TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA: NGỮ VĂN
TRẦN THỊ HƯƠNG
NGÔN NGỮ NGHỆ THUẬT TRONG
TRUYỆN NGẮN NGUYỄN MINH CHÂU
SAU 1975
TÓM TẮT KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: VĂN HỌC VIỆT NAM
Người hướng dẫn khoa học
TS. LA NGUYỆT ANH
HÀ NỘI – 2015
LỜI CẢM ƠN
Trong suốt thời gian học tập tại trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2, em
đã nhận được rất nhiều sự quan tâm, giúp đỡ của quý thầy cô giáo và bạn bè.
Với lòng biết ơn sâu sắc nhất, em xin gửi lời cảm ơn đến quý thầy, cô giáo
khoa Ngữ văn, đã truyền đạt những kiến thức, kinh nghiệm quý báu của mình
cho sinh viên.
Đặc biệt, em xin chân thành cảm ơn Tiến sĩ La Nguyệt Anh, người đã
bỏ ra rất nhiều thời gian, công sức và nhiệt huyết để giảng dạy cho em nhiều
điều, giúp đỡ cho em không chỉ về kiến thức mà còn cả về tinh thần để em có
thể hoàn thành khóa luận tốt nghiệp này.
Cuối cùng, em xin gửi lời cảm ơn chân thành đến gia đình và bạn bè,
những người luôn ở bên cạnh giúp đỡ cho em.
Khóa luận bước đầu tìm hiểu một vấn đề nhỏ trong một tác giả văn học
3. Mục đích nghiên cứu.................................................................................. 4
4. Nhiệm vụ nghiên cứu ................................................................................. 5
5. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu ............................................................. 5
6. Phương pháp nghiên cứu ........................................................................... 6
7. Đóng góp của khóa luận ............................................................................ 6
8. Bố cục của khóa luận ................................................................................. 7
NỘI DUNG ....................................................................................................... 8
CHƯƠNG 1. NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ NGÔN NGỮ NGHỆ
THUẬT VÀ THỂ LOẠI TRUYỆN NGẮN ..................................................... 8
1.1.Giới thuyết chung về ngôn ngữ và ngôn ngữ nghệ thuật......................... 8
1.1.1. Khái niệm về ngôn ngữ và ngôn ngữ nghệ thuật .............................. 8
1.1.2. Đặc trưng của ngôn ngữ nghệ thuật trong văn học ......................... 9
1.1.3.Ngôn ngữ nghệ thuật trong truyện ngắn.......................................... 10
1.2. Nguyễn Minh Châu và quá trình sáng tạo nghệ thuật .......................... 12
1.2.1. Vài nét về tác giả Nguyễn Minh Châu ............................................ 12
1.2.2. Quá trình sáng tạo nghệ thuật của Nguyễn Minh Châu ................. 14
CHƯƠNG 2. ĐẶC TRƯNG NGÔN NGỮ NGHỆ THUẬT TRONG
TRUYỆN NGẮN NGUYỄN MINH CHÂU SAU 1975 ................................ 20
2.1. Ngôn ngữ trần thuật hiện thực, tỉnh táo ............................................... 21
2.1.1. Ngôn ngữ trần thuật mang tính khách quan ................................... 21
2.1.2. Ngôn ngữ trần thuật đậm chất đời thường ..................................... 25
2.2. Ngôn ngữ đối thoại đậm chất triết lý và suy tư ................................... 28
2.2.1. Ngôn ngữ đối thoại đâm chất triết lý .............................................. 30
2.2.2. Ngôn ngữ đối thoại mang đậm chất suy tư .................................. 38
2.3. Ngôn ngữ độc thoại đậm chất trữ tình .................................................. 42
2.3.1. Ngôn ngữ đậm chất trữ tình trong việc miêu tả thiên nhiên........... 44
2.3.2. Ngôn ngữ đậm chất trữ tình trong việc thể hiện con người ........... 48
KẾT LUẬN .................................................................................................... 55
giảng dạy, sáng tác của Nguyễn Minh Châu nói riêng và truyện ngắn nói
chung.
Khao khát tìm hiểu thể giới ngôn ngữ đặc sắc, độc đáo của Nguyễn
Minh Châu đã thôi thúc chúng tôi tìm hiểu đề tài: “Ngôn ngữ nghệ thuật
trong truyện ngắn Nguyễn Minh Châu sau 1975”.
2. Lịch sử vấn đề
Nguyễn Minh Châu đã từng nói “Bất cứ một cây bút nào cũng không
thể làm công việc của cả một nền văn học. Miễn là mỗi người với tất cả tâm
lòng trân thành với cuộc sống, hãy in cho thật sâu đậm dấu vết và bản sắc tư
tưởng cùng tiếng nói nghệ thuật riêng của mình – tức cũng là chút đóng
góp”.[2; tr307]. Sáng tác của Nguyễn Minh Châu ra đời gây được sự chú ý
của bạn đọc cũng như giới nghiên cứu, phê bình. Tính đến nay, tìm hiểu về
Nguyễn Minh Châu có nhiều công trình nghiên cứu về quá trình sáng tác,
phong cách nghệ thuật... Đa phần các công trình nghiên cứu này đều tìm hiểu
sự đổi mới qua hai giai đoạn trước 1975 và sau 1975.
Nguyễn Kiên cũng góp thêm tiếng nói khẳng định giá trị tích cực mang
tính định hướng mở đường của truyện ngắn Nguyễn Minh Châu, đặc biệt là
những tác phẩm ra đời ở giai đoạn sau. Tác giả viết “Truyện ngắn của Nguyễn
Minh Châu phù hợp với nhu cầu phất triển chung. Nó vượt ra một cái gì gọi
là chuyện riêng của Nguyễn Minh Châu. Sáng tác của anh để chúng ta bàn
bạc được nhiều vấn đề lớn hơn” [14; tr300]. Nhìn chung nhiều nhà nghiên
cứu đã lên tiếng ủng hộ sự tìm tòi đổi mới của Ngyễn Minh Châu, khẳng định
một tài năng đã được định hình và càng về sau càng vươn tới độ chín cần
thiết. Các công trình nghiên cứu phải kể đến Luận án của Tiến sĩ Nguyễn Thị
Bình với đề tài: Những đổi mới của văn xuôi nghệ thuật Việt Nam sau 1975
hay công trình của Tiến sĩ Tôn Phương Lan đặt vấn đề nghiên cứu Phong
cách nghệ thuật của Nguyễn Minh Châu, PGS. Nguyễn Văn Long - TS. Trịnh
3
khiến cho ngôn ngữ tác phẩm có giọng điệu phức hợp, tạo nên hiệu quả cá
biệt hóa hình tượng nhân vật từ bình diện đến điểm
nhìn trần thuật”
[14; tr171].
Trần Đình Sử cũng thấy biệt tài của nhà văn trong việc sử dụng ngôn
ngữ trần thuật làm cơ sở hình thành hệ thống, giọng điều trần thuật sinh động,
phong phú và đa dạng. tác giả viết: “Anh là nhà văn có biệt tài sử dụng chi
tiết, miêu tả chân dung, môi trường, khắc họa tâm lí…anh lại sành vận dụng
ngôn ngữ nửa trực tiếp, dựng lại được những giọng điệu khác nhau của nhân
vật’’. [21; tr192]
Như vậy, khi tìm hiểu truyện ngắn Nguyễn Minh Châu các nhà nghiên
cứu coi vấn đề ngôn ngữ trong truyện ngắn của ông đó là một trong những
yếu tố quan trọng không trộn lẫn của ông trong bước đường cách tân nghệ
thuật văn chương tạo sự khác biệt giữa hai giai đoạn văn học.
Theo cuốn sách Nguyễn Minh Châu – về tác gia và tác phẩm, thư mục
tài liệu nghiên cứu tác gia, tác phẩm Nguyễn Minh Châu ghi nhận có đến 150
bài viết và công trình nghiên cứu lớn nhỏ. Sáng tác của Nguyễn Minh Châu
còn là đối tượng nghiên cứu của nhiều luận văn tốt nghiệp bậc đại học, cao
học. Có rất nhiều công trình nghiên cứu về Nguyễn Minh Châu sau 1975 và
nhiều ý kiến cá nhân về ngôn ngữ nghệ thuật trong truyện ngắn của ông
nhưng chưa có công trình nghiên cứu nào tìm hiểu sâu về đặc trưng ngôn ngữ.
Kế thừa và phát huy những thành tựu mà các nhà phê bình, nhà nghiên cứu đã
tìm hiểu. Trong khuân khổ cho phép, khóa luận này em mạnh dạn đi sâu vào
tìm hiểu về phương diện ngôn ngữ nghệ thuật trong truyện ngắn của
Nguyễn Minh Châu sau 1975.
Với khuôn khổ một khóa luận tốt nghiệp và khả năng làm chủ các tư
liệu có hạn, chúng tôi tìm hiểu đề tài Ngôn ngữ nghệ thuật trong truyện
ngắn Nguyễn Minh Châu sau 1975 cụ thể qua : Tuyển tập truyện ngắn
Nguyễn Minh Châu.
5
Trong quá trình thực hiện đề tài người viết có thể so sánh với các tác
phẩm thời kỳ trước để thấy những nét riêng, độc đáo trong nghệ thuật của
Nguyễn Minh Châu sau 1975.
6. Phương pháp nghiên cứu
Cùng với việc sử dụng các phương pháp thường dùng trong văn học ở
khóa luận này chúng tôi tập trung vào các phương pháp nghiên cứu sau:
6.1. Phương pháp nghiên cứu tác giả văn học
Muốn chiếm lĩnh được nghệ thuật văn học phải đặt đối tượng nghiên
cứu trong mối quan hệ với cuộc đời và sự nghiệp sáng tác của nhà văn.Vì vậy
phương pháp này rất được coi trọng khi nghiên cứu về đề tài liên quan đến
con người, nghệ thuật của một nhà văn tác giả cụ thể.
6.2. Phương pháp phân tích - tổng hợp
Việc thực hiện đề tài Ngôn ngữ nghệ thuật trong truyện ngắn Nguyễn
Minh Châu sau 1975 cần phải có thao tác phân tích để làm rõ những đặc
điểm những giá trị nghệ thuật từ đó rút ra những nhận xét tổng hợp.
6.3. Phương pháp so sánh
Việc so sánh những tác phẩm của Nguyễn Minh Châu thời kỳ này và
thời kỳ trước nhằm làm nổi bật lên những đổi mới về phương diện ngôn ngữ
nghệ thuật của Nguyễn Minh Châu sau 1975.
7. Đóng góp của khóa luận
Khóa luận góp phần làm rõ những đặc trưng ngôn ngữ nghệ thuật trong
truyện ngắn sau 1975 của Nguyễn Minh Châu qua đó có cái nhìn toàn diện
Vậy ngôn ngữ nghệ thuật là gì?
Ngôn ngữ nghệ thuật còn được gọi là ngôn ngữ văn học, ngôn ngữ sử
dụng trong tác phẩm văn chương. Ngôn ngữ nghệ thuật trong tác phẩm văn
học là ngôn ngữ toàn dân đã được nghệ thuật hoá. Ngôn ngữ ấy được chọn
lọc, gọt rũa, chau chuốt,… và đặc biệt ngôn ngữ ấy phảỉ đem lại cho người
đọc những cảm xúc thẩm mĩ, xúc cảm được nhận biết thông qua những rung
động tình cảm.
Theo Từ điển thuật ngữ văn học, ngôn ngữ văn học: “là một trong
những yếu tố quan trọng thể hiện cá tính sáng tạo, phong cách và tài năng
của nhà văn, mỗi nhà văn lớn bao giờ cũng là tỏa sáng về mặt hiểu biết sâu
sắc ngôn ngữ nhân dân, cần cù lao động để trau dồi ngôn ngữ trong quá trình
sáng tác” [10; tr215].
Theo tác giả Trần Đình Sử trong cuốn Lí luận văn học: “mọi tác phẩm
văn học đều được viết hoặc kể bằng lời: lời thơ, lời văn, lời tác giả,…gộp
8
chung gọi là lời văn. Nếu ngôn ngữ tức là lời nói, viết trong tất cả các tính
chất thẩm mĩ của nó là chất liệu của sáng tác văn học, thì lời văn là hình thức
ngôn từ nghệ thuật của tác phẩm văn học”. [22; tr.313]
Theo Từ điển thuật ngữ văn học thì: “ngôn ngữ mang tính nghệ thuật
được dùng trong văn học. Trong ngôn ngữ học, thuật ngữ này có ý nghĩa rộng
hơn, nhằm chỉ một cách bao quát các hiện tượng ngôn ngữ được dung một
cách chuẩn mực trong cách văn bản nhà nước, trên báo chí, đài phát thanh,
trong văn bản và khoa học”. [10; tr.215]
Như vậy, ngôn ngữ nói chung và ngôn ngữ nghệ thuật nói riêng có vai
trò vô cùng quan trọng thể hiện cá tính sáng tạo, phong cách, tài năng của nhà
văn. Và ngôn ngữ nghệ thuật giúp cho nhà văn, nhà thơ sáng tác ra những tác
phẩm hay và có ý nghĩa.
phẩm tự sự cỡ nhỏ, được viết bằng văn xuôi… Nét nổi bật của truyện ngắn là
sự giới hạn về dung lượng…[1; tr345].
Nhìn chung, các nhà nghiên cứu đều có sự thống nhất khi giới thiệu về
thể loại truyện ngắn trước hết qua dung lượng, qua tính chất của nó và xem:
“hình thức tự sự nhỏ, ngắn” trở thành đặc điểm và dấu hiệu để người đọc
nhân diện nó.
1.1.3.2. Đặc trưng ngôn ngữ của truyện ngắn
Truyện ngắn là một kiểu tư duy mới, sự nhận thức mới về cuộc đời mới
và nó cũng có những đặc trưng cơ bản sau:
Truyện ngắn thường ít nhân vật, ít sự kiện phức tạp. Vì tác giả truyện
ngắn thường hướng tới một khoảnh khắc, phát hiện ra nét bản chất trong quan
hệ nhân sinh hay đời sống tâm hồn con người.
10
Bên cạnh đặc điểm “ngắn” các nhà nghiên cứu còn khu biệt truyện
ngắn ở tính chất giới hạn trong việc phản ánh đời sống và ở hiệu quả nghệ
thuật mà mà nó tạo ra khi so sánh với một thể loại gần gũi với tiểu thuyết.
Là một “lát cắt đời sống”, nhiệm vụ chính của truyện ngắn không phải
là trình bày đầy đủ một bức tranh rộng lớn về xã hội mà chủ yếu tập trung thể
hiện một khoảnh khắc, một bước ngoặt quan trọng nào đó của đời sống, của
đời người.Vì vậy, chất lượng nghệ thuật của truyện ngắn thường được yêu
cầu ở sự chọn lọc, cô đúc, tiết kiệm. Khi sáng tác truyện ngắn, nhà văn cần
chọn lựa ngôn từ; tìm kiếm các chi tiết tiêu biểu nói hết cho tác phẩm; nhân
vật. Kết cấu của một truyện ngắn hay đòi hỏi phải có sự chặt chẽ, đảm bảo
cho sự thống nhất cao độ để có thể tạo nên một hiệu quả nghệ thuật duy nhất.
Từ đó, truyện ngắn tạo nên một ấn tượng sâu sắc trong lòng người đọc. Nói
như Nguyễn Minh Châu “Chỉ cần ít trang văn xuôi...có thể làm nổ tung trong
tình cảm và ý nghĩ của người đọc những điều rất sâu xa và da diết của con
có độ nén cao, đa nghĩa.
Như vậy, những đặc trưng truyện ngắn đã đưa thể loại này thành một
thể loại dân chủ, gần gũi với đời sống thường ngày, lại súc tích, dễ đọc, gắn
liền với hoạt động báo chí, có tác dụng, ảnh hưởng kịp thời trong đời sống. Là
thể loại có khả năng cập nhật và thích ứng linh hoạt trong quá trình phát triển
của mình, truyện ngắn hiện đại cũng đã dung chứa và bao hàm những đặc
điểm của nhiều thể loại khác. Nhìn sang tiểu thuyết, kịch, thơ trữ tình...truyện
ngắn đã biết chọn cho mình mọi khoảng dung lượng, mọi phong cách khác
nhau để làm tròn vai trò của một thể loại nhanh nhạy đi đâu trong việc đáp
ứng những yêu cầu của đời sống – xã hội.
1.2. Nguyễn Minh Châu và quá trình sáng tạo nghệ thuật
1.2.1. Vài nét về tác giả Nguyễn Minh Châu
Nguyễn Minh Châu (1930 – 1989) quê huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ
An. Ông là một trong những cây bút văn xuôi tiêu biểu của văn học thời kỳ
12
chống Mĩ. Năm 1945, ông tốt nghiệp trường Kỹ nghệ Huế với bằng Thành
chung. Tháng 1 năm 1950, ông học chuyên khoa trường Huỳnh Thúc Kháng
tại Nghệ Tĩnh và sau đó gia nhập quân đội, học ở trường sỹ quan lục quân
Trần Quốc Tuấn. Từ năm 1952 đến 1956, ông công tác tại Ban tham mưu các
tiểu đoàn 722, 706 thuộc sư đoàn 320. Từ năm 1956 đến 1958, Nguyễn Minh
Châu là trợ lý văn hóa trung đoàn 64 thuộc sư đoàn 320. Năm 1961, ông theo
học trường Văn hóa Lạng Sơn. Năm 1962, Nguyễn Minh Châu về công tác tại
phòng Văn nghệ quân đội, sau chuyển sang tạp chí Văn nghệ quân đội. Ông
được kết nạp vào Hội nhà văn Việt Nam năm 1972.
Vốn là một sĩ quan tham mưu trong quân đội, Nguyễn Minh Châu sống và
làm việc trước hết với tư cách là người lính, nhưng lại viết văn. Cũng như
nhiều nhà văn mặc áo lính cùng thời, công việc sáng tạo đòi hỏi người cầm
chiến tranh sang hòa bình. Ông có nhiều chuyển biến ngoạn mục với nhiều
tìm tòi đổi mới về tư tưởng và nghệ thuật. Nhà văn Nguyên Ngọc từng nhận
định “ Nguyễn Minh Châu thuộc số những nhà văn mở đường tinh anh và tài
hoa nhất của văn học ta hiện nay” [11]. Ngòi bút của nhà văn đã khiến ông
mạnh dạn đề cập đến hiện thực nhức nhối của đời sống xã hội sau chiến tranh
với những tác phẩm nổi bật như: Những vùng trời khác nhau (tập truyện,
1970), Người đàn bà trên chuyến tàu tốc hành (tập truyện, 1983), Chiếc
thuyền ngoài xa (tập truyện, 1987).
Bằng tài năng và tâm huyết của một nhà văn luôn trăn trở với sự nghiệp
văn học nước nhà, Nguyễn Minh Châu đã thể hiện những thay đổi trong tư
duy nghệ thuật của mình qua hàng loạt tác phẩm. Những truyện ngắn viết vào
những năm 80 của thế kỉ XX in trong các tập Người đàn bà trên chuyến tàu
tốc hành, Bến quê, Cỏ lau của ông tạo nên một hiện tượng mới lạ trong văn
học đương đại. Đánh giá về vai trò của Nguyễn Minh Châu đối với văn học
14
sau 1975, nhà văn Nguyên Ngọc trân trọng khẳng định: “thời gian, nhà phê
bình nghiêm khắc và công công bằng ấy rồi sẽ xác định lại đúng đắn hơn nữa
vị trí của Nguyễn Minh Châu. Song tôi nghĩ, hôm nay cõ lẽ cũng đã có thể nói
không sai rằng Nguyễn Minh Châu thuộc số những nhà văn mở đường tinh
anh và tài năng nhất của văn học ta hiện nay”[12].
Văn học là tấm gương phản ánh hiện thực. Mỗi nền văn học, mỗi giai
đoạn phát triển của lịch sử dân tộc đều có những hiện thực lớn, bao trùm, thu
hút sự quan tâm của xã hội nói chung, của các nhà văn nói riêng trong đó có
Nguyễn Minh Châu. Hiện thực bao trùm và bức xúc nhất của giai đoạn trước
năm 1975 là hiện thực đời sống chính trị xã hội với hai nội dung chính: cuộc
chiến tranh vệ quốc và công cuộc xây dựng xã hội chủ nghĩa thì sau năm 1975
sáng tác của Nguyễn Minh Châu chuyển dần từ mạch cảm hứng sử thi sang
người mở đường rực rỡ cho những cây bút trẻ sau này”. [17; tr46].
Nguyễn Minh Châu khi sáng tác những tác phẩm mang đậm không
khí sử thi hào sảng của thời đại đã thầm lặng suy nghĩ về những bước đi sắp
tới của nền văn học khi cuộc chiến đấu giành độc lập tự do của dân tộc đã
hoàn thành. Ông viết trong Nhật ký: “Trong cuộc chiến đấu để giành lại đất
nước với kẻ thù bên ngoài hai mươi năm nay, ta rèn cho dân tộc ta bao nhiêu
đức tính tốt đẹp như lòng dũng cảm, sự xả thân vì sự nghiệp của Tổ quốc.
Nhưng bên cạnh đó, hai mươi năm nay ta không có thì giờ để nhìn ta một
cách kỹ lưỡng. Phải chăng bên cạnh những đức tính tốt đẹp thì tính cơ hội,
nịnh nọt, tham lam, ích kỷ, phản trắc, vụ lợi, còn được ẩn kín và có lúc ngấm
ngầm phát triển đến mức lộ liễu. Bây giờ ta phải chiến đấu cho quyền sống
của cả dân tộc. Sau này, ta phải chiến đấu cho từng con người, làm sao cho
con người ngày một tốt đẹp. Chính cuộc chiến đấu ấy mới lâu dài”[2; tr463].
Sau chiến tranh, Nguyễn Minh Châu sớm ý thức được đòi hỏi phải đổi mới
văn học và nhà văn đã trực tiếp bày tỏ những suy nghĩ đầy tinh thần trách
nhiệm của một nhà văn trước xã hội và con người.
16
Trong bài báo gây tiếng vang sâu rộng đương thời - Hãy đọc lời ai điếu
cho một giai đoạn văn nghệ minh hoạ Nguyễn Minh Châu đã chỉ ra giới hạn
chật hẹp của quan niệm về hiện thực trong văn học của ta suốt một thời kỳ
dài, mà nhà văn dùng hình ảnh “Cái hành lang hẹp và thấp”[3] khiến cho mỗi
người viết phải tự mình “bạt bớt chiều cao, thu hẹp bớt chiều ngang để có thể
đi lại dễ dàng”[3]. Đó là “thứ văn nghệ minh hoạ”. Cái nhìn hiện thực không
còn bị bó hẹp trong những khuôn khổ có sẵn mà mở ra trong một thực tại đa
chiều, luôn biến động và đầy bất ngờ, như lời Nguyễn Minh Châu: “Cuộc đời
vốn đa sự con người thì đa đoan” [11], mỗi tác phẩm của ông phải là sự khám
phá những quy luật của đời sống, với ý thức ấy, nhiều tác phẩm của Nguyễn
ám ảnh. Người phụ nữ ấy với rất nhiều khả năng và cũng rất nhiều ham hố,
luôn khát khao đi tìm cái tuyệt đối, luôn hành động một cách khác thường, để
rồi phải dành cả đời mình để sửa chữa những lầm lạc, cực đoan của chính
mình. Nếu lão Khúng trong Khách ở quê ra mới chỉ xuất hiện như một tính
cách nông dân độc đáo có phần dị biệt, thì trong thiên tuyệt bút Phiên Chợ
Giát lại là cả một cuộc đời, một số phận. Hiện ra qua dòng độc thoại, hồi
tưởng của nhân vật đặt trên nền cảnh của bao nhiêu sự kiện, biến động xã hội,
lịch sử. Trong lão chứa đựng rất nhiều mặt trái ngược, mâu thuẫn nhưng vẫn
là một “thực thể tự nó”, vừa mạnh mẽ vừa yếu đuối, tỉnh táo sáng suốt mà lại
u tối hoang dại, mang thân phận “người - bò”. Vừa gắng vùng vẫy để giải
thoát lại vừa bất lực, chấp nhận. Sau Chí Phèo, Lão Hạc của Nam Cao và một
số hình tượng nông dân đặc sắc khác trong văn học hiện thực trước 1945, lão
Khúng của Nguyễn Minh Châu nổi bật lên như một hình tượng độc đáo, có
sức khái quát lớn về người nông dân Việt Nam, đồng thời đặt ra một cách da
diết nhiều vấn đề về nhân sinh và lịch sử.
18
Cùng với những đổi mới trong quan niệm và cách tiếp cận hiện thực và
con người, ngòi bút Nguyễn Minh Châu đã có nhiều tìm tòi, thể nghiệm để
đổi mới cách viết và sử dụng ngôn ngữ trong các truyện ngắn.
Tương ứng với sự mở rộng các loại hình nhân vật trong sáng tác sau
1975, Nguyễn Minh Châu đã thành công trong việc sử dụng ngôn ngữ một
cách linh hoạt và trong đó là sử dụng ngôn ngữ trần thuật, ngôn ngữ độc
thoại. Từ những nhân vật được định hình, luôn “trùng khít với chính” nó
trong những tác phẩm mang âm hưởng sử thi, nhà văn đã đi tới khám phá
“Con người bên trong con người” [17; tr.56], phát hiện ra “Con người không
trùng khít với bản thân mình”[17; tr.57] và những quy luật rất phức tạp của
đời sống tâm lý bên trong con người. Nếu như trước đây, diễn biến tâm lý của
tình, ngôn ngữ đậm chất triết lý, suy tư cũng là một phương diện khiến văn
của ông khá sâu sắc và lãng mạn.
Như vậy phải đến những năm sau 1975, xuất phát từ yêu cầu của cuộc
sống. Khi chiến tranh kết thúc, cuộc sống dần trở lại với nhịp sống bình
thường của nó thì cũng là lúc có nhiều vấn đề mới nảy sinh. Con người không
chỉ biết mỗi việc là cầm súng đánh giặc mà còn phải biết làm kinh tế, phải
biết tổ chức lại cuộc sống của mình sao cho phù hợp với hoàn cảnh của thời
bình. Cuộc sống thay đổi làm cho các nhu cầu của con người cũng thay đổi,
những vấn đề cơm áo, gạo tiền, địa vị xã hội… trở thành những mối lo âu
thường trực trong suy nghĩ của nhiều người. Đối mặt với hiện thực đời
thường, ý thức cá nhân trong mỗi con người được thức tỉnh, đòi hỏi phải được
đáp ứng, phải được quan tâm. Quan hệ đời sống cũng trở nên phức tạp hơn,
các ranh giới, khuôn mẫu trong thời chiến nay đã bị xóa nhòa hoặc biến dạng.
Lối sống bao cấp trong nhiều năm dài làm cho con người quen với những nếp
nghĩ đơn giản, khiến cho họ không khỏi có những bỡ ngỡ, va vấp khi đối diện
với những thực tế hoàn toàn khác trước. Trong hoàn cảnh ấy, văn học cũng
cần phải có sự điều chỉnh để nhìn lại mình và tìm tòi một hướng đi mới, một
20