Cánh đồng bất tận, nhìn từ
mô hình tự sự và ngôn ngữ
trần thuật
Có lẽ do khuôn khổ truyện ngắn và sự lựa chọn cốt truyện tâm lý đã khiến tác
giả xoáy sâu vào cảm nhận của nhân vật ở bình diện này. Không trôi theo
những thay đổi không gian mà bám đuổi vào mạch cảm xúc và suy tưởng của
nhân vật, thời gian trong tác phẩm là sự đột hiện của những mảng ký ức chắp
nối, rời rạc. Những mảng đời, những số phận, những kỷ niệm đồng hiện, đứt
nối làm cho thời gian nhòe đi tính biên niên nên không khí truyện bị kéo căng
ra, ngột ngạt, bức bối. Điều đó làm cho sự ý thức về số phận, thân phận con
người giằng xé hơn, day dứt và đau đớn hơn.
Trong tác phẩm, cuộc đời ba cha con nuôi vịt chạy đồng thì lưu lạc là quá
rõ rồi. Nhưng hơn thế, tất cả những con người trong truyện đều chịu những
kiếp sống lưu lạc, mỗi người chỉ dạt vào câu chuyện một chốc lát, nhiệt thành
thể hiện khát vọng sống mạnh mẽ bằng sự chấp nhận và đánh đổi, rồi lại dạt
trôi đến một phương trời khác. Chỉ một chút đó thôi, họ cũng kịp vẽ lên trong
hình dung người đọc một vấn đề nhân sinh nhức nhối. Cánh đồng bất tận thu
hút người đọc chính là nhờ cái cốt truyện này. Truyện ngắn như một chuỗi dài
những phiến đoạn tâm lí. Ở đó cứ le lói những khát khao được sống một cuộc
sống đời thường, được gặp người quen cũ, nhưng dù họ có đánh đổi, có cá
cược bằng tất cả những gì họ có thì họ vẫn bị trơ ra, gạt ra và trở thành những
nỗi cô đơn “bất tận”. Mỗi phiến đoạn là một sân ga ghi dấu nỗi xót xa tê tái mà
con tàu thời gian chỉ dừng đủ cho một thân phận tấp vào trong tấp tểnh hi vọng
để rồi khi vừa kịp nhận ra đó không phải là “bến đợi” thì tàu đã lăn bánh, “con
đường quay về bị bịt kín”; là một thoáng chốc bàng hoàng, sực tỉnh trong khát
vọng được hòa vào cuộc sống bình thường rồi cứ lịm dần lịm dần đến tê liệt cả
bản năng và khát vọng người. Nhưng số phận dù có tủi cực đến đâu thì cái
khát vọng ấy vẫn không bị tuyệt diệt, nó chỉ khuất lặn đâu đấy nơi đáy sâu tâm
hồn đã bị cái xấu và cái ác đày đọa đến hoang lạnh. Còn gì nhân sinh hơn sự
đón nhận đến rớt nước mắt cái khát vọng xây lại cuộc đời từ những đứa con
tên Thương, Nhớ, Dịu, Xuyến, Hường sinh ra bởi nỗi đau đớn uất nghẹn của
gạo trắng nước trong" bờ sông Hậu, xuống tận cõi U Minh, đâu đâu lời ăn tiếng
nói nghe cũng mượt mà trôi chảy quá chừng, cũng lưu thủy hành vân "tới bến",
"sức mấy" mà nhịn "cha nội" ở bất kỳ miệt nào! Mà nói làm sao thì viết y làm
vậy (nghĩa là dùng ngôn ngữ đời sống, phương ngữ - chúng tôi nhấn mạnh)”
(5)
.
Ngôn ngữ trong tác phẩm, vì thế, là một sự kế thừa và phát triển, một nỗ lực
không nhỏ của tác giả để cống hiến cho người đọc những trang văn chân chất,
sống động, thật như đời sống. Kể chuyện từ ngôi xưng thứ nhất bằng ngôn
ngữ như vậy, một mặt tác giả có điều kiện thuận lợi để đào sâu thế giới nội tâm
nhân vật và mặt khác tạo được cảm giác gần gũi, chân thành, tin tưởng đối với
người đọc. Tất sẽ có người không hiểu được hết phương ngữ tác giả sử dụng.
Nhưng khi thật sự trải nghiệm cùng nhân vật và ngụp lặn trong bầu không khí
đặc quánh chất Nam Bộ trong truyện của tác giả thì một vài mắc mớ về
phương ngữ, trong sự mê hoặc của quy luật lây lan tâm lí, nghĩa là người đọc
cảm nhận bằng tâm lí nhân vật, sẽ tự được giải tỏa hoặc bị đẩy xuống hàng
thứ yếu
(6)
.
Để có một giọng văn chân thật, một mặt như đã nói, tác giả rời chuyển
ngôi kể từ người kể chuyện sang nhân vật chính, cho nhân vật “nói” bằng ngôn
ngữ cảm xúc, suy tưởng; mặt khác, đẩy ngôn ngữ đối thoại, ngôn ngữ của
nhân vật khác lọc qua lăng kính tâm lý của nhân vật chính, đưa nó vào trường
cảm nhận của nhân vật chính. Nhân vật tôi, vì vậy, là người biết hết, hiểu hết,
cảm hết, những gì mình nói ra. Hơn thế, sự kể vừa như kết quả của những tác
động bên ngoài (những câu hỏi của Sương), vừa như sự thúc bách nội cảm,
tức nhu cầu muốn phơi trải để được nhẹ lòng trước không khí ngột ngạt bao
bọc bởi cảm giác một sự báo ứng đang dần tới, thứ ngôn ngữ tự nói với mình
ấy là yếu tố cơ bản tạo nên tính chân chất của văn phong Ngọc Tư.
Hầu hết ngôn ngữ đối thoại trong tác phẩm đều gián tiếp xuất hiện sau
Vì vậy, dù câu chuyện đã lược đi những đối thoại trực hiện để thành dòng chảy
nhất phiến của tâm lý nhân vật, tính chất đối thoại ở chiều sâu tư tưởng vẫn
làm cho giọng kể không đều đều, đơn điệu. Trái lại, cho nhân vật từ chợt ý
thức đến day dứt về một sự báo ứng, trừng phạt, nghĩa là sự thức nhận về cái
xấu, cái ác, những ký ức nhức nhối, ê chề cứ vút lên, xoáy sâu làm cho nền
tâm trạng, nếu coi như một mặt phẳng, có những trồi sụt mà mạch truyện nếu
giống một dòng chảy qua nó ắt sẽ có những khúc êm ả, thác ghềnh, dáng
xoáy Một dòng sông chứa lắm sóng ngầm.
Di chuyển điểm nhìn sang nhân vật, đắm chìm trong những xúc cảm nội
tâm, ngôn ngữ trong Cánh đồng bất tận là một thứ ngôn ngữ giàu cảm giác. Đó
là ngôn ngữ đã được lọc qua tâm lí nhân vật nên mang đậm màu sắc chủ quan,
một thứ ngôn ngữ sống dậy từ những ký ức đau buồn càng tạo cảm giác tê tái,
nhức buốt: “tôi ngồi quẹt tay lau nước mắt đi, kỹ càng, để gương mặt an nhiên,
ráo hoảnh. Tôi quyết không để cha thấy mình buồn, quyết không để cha bật ra
cái câu: Chịu hết nổi cái cảnh sống này rồi hả? Chừng nào đi?”; “Tôi đã chờ nó
đến khi mùa mưa đổ xuống cánh đồng Chia Cắt (tôi tạm gọi vậy) một trời sao.
Chờ chơi vậy, chứ tôi biết Điền chẳng quay về. Tôi nhớ nó (và nhớ chị) không
thôi. Những lần dọn cơm tôi hay lấy chén đũa cho cả bốn người. Cha tôi rất
khó chịu, ông ngán ngẩm đứng dậy. Tôi ngồi một mình, chan nước vào chén
cơm như chan nỗi trống trải khủng khiếp” Từ chỗ cố gắng nén cảm xúc để
tránh phải sống lại những ký ức đau buồn, không ngờ sự nín nhịn phải kéo dài
dằng dặc đến nỗi ngay cả trước những đau đớn thực tại, nhân vật cũng đón
nhận một cách dửng dưng, cảm xúc đã chết trong sự đày đọa, bỏ rơi. Hơn thế,
nỗi đau đớn và sự cô đơn khiến hai chị em hầu như đã đánh mất ngôn ngữ
giao tiếp thông thường mà có thể “đọc” được suy nghĩ của nhau, “nghe” được
tiếng vịt và khi kể lại câu chuyện thì “những kí ức chắp vá, đứt đoạn được
chúng tôi kể khá chậm, một phần vì đã lâu không dùng cách giao tiếp bằng lời,
một phần do vài chi tiết khiến chúng tôi phải dừng câu chuyện lại, vì thấy nhói
ở đâu đó”. Ngôn ngữ kể chuyện, vì vậy, là một sự hồi nguyên của cảm xúc từ
lâu đã lặng tận đáy lòng, thứ ngôn ngữ sống lại cùng với và trước hết trong
mãi vết thương cũ, nhỏ nước mắt” dù đang sống mà “giống như mấy cái mả
ngồi”, chợt chộn rộn những “tiếng vịt lao xao”. Tiếng Vịt đã đem đến cho hai
đứa trẻ một sự đổi khác, biết “thảng thốt”, “hớn hở” rồi cả “khẽ hát” trước thế
giới của bầy vịt, một thế giới “không ghen tuông, hờn giận” và “chỉ đủ yêu
thương”. Đắm chìm trong thế giới ấy, học cách yêu thương bầy vịt, chấp nhận
những đánh đổi để miễn “tạm quên được nỗi buồn của cõi người”, “hi vọng sẽ
không bị đau như yêu thương một - con - người nào đó”, hai chị em đang kiếm
tìm tình yêu thương hay trốn chạy thực tế? Học cách yêu thương và thực sự
đã chăm chút yêu thương, trong thế giới vịt, họ đã được đáp đền: con vịt đui đã
không chỉ phân biệt được giọng hát mà còn nghe được cả tiếng trái tim cô bé
“Quen lắm. Chập chờn, thút thít, đòng đưa như sắp rụng ”, rồi cả thắc mắc và
quả quyết “thử đui rồi khắc biết” Cái tiếng Vịt như vậy, đã cất lên thật rành rọt,
nó là tiếng nói của một thế giới khác, nhưng cũng xôn xao như thế giới người:
có tin yêu, hoài nghi, ghét bỏ trong lời nói thậm chí cả trong hành động nữa
(chúng “mổ vào chân chị”). Nó đâu có khác với thế giới người nên Nương mới
bất giác “nhắm mắt để nghe lại tiếng tim mình”. Tiếng Vịt tưởng đã được cất
lên khác tiếng người, nào ngờ chúng vẫn “nhoè” với nhau, đẩy nhân vật vào
sâu hơn trong bi kịch kiếm tìm tình nghĩa. Quả thật, nó đã hé lộ trong sự gặp
gỡ giữa những cái dị thường, không hoàn bị: con người thì thiếu tình yêu
thương (không hoàn bị về tinh thần), con vịt thì bị mù (không hoàn bị về thể
xác) và cả trong niềm hi vọng có sự sẻ chia giữa những kiếp thiếu thốn, bất
hạnh: con người bị đánh đập tàn tạ (Sương) mới đầu đã bị đàn vịt đói từ chối
(bằng hành động “mổ vào chân”) vẫn không thôi tin tưởng “mai mốt những con
vịt quỷ này sẽ quý chị, mấy hồi” Cách thức miêu tả này cũng đã được Ngọc
Tư sử dụng trong truyện ngắn Cái nhìn khắc khoải để cho tình yêu thương lên
tiếng giữa người phụ nữ bị chồng bỏ rơi “quá giang” vào cuộc sống của ông
Hai cô đơn và con vịt Cộc Rõ ràng sự xuất hiện của tiếng Vịt đã phần nào
nâng đỡ con người có niềm tin vào sự tồn tại của tình yêu thương. Nhưng cái
giọng được cất lên từ một bộ phận vốn đã đáng thương và cần được yêu
thương lại đẩy tình thương vào một bi kịch sâu hơn: thế giới bình thường vẫn