những từ này vốn thường dùng để chỉ sản phẩm không đạt chất lượng hoặc
quy trình sản xuất bị trục trặc.
Nhìn chung, những nghiên cứu bàn về TNKK xuất phát từ khía cạnh tôn
giáo đều có xu hướng khai thác các từ ngữ linh thiêng gắn với niềm tin tôn giáo
của những con người mà tiềm thức gắn với tư tưởng “có thờ có thiêng, có kiêng
có lành”. Điều này đã chi phối các hoạt động của con người, lâu dần trở thành
phong tục, tập quán.

3

Footer Page 13 of 123.


Header Page 14 of 123.

Từ khía cạnh văn hóa, có nhiều nghiên cứu quan tâm đến những từ ngữ
liên quan đến chủ đề tình dục: bộ phận sinh dục và hành động tình dục. Đề cập
đến những điều cấm kị trong cuộc sống, Nguyễn Kim Phước (2006) [14] đã chỉ
ra điều kị nhất là khi nói đến hành vi tính dục một cách trực tiếp. Do quan niệm


Header Page 15 of 123.

sự tục tĩu mà bình thường phải giấu kín đi: cái con củ cặc để biểu thị sự ngạo
mạn, coi thường đối thủ của mình.
Kị húy hay kiêng húy cũng là một vấn đề kiêng kị trong ngôn ngữ nhận
được sự quan tâm lớn từ các nhà nghiên cứu. Ở Việt Nam, thời phong kiến tục
kiêng huý gần như là một quy tắc bắt buộc [11].
Trước tiên, ở phạm vi của một quốc gia, mọi thần dân phải kiêng kị tên
húy của vua. Chẳng hạn, có một thời gian ánh trong ánh sáng là kiêng kị (vì tên
thật của Vua Gia Long là Nguyễn Phúc Ánh), nên phải nói là yến sáng; cảnh
trong cây cảnh là kiêng kị (vì tên con trai vua Gia Long là Nguyễn Phúc Cảnh),
nên phải nói là cây kiểng. Ngoài việc kiêng nói tên vua, nhiều khi tên của những
người thân thuộc với vua cũng phải kiêng như: cha, mẹ, vợ, con, anh em,… và
có khi đến hàng ông nội, bà nội, tên giả, chữ đệm của vua cũng phải kiêng.
Trong phạm vi làng xã, cũng có những kiêng huý nhất định. Chẳng hạn ở
Làng Phước Tích (vùng biển Nam Trung Bộ), nồi là tên của ngài Khai canh Bổn nghệ (họ Hoàng) của làng: “ngài thỉ tổ họ Hoàng lúc bấy giờ là Hoàng Minh
Hùng, tục gọi là Nồi nguyên người làng Cảm Quyết, tỉnh Nghệ An đã thân chinh
đánh đuổi Chiêm Thành...” [7], do đó, nồi là một từ kiêng kị. Hoặc ở làng Vịa
(Thình Quang - Gia Lâm - Hà Nội) thờ ông Lí Bí và Lí Chiêu Hoàng, vì vậy bí
trong quả bí là kiêng kị, và phải nói tránh là quả bầu.
Trong phạm vi gia đình, do truyền thống văn hóa, con cái có thể kiêng gọi
tên thật ông bà tổ tiên, những người đã mất hoặc những người có vai trò trong
dòng tộc nên nếu ai sử dụng những từ đó phải sẽ phạm tội hỗn láo [11]. Do đó,
trong cuộc sống hàng ngày gặp phải những tên giống với tên của ông bà tổ tiên,
đặc biệt tên của những người đã khuất, thì phải tìm cách đọc tránh đi, nhằm tránh
phạm vào sự linh thiêng của các linh hồn, chẳng hạn: không được nói Hà Đông,
mà nói Hà Đương, không nói thịt đông mà nói thịt đặc, hồng gọi tránh là hường,
hoa gọi là huê, xuân gọi là xoan, bưởi gọi là bòng [15].
Ngoài ra, có khá nhiều công trình nghiên cứu về những từ ngữ chỉ điều

phương pháp nghiên cứu khác nhau. Nhìn chung, bảng hỏi là một công cụ chính
và phương pháp điều tra bảng hỏi là một trong những phương pháp được nhiều
nhà nghiên cứu sử dụng để thu thập tư liệu (Hughes 1992 [57]; Veronica 1997
[115]; Tsang 2005 [112]; Bakhtiar 2011 [28]).
Coi TNKK là một hiện tượng trong ngôn ngữ học xã hội, Hongxu và các
cộng sự (1990) [55] đã thâm nhập vào một cộng đồng nhỏ ở Trung Quốc, và
phát hiện ra rằng TNKK là một hiện tượng ngôn ngữ, văn hóa, xã hội có quan hệ
với mê tín, tập tục, và quyền lực phân cấp. Họ đã thảo luận những ảnh hưởng

6

Footer Page 16 of 123.


Header Page 17 of 123.

của các yếu tố văn hóa - xã hội đến sự hình thành và phát triển của TNKK.
Hongxu và các cộng sự đề xuất cách phân loại, cho rằng kiêng kị rơi vào hai
nhóm: ngôn ngữ vĩ mô và ngôn ngữ vi mô. Nhóm đầu tiên, tất cả các từ được
hầu hết mọi người hội thoại trong cộng đồng coi là đáng ghê tởm và tục tĩu như
tình dục và chết chóc. Với nhóm TNKK vi mô, những từ nhất định được cảm
nhận là kiêng kị trong mối quan hệ với ngữ cảnh cụ thể. Họ đề xuất một cách
phân loại cho TNKK, bao gồm "ngữ cảnh vĩ mô" (tức là các yếu tố xã hội) và
"ngữ cảnh vi mô", bao gồm các yếu tố mang tính tình huống như hình thức và
người đối thoại.
Jay (1992) nhận ra “ngôn ngữ bẩn” (dirty language) “đang dần dần được
chấp nhận rộng rãi đối với công chúng Mĩ” [62]. Đây là lí do khiến ông tiến
hành nghiên cứu “ngôn ngữ bẩn” ở tòa án, phim ảnh, sân trường và trên đường
phố ở Mĩ. Cuốn sách của ông là công trình đầu tiền khảo sát lời chửi rủa của
người Mĩ một cách sâu rộng từ khía cạnh ngôn ngữ học tâm lí - ngữ cảnh

kiêng kị, Veronica (1997) [115] đã phát hiện ra mối quan hệ chặt chẽ giữa giới và
tuổi của người sử dụng ngôn ngữ chửi thề và ngôn ngữ kiêng kị. Tác giả nhận định
không có mối tương quan nào giữa trình độ học vấn và việc sử dụng TNKK.
Từ khía cạnh giới và nghề nghiệp, Tsang (2005) [112] tiến hành nghiên
cứu, điều tra về thái độ sử dụng TNKK của những người nói tiếng Anh và tiếng
Quảng Đông nhằm tìm ra sự khác biệt về văn hóa trong việc sử dụng ngôn ngữ
kiêng kị, v.v... Phát hiện của tác giả cho thấy những người nói tiếng Anh thường
bị ảnh hưởng sâu sắc của văn hóa phương Tây, đó là niềm tin về tôn giáo nên họ
hạn chế sử dụng những từ kiêng kị về tôn giáo; trong khi đó những người nói
tiếng Quảng Đông ở Hồng Kông do bị ảnh hưởng cả văn hóa và niềm tin tôn
giáo phương Tây và phương Đông nên họ ít sử dụng những TNKK mang tính mê
tín như chết và quan tài. Đối với những người nói tiếng Quảng Đông, nam giới
nói ngôn ngữ thô lỗ dễ dàng được chấp nhận hơn nữ giới, còn nữ giới – từ khi có
sự mở cửa của xã hội – đã sử dụng TNKK nhiều hơn so với trong quá khứ.
Để tìm sự tương đồng và khác biệt trong việc sử dụng ngôn ngữ kiêng kị
của nam giới và nữ giới, Gao (2008) [50] dựa trên tư liệu hội thoại của nam giới
và nữ giới trong nhóm cùng giới và lẫn giới qua hàng loạt các tập phim Sex and
the City, chiếu từ năm 1998 đến năm 2004, qua kênh HBO của Mĩ. Phát hiện của
nghiên cứu này là cả nam giới và nữ giới đều sử dụng ngôn ngữ kiêng kị nhiều
hơn trong hoàn cảnh giao tiếp cùng giới; trong khi đó nam sử dụng nhiều TNKK
hơn nữ trong nhóm hội thoại lẫn giới. Kết quả này không đồng thuận với phát
hiện của Coates (2004) [38] rằng cả nam và nữ đều điều chỉnh hành vi lời nói

8

Footer Page 18 of 123.


Header Page 19 of 123.


9

Footer Page 19 of 123.


Header Page 20 of 123.

đều sử dụng những loại TNKK khác nhau; nữ thường sử dụng những từ ngữ thô
tục và không sử dụng những từ quấy rối tình dục; trong khi đó nam lại sử dụng tất
cả những TNKK, trong đó sử dụng từ ngữ khiêu dâm là chủ yếu; nam ít sử dụng
TNKK trong hội thoại cùng giới; trong khi đó cả nam và nữ đều sử dụng TNKK
giống nhau trong hội thoại cùng giới.
Từ góc độ tuổi, giới, và mức độ trang trọng của tình huống giao tiếp,
Bakhtiar (2011) [28] cũng sử dụng bảng hỏi để điều tra mức độ kiêng kị của
những từ ngữ thuộc chủ đề đĩ điếm trong ngôn ngữ Ba Tư. Hai nhân tố xã hội là
tình huống giao tiếp và giới được đưa vào khảo sát. Cuộc điều tra được tiến hành
ở 30 sinh viên đại học Iran (15 nữ và 15 nam) có tuổi từ 20 đến 30 tuổi, kết quả
là cả sinh viên nam và sinh viên nữ đều cho rằng trong tình huống giao tiếp trang
trọng thì TNKK có mức độ thô lỗ cao hơn tình huống giao tiếp phi trang trọng.
Trong tình huống giao tiếp trang trọng cả sinh viên nam và sinh viên nữ đều cho
rằng không được phép nói ra TNKK; và lối nói vòng vo là phương tiện hữu ích
nhất đề nói về chủ đề kiêng kị trong ngữ cảnh trang trọng. Đồng tình với quan
điểm của sinh viên nam, sinh viên nữ khẳng định trong tình huống giao tiếp phi
trang trọng, TNKK là những từ thô lỗ hơn.
Sử dụng cách tiếp cận “lịch sự” của Brown và Levinson (1978, 1987) làm
cơ sở cho việc phân tích những kiêng kị ngôn ngữ trong xã hội Yemen, Qanbar
(2011) [93] đã khảo sát các nhóm TNKK trong các nhóm xã hội khác nhau, và
thảo luận những yếu tố tác động đến việc biểu đạt những từ ngữ gọi là kiêng kị ở
các nhóm xã hội đó, trên cơ sở đó đưa ra các nhóm từ thay thế dễ chấp nhận hơn
nhóm kiêng kị ngôn ngữ như: uyển ngữ, từ trái nghĩa, ẩn dụ, v.v... Tác giả cho

cảnh vào thái độ của người nói (Jay 2000) [64]. Xuất phát từ giao tiếp hội thoại qua
phim ảnh (Teguh 2008 [105]; Ningjue 2010 [91]) cho thấy những đặc trưng của
giới, của tuổi; tuy nhiên những đoạn hội thoại trong phim lại là những đoạn hội
thoại đã qua biên soạn nên lời nói không tự nhiên như ghi âm giao tiếp hàng ngày.
Có thể nói rằng, thời gian gần đây, các nhà nghiên cứu đã cung cấp một
khối lượng lớn công trình nghiên cứu về TNKK ở người lớn, nhưng đúng như
Jay (2009) [69] nhận định: rất ít công trình về TNKK ở trẻ em đang sinh sống tại
các cộng đồng ngôn ngữ văn hóa khác nhau trên thế giới. LA này là một ví dụ
đặc thù nông thôn miền Bắc Việt Nam cho hiểu biết chung về sự sử dụng TNKK
của trẻ dưới góc nhìn của ngôn ngữ học xã hội.

11

Footer Page 21 of 123.


Header Page 22 of 123.

3. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU
3.1. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của LA là đặc trưng ngôn ngữ học xã hội của từ
ngữ kiêng kị trong tiếng Việt, trên cứ liệu giao tiếp ngôn ngữ tự nhiên của trẻ em
ở làng Hoài Thị, xã Liên Bão, huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh. Đây là tư liệu ghi
âm thuộc Dự án “Tiến trình phát triển ngôn ngữ trong bối cảnh văn hóa - xã hội
ở Hoài Thị năm 2001 - 2002”. Dự án này là một công trình hợp tác giữa Trường
Đại học Toronto - Canada (thông qua GS. Lương Văn Hy) và Viện Ngôn ngữ
học - Viện Khoa học Xã hội Việt Nam. Với tư cách là một thành viên chính thức
của Dự án nói trên, tôi được phép sử dụng tư liệu của Dự án cho các nghiên cứu
của mình. Cho đến nay, ngoài tác giả của LA, chưa có ai khai thác mảng tư liệu
về sự sử dụng từ ngữ kiêng kị của Dự án này.

Xem xét đặc trưng ngôn ngữ học xã hội của TNKK trong tiếng Việt,
trường hợp giao tiếp ngôn ngữ trẻ em ở Hoài Thị, một mặt LA muốn làm rõ sự
ảnh hưởng của các biến xã hội như: tuổi, giới, và tình huống giao tiếp đến việc
sử dụng TNKK, góp phần làm sáng tỏ lí thuyết của ngôn ngữ học xã hội về sự
ảnh hưởng của các yếu tố xã hội đến ngôn ngữ ở Việt Nam; mặt khác là để tìm
hiểu quá trình phát triển ngôn ngữ của trẻ em (thông qua khảo sát sự sử dụng
TNKK cũng như thái độ, phản ứng của người lớn xung quanh nhóm trẻ), từ đó
khẳng định vai trò của người lớn đối với việc xã hội hóa ngôn ngữ trẻ em ở
cộng đồng Hoài Thị.
4.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Từ mục đích nghiên cứu của LA, chúng tôi đưa ra một số nhiệm vụ cơ
bản sau:
(i) Hệ thống hóa những nghiên cứu về TNKK từ quan điểm nghiên cứu từ
vựng truyền thống và quan điểm ngôn ngữ học xã hội.
(ii) Hệ thống hóa lí thuyết về ngôn ngữ học xã hội: biến ngôn ngữ, biến xã
hội và mối quan hệ giữa biến ngôn ngữ và biến xã hội.
(iii) Nghiên cứu trường hợp về sự sử dụng TNKK của trẻ em thuộc một cộng
đồng ở nông thôn miền Bắc Việt Nam:
+ Miêu tả tình hình sử dụng TNKK của người dân ở Hoài Thị nói
chung giai đoạn 2001-2002.

13

Footer Page 23 of 123.


Header Page 24 of 123.

+ Miêu tả và lí giải những yếu tố xã hội như: tuổi, giới và tình huống
giao tiếp ảnh hưởng đến sự sử dụng TNKK của trẻ em ở Hoài Thị.


14
12

14

12

26

Để đảm bảo độ tin cậy của tư liệu, trong quá trình ghi âm ngôn ngữ tự
nhiên của người dân ở Hoài Thị, chúng tôi đã sử dụng các kĩ năng bổ sung, hỗ trợ
trong nghiên cứu điền dã dân tộc học như quan sát, quan sát tham dự, và ghi chép.

2

“Tiến trình phát triển ngôn ngữ trong bối cảnh văn hóa - xã hội ở Hoài Thị năm 20012002”, của Trường Đại học Toronto - Canada, thông qua GS. Lương Văn Hy, hợp tác với
Viện Ngôn ngữ học – Viện Khoa học Xã hội Việt Nam.
3 Tôi là một trong những người đi thực địa để ghi âm ngôn ngữ giao tiếp tự nhiên của trẻ
thuộc Dự án “Tiến trình phát triển ngôn ngữ trong bối cảnh văn hóa - xã hội ở Hoài Thị
năm 2001-2002”.

14

Footer Page 24 of 123.


Header Page 25 of 123.

Ghi âm được chúng tôi thực hiện theo cách mà những người tham gia giao




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status