ĐẠI HỌC ọ u ổc GIA HÀ NÔI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHẢN VAN
c a
NGUYỀN THI LIÊN
MỘT SỐ VÂN ĐỂ LÝ LUẬN VỂ T lẾ ư THUYẾT LỊCH s ử
(THÔNG QUA TÁC PHAM h ổ q u ý l y c ủa NGUYEN XI ân khánh
VÀ SÔNG CÔN MỦA LĨI C ÚA NGUYẺN MỎNG GIÁC )
CHUYÊN NGÀNH : VÃN HỌC VIỆT NAM
MÃ SỐ 5.04.33
LUẬN VĂN THẠC s ĩ KHOA HỌC NGỮ VẪN
• • É
Nguời hướng dẫn khoa học : GS.VS Phan CựĐẹ
Hà Noi - 2004
Ể e ù í
Nhân dịp hoàn thành luận văn thạc sĩ, cho phép tác gia được gửi lời cám ơn
chân thành tới các thầy giáo, cô giáo khoa Văn học đã lận lình giúp đỡ tác giả
trong quá trình học tập tại Trường Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn. Đặc
biệt tác giả xin được bầy tồ lòng biết ơn sâu sắc và Irân trọng nhâì tới thầy giao -
GS .vs Phan Cự Đệ - người đã định hướng đề tài và ân cần hướng dẫn, giúp đỡ
tác giả trong suốt quá trình thực hiện đề tài luận văn thạc sĩ khoa học ngữ văn.
Hà nội ngày oỏ tháng 12 năm 2004
H ọc viên
N g u yên T hị L iên
Jin ủ n OÚỈI -Jiitte i t Lit oa hoe iH ỊŨ v a tt
fH if it if h i jti t M i (it
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài.
^ ^ ũ n g như trên thế giới, ở Việt Nam, tiếu thuyết ra đời muộn nhưng có
một tốc độ phát triển mạnh và sớm đạt được những thành lựu đáng kế.
Trong quá trình cách tân và hiện đại hóa nền văn học nước nhà những
năm đầu thế kỷ XX, tiểu thuyết đóng một vai trò vô cùng quan trọne. Nhưng O'
Gần ba mươi năm sau ngày đất nước hoàn toàn giải phóng, không khí chiến
tranh dường như đã lắng lại. Nhất là gần đây khi đất nước đang trên đa phát triển,
trong văn học hiện đại mảng tiểu thuyết lịch sử còn thiếu. Hơn nữa, sau chiến
tranh các nhà văn mới có điều kiện nghiên cứu sách vở, xem lại cac công trình lịch
sử một cách có hệ thống, đi thăm các di tích lịch sử ở khắp mọi miền đất nước.
Các vùng miền cũng có điều kiện đế khôi phục các đền thờ, gia phá, lẻ hội. Các
bảo tàng lịch sử, bảo tàng dân tộc học ngày một phong phú. đa dạng và thêm
nhiều tài liệu mới. Đó là chưa kể rất nhiều khán giả Việt Nam đang say mê với thé
loại phim lịch sử và dã sử của truyền hình Trung Quốc
So với nhiều nước trên thế giới, lịch sử văn xuôi hiện đại còn một món nự lớn
đối với quá khứ: dựng lại các thời kỳ lịch sử hào hùng của dân tộc, làm nổi bật
truyền thống dựng nước và giữ nước của nhân dân ta. Mặt khác dưới ánh sáns của
thời kỳ đổi mới tư duy, cần đánh giá lại một cách khoa học, khách quan nhiều
nhân vật trong lịch sử: Trần Thủ Độ, Hổ Quý Ly, Nguyễn Trường Tộ V.V Tất ca
những điều đó đã thúc đẩy tiểu thuyết lịch sử tiến lén một bước mới với nhiỏu
phong cách ngày càng hiện đại hơn. Những thập niên cuối thế kỷ XX và những
năm đầu thế kỷ XXI đã có một mùa tiểu thuyết lịch sử nở rộ với rất nhiều mrơns
mặt như Vũ Ngọc Đĩnh, Chu Thiên, Thái Vũ, Nguyễn Xuân Khánh. Nsuven
Mộng Giác, Nam Dao, Trần Bá Chí, Hàn Thế Dung, Nguyễn Khắc Phục Đặc
biệt là từ sau thời kỳ Đổi mới, tiểu thuyết lịch sử đã dần bộc lộ được cái the mạnh
của một thể loại văn học khai thác đề tài từ lịch sử.
Sự phát triển mạnh mẽ của của tiểu thuyết lịch sử ở giai đoạn này đã ít nhiều
gây được sự chú ý của độc giả và giới nghiên cứu. Bởi thế, việc tìm hiếu vé tiêu
thuyẽt lịch sử trong sự phát triển chung của văn học là một việc làm có ỷ nslYĩa
M iiậễi o à ít tjiiite it k h o a /ỉ ru• iiế/à o ù ii
()(qnụễu Jhi ẤLièit
thời sự hiện nay. Chính tính chất thời sự ấy đã thúc đẩy chúng tỏi hướng tìm hiéu
vấn đễ này. Trong luận văn, chúng tôi muốn tìm hiểu vé những giai đoạn, những
nhân vật lịch sử được các nhà văn chọn làm đề tài, đó là những thời kỳ nhiều biên
động, những nhân vật còn gây nhiều tranh luận Cũng từ những đề tài ấy thấy
Thi pháp học:
- Thi pháp tác phẩm, thi pháp thể loại.
5. Lịch sử vấn đề.
Năm 1942 Vũ Ngọc Phan trong cuốn ‘W/|À ván hiện đại” đã đề cập đến các
tác giả Phan Trần Chúc, Đào Trinh Nhất, Nguyễn Triệu Luật, Trần Thanh Mại
và các tác phẩm của họ. Qua đó phân biệt khá rõ ràng giữa lịch sử, ký sự lịch sứ và
tiểu thuyết lịch sử. Ông cho rằng: “Viết tiểu thuyết lịch sử, nhà văn chỉ phải cãn cứ
vào vài việc cỏn con đã qua rồi vẽ vời cho ra chuyên lớn, cốt giữ cho mọi việc
đừng trái với thời đại mà không cần phải toàn sự thật”. Dường như đâv là mội
trong những công trình ít ỏi trước cách mạng tháng Tám bàn về vấn đổ the nào là
tiểu thuyết lịch sử.
Sau 1954 ở miền Bắc trong công trình nghiên cứu về văn học sử Việt Nam lập
III của nhóm Lê Quý Đôn có giới thiệu một phần về Nguyễn Tử Siêu với lư cách
là một nhà văn viết tiểu thuyết lịch sử. Còn ở miền Nam có cuốn "Văn học thời
Pháp thuộc” và cuốn “Vổ/Ỉ học Việt Nam giản ước tán biên ” của Phạm Thê Nsữ
có đề cập đến tiểu thuyết lịch sử Việt Nam trước cách mạng tháng Tám sons cũng
chỉ dừng lại ở mức độ giới thiệu sơ lược.
Năm 1957 có cuộc tranh luận về cuốn Tiêu Sơn tráng sĩ giữa Phan Cự Đệ,
Trương Chính, Văn Tân với Trần Thanh Mại. ở cuộc tranh luận cũne nêu lên nét
đặc trưng trong tiểu thuyết lịch sử của các nhà văn lãng mạn. đó là nhân vậi
thường mang tâm trạng của tác giả trong thời hiện đại.
Năm 1961 trong cuốn “Ngô Tất Tô tác phẩm" tập ] do Phan Cự Đệ sưu tấm
và biên soạn, ở Lời giới thiệu nhà nghiên cứu đã khắng định: Những tiếu thuvêt và
4
Miiậti tuttt ^
7
ltạe St Uỉioa ỉuư* ttí/ũ o àn
C)(íỊỊUỊỈtt ji t i ẤLìêu
truyện lịch sử viết vào năm 1935 của Ngô Tất Tố (Lịch sử Để Thám, Vua Ham
Nghi với việc kinh thành thất thủ) chính là kế tục truyổn thống cua dòng vãn học
nước. Nhưng tác phẩm này lại là một tiểu thuyết lịch sử có luận đê, luận đê YC
cách mạng Việt Nam. Người viết luôn hướng về hiện đại, kêu gọi đổng bào trong
nước nổi dậy làm cách mạng”.
Trong Tạp chí văn học sô 4/1980 ớ bài viết: “Tit tiểu thuyết Trùng Quang
tàm sử nghĩ về đê tài lịch sử chổtìíỊ Trunẹ Quốc xâm ỉưực qua mọt sỏ sán" lác
hiện nay" Nguyễn Phương Chi đã nghiên cứu Trùng Quang tâm sử lừ góc nhìn
thể loại - thể loại tiểu thuyết lịch sử và từ đề tài lịch sử. Đây là một trong những
hướng nghiên cứu mới về cuốn tiểu thuyết luận đề của Phan Bội Châu.
Nhà văn Nguyễn Tử Siêu và các tác phẩm tiểu thuyết lịch sứ của ông là đối
tượng được giới nghiên cứu để tâm nhiều nhất. Nguyễn Đình Chú ở bài vici “CY/Í*
thê hệ nhà văn trong ngót một trăm năm nôi tiếp nhau soi lại lịch sử" đã niu
lên những đóng góp của Nguyễn Tử Siêu qua tiểu thuyết lịch sứ viết vé đê tài
chống phong kiến phương Bắc bằng một ý thức và một cảm hứng dân tộc sâu
nặng.
Hai tác giả Trần Đình Hượu và Lê Trí Dũng trong cuốn “Ván học Việt Nam
giai đoạn giao thời 1900 - 1930” ở chương viết về truyện ngắn và tiểu thuyết có
nói đến tiểu thuyết lịch sử của hai tác giả: Đinh Gia Thuyết với tác phẩm “Ngọn
cờ vàng” và Nguyễn Tử Siêu với tác phẩm ‘7/«í bà đánh giặc”\ Họ khantz định
rằng: hai tác giả tiểu thuyết lịch sử đều có ý thức dùng lịch sứ đế kêu gọi lòng you
nước, tình đồng bào”.
Nguyễn Huệ Chi - Lê Chí Dũng trong “Từ điển văn học” tập 2; Nguyen Thị
Phin trong luận văn sau đại học ‘'Bước đầu tìm hiểu thơ văn Nguyẻn Tứ Siêu:
Nguyễn Huệ Chi - Vũ Thanh trong ‘ Những đóng góp của Nguyễn Tử Sieu cho
loại hình tiêu thuyết lịch sử giai đoạn đầu thế kỷ" (Tạp chí văn học sô 5/1996)
đều khẳng định tiểu thuyết lịch sử của Nguyễn Tử Siêu có giá trị làm sốim lại
những trang sử chống xâm lược vẻ vang của dân tộc, khơi gợi lòng tự hào về
truyền thống hào hùng của cha ông.
6
JJjiitH tùtiề CJiute it Liitu t it oe tnậữ o an
filtfittftti 7/if Jit i'll
M iiâ ti í)/t»i (Jliite s ĩ U iitm h oe ÍÌÍỊU O iiíi
Q(ijitụêtt ỉ h i ẨU ĩ'ít
về lối cảm nhận độc đáo của nhà văn Nguyễn Xuân Khánh dành cho nhãn vậi lịch
sử đặc biệt này. Cảm nhận ây đã tạo ra sự khác biệt với lối đi chung của các nhà
văn khai thác đề tài Hổ Quý Ly từ trước đến nay.
Riêng Sông Côn mùa lũ được in ở nước ngoài, sau này mới được Trung tám
nghiên cứu Quốc học cho tái bản. Vì thế việc đọc và phê bình tác phẩm háu nhu
còn vắng vẻ. Bài viết của Mai Quốc Liên: ‘'Sóng Côn mùa lũ - Con sông của
những số phận đời thường vù những số phận lịch sir đăng trên Tạp chỉ Nhtì vãn
số 4 - 2003 đã ca ngợi sự thành công của một tác phẩm dài hơi. Sự thành cong áy
thể hiện trong việc xây dựng nhân vật lịch sử Nguyễn Huệ và nhán vật hư cáu: An
(con gái thầy giáo Hiến).
Nhìn chung, về góc độ lý luận nghiên cứu tiểu thuyết lịch sử đã được đề cập
đến ở nhiều công trình nhưng chưa có sự chuyên sâu. Riêng hai tác phẩm chọn
nghiên cứu trong đề tài này cũng chưa được thẩm định Ư góc độ đặc trưng thể loại.
8
M uậ ễi o ủt ỉ s ĩ Llto a h ọe í tí/ft v ù n
{) (íỊ iiifíu nu t ì Mti'ti
Chương I
HƯ CẤU VÀ S ự THỰC
LỊCH SỬ TRO NG T lỂ U THU Y ẾT LỊCH s ử
1. Tiểu thuyết lịch sử.
1.1. Sơ lược vê tiểu thuyết.
Tiểu thuyết là một thể loại chưa định hình, đang biến động, M. Bakhtin cho
rằng: “Tiểu thuyết là thể loại văn chương duy nhất đang biến chuyến và còn chưa
định hình. Những lực lượng cấu thành thể loại này còn đang hoạt động trước mãi
chúng ta. Thể loại tiểu thuyết ra đời dưới ánh sáng thanh thiên bạch nhật cua lịch
sử. Nòng cốt thể loại tiểu thuyết chưa hề rắn lại và chúng ta chưa thể dự đoán được
khả năng uyển chuyển của nó” (1/12)
Đưa ra một định nghĩa đúng và hoàn chỉnh về tiểu thuyết không phai là điều
tự thời gian mà đã biết phối hợp chúng theo một hệ thống nhân quá khăng khít.
Nhưng tinh tiết dù éo le đến mấy cũng chưa đủ gây hứng thú. Tiểu thuyêì căn
bản phải trình bày tính cách nhân vật thể hiện qua những tình tiết đó. Sự hấp dẫn
cúa tiểu thuyết suy cho đến cùng là sự thu hút cúa nhân vật với chiều sáu tám lý
của nó chứ không phải chỉ là một cốt truyện phát biểu. Chính đó mới là sự khác
nhau căn bản giữa tiểu thuyết với truyện trinh thám, thê truyền kì hay truyện IIsụ
ngôn Như vậy, một tác phẩm được thừa nhận là một cuốn tiểu thuyêt thực sự
theo quan niệm truyền thống phải hội đủ cả hai yếu tố vừa chú ý đến tình tiết vừa
chú ý đến việc xây dựng tính cách của nhân vật.
Tiểu thuyết còn có một nét đặc trưng nữa là tính chất văn xuôi cua đời song.
Stendhal khẳng định: “Tiểu thuyết như tấm gương đi dạo trên đường cái lớn. Nó
phản ánh khi thì màu xanh thẳm của bầu trời, khi thì chất bùn nhơ cua nhữns vũng
lầy trên đường cái” (63/20). Tiểu thuyết miêu tả mọi yếu tố bề bộn của cuộc đời:
cái cao thượng, cái thấp hèn, cái vĩ đại lẫn cái tầm thường, cái nghiêm túc lan cái
lố bịch, cái bi lẫn cái hài, cái thiện lẫn cái ác Với đặc trưng này, tiểu thuyết là
một thể loại dân chủ nhất.
10
M ita ti oà ft £7Zf«<? St Littut itfie ttifii i)4ttt
r ỉ(t/1! ij t'tt
7 / / /
Mii'ti
Tóm lại: Tiểu thuyết là một thê loại văn học có khả năng khái quát và tỏng
hợp cao nhất những hiện tượng của cuộc sống. Chính khả năng này đã khiên
cho tiểu thuyết có thê miêu tả cuộc sống như một thực tại đang biến động cho
dù đé tài và chất liệu có thê lấy từ quá khứ. Bởi vậy, tiểu thuyết là mọt the loại
không đứng yên mà luôn luôn biên động.
1.2. Khái niệm tiểu thuyết lịch sử.
1.2.1. Thế nào là tiểu thuyết lịch sử.
Tiểu thuyết lịch sử là những tác phẩm mang trọn đặc trưng của tiêu thuyết
nhưng lại lấy nội dung lịch sử làm đề tài, làm cảm hứng sáng tạo nghẹ thuật. Dựa
sử. Chính cái “thật hơn” ấy đã mang tính nghệ thuật thông qua sự cá thê hóa và
khái quát hóa - vốn là đặc nét trưng của thể loại tiểu thuyết. Chính nó làm nén sức
mạnh truyền cảm, chinh phục mạnh mẽ tâm hồn và trí tuệ độc giả khi đọc tiếu
thuyết lịch sử.
* Vê phương diện đề tài: Có người quan niệm đề tài trong tiểu thuyết lịch sứ
thường đơn giản. Thực ra không phải vậy vì: “Chú đề thường đơn gián khống phái
là nét riêng của tiểu thuyết lịch sử. Chủ đề đơn gián hay phức tạp ở tiểu thuyết lịch
sử cũng như ở các tiểu thuyết khác đó là những vân đề của cuộc sống mà rác uia
gửi vào trong tác phẩm nhiều hay ít, do dung lượng cúa tác phám quyết định’'
(12/52).
1.2.2. Công việc của người viết tiểu thuyết nói chung vù tiíịười viết liêu thuyết
lịch sử.
Nhà văn Nguyễn Xuân Khánh cho rằng: “Tiểu thuyết lịch sử cũnc là viết về
một đề tài, viết khi có hứng thú, có cách tiếp cận riêng”. Chỗ khác nhau la môi
trường của nhân vật tiểu thuyết lịch sử không giống môi trường của nhan vậi ở các
tiểu thuyết khác. Tiểu thuyết lịch sử phải đi vào quá khứ bằng mọi cách, đào sàu
vào quá khứ, có đủ vốn sống về quá khứ một cách tổng hợp, đó là những hiốu bièt
về sử học, địa lý, dân tộc học Vì môi trường của tiểu thuyết lịch sử thuộc về quá
12
M iíâ ti íù tíi tfltiU i i/ u/itìa h ọe íit/ù ứ im
()(iỊUỉỊỈn 7!it Jlivtt
khứ. Cho nên nó đòi hỏi người viết tiểu thuyết lịch sử phải tìm cách dựng lại bức
tranh quá khứ bằng một quá trình nghiên cứu công phu. Dựng lại cuộc sống trong
tiểu thuyết sao cho càng sinh động, càng phong phú và có khi thật hơn cả cưộc
sống thật ở ngoài đời thì tác phẩm có giá trị lớn. Nhà vãn không sao chép hiện
thực mà sáng tạo (sự sáng tạo vốn là một nét đặc trung cua nghệ thuật và cũng là
đặc trưng của thể loại tiểu thuyết): “Cái khuynh hướng của tiểu thuyết bày giờ là
rất gần gũi với sự sống để được linh hoạt như cuộc đời”.
2. Sự giông nhau và khác nhau giữa nhà sử học và người viết tiểu thuyết lịch sử
Giữa tiểu thuyết lịch sử và sử học có sự liên quan với nhau. Điêrn giống nhau
sử học, giáo sư Phan Cự Đệ trong cuốn “Nguyễn Huy Tưởng” (viết chun” với
giáo sư Hà Minh Đức) nhận định: “Việc nghiên cứu lịch sử là vô cùng cán thiết
đối với nghệ sĩ. Nhưng sự nghiên cứu ấy không thế thay thế sự sáng tạo. Có khi
người nghệ sĩ chỉ cần vài khoảnh khắc trong đời sống của nhân vật lịch sứ. có khi
nghệ sĩ đưa vào tác phẩm những điều phi lịch sử không quan trọng, thậm chí trong
một chừng mực nào đó, có quyền vi phạm sự đúng đắn về mặt sự kiện lịch sư. Bởi
vì tác giả chỉ cần sự đúng đắn lý tưởng mà thôi” (23/28).
Nhà nghệ sĩ (nhà văn viết tiểu thuyết lịch sử khác với nhà sử học ớ chỗ họ
phải làm sống lại những tài liệu lịch sử bằng trí tưởng tượng, bằng hư cấu nghệ
thuật. Sử gia và nghệ sĩ cùng có nhiệm vụ là vẽ lại bức tranh của một thời đã qua
nhưng lại có những đối tượng khác nhau. Hư cấu là quyền và việc khôns thê thiếu
của người sáng tác văn học, sáng tác tiểu thuyết lịch sử cũng không ra ngoài thòng
lệ ấy. A. Tolstoi viết: ‘Trong mỗi tác phẩm nghệ thuật kể cả tiểu thuyết lịch sứ.
truyện lịch sử, chúng ta đánh giá trước hết sự tưởng tượng của tác giả, người khôi
phục lại, dựa theo những tài liệu có được, bức tranh sinh động của thời đại và giai
thích thời đại ấy” (13/48). Nghệ sĩ sử dụng quyền sáng tạo và hư cấu để bố suim
cho những chi tiết, những thời kỳ mà lịch sử không nói đến hoặc nhữns "điểm
trắng”. Và nếu anh ta trình bày nhân vật của mình trong các tư thế lịch sứ thì đó
chính là chưa làm tròn nhiệm vụ . Đời sống riêng và tâm lý nhân vật, dẫu khôim cỏ
trong những văn kiện lịch sử nhưng đối với nghệ sĩ nó có ý nghĩa vô cùim quan
trọng. Đúng như nhà văn Nguyễn Mộng Giác phát biểu trong cuộc irao đối với nhà
văn Nam Dao (tác giả cuốn tiểu thuyết lịch sử “Gió lửa”y. “Lí do hiện hĩru cua
14
Jilt â tế oản ZJhiU* sĩ Lima it oe 9ÌÍỊŨ 049ti
Q(</ttfjêti 7 /ii Mi ỉ'ti
tiểu thuyết là khám phá những gì mà chỉ có tiểu thuyết mới khám phá được” (Dan
theo tài liệu số 9).
Với nhà văn Nguyễn Đình Thi: “Nếu mục đích chính của người viết la ké lại
sự việc thì đó là viết lịch sử hoặc kí sự. Người viết lịch sử khi ưình bày mội nhân
vật thì trước hết nêu lên kết quả của việc làm của nhân vặt ấy. Người viei tiêu
dáng vẻ riêng, về căn bản Hoàng Lê nhất thông chí là cuốn truyện ký viết theo
lối chương hồi. Ngoài việc tường thuật các sự kiện, các tác giả đã chú ý đến việc
xây dựng nhân vật, dựng lên những tính cách điển hình nhất định.
Tác giả Ngô gia văn phái không chỉ trình bày nhân vật trong cái tư thế lịch sử
mà còn cho chúng ta biết nhiều mặt của đời sống con người, thậm chí cà những
mặt sinh hoạt riêng tư, thầm kín của họ như mối quan hệ Quẩn Huy - Đặng Thị
Huệ, câu chuyện tâm tình tương đắc giữa Nguyễn Huệ và Ngọc Hân Tác giá cua
Hoàng Lê nhất thông chí không chỉ ghi lại hành động của các nhân vật mà đã cố
gắng đi sâu vào tâm lý, tư tưởng, tình cảm của con người.
Với Nguyễn Huy Tưởng, ông đã tái hiện lịch sử theo lối riêng của mình, khai
thác những sự kiện nằm ở khúc quanh của lịch sử trong thời điểm xảy ra các biến
cố dữ dội, đầy sóng gió thác ghềnh với con người và đất nước “Tôi đi tìm chân lí
từ những sách triết học, từ thuyết Nhân Nghĩa của đạo Nho, cho đến thuyết từ bi
bác ái của đạo Phật, tôi dựa vào chủ nghĩa sức mạnh của Nietzsche bởi vì ý nghĩa
đối với dân tộc yếu hèn thì sức mạnh là con đường giải thoát - tôi vùi đầu vào đống
sách lịch sử để lấy cái vinh quang của ông cha mà bổi dưỡng lòng tự hào dân tộc,
kích động lòng yêu nước của đổng bào” (dẫn theo tài liệu số 41)
Trong Đêm hội Long Trì, ông đã bồi đắp cho nhân vật có vóc dáng cụ thể.
Không tập trung khai thác vào mối quan hệ Trịnh Sâm - Đặng Thị Huệ như một
vài cuốn sách khác. Tác giả lấy Đặng Mậu Lân làm đầu mối cho các quan hệ
Đặng Lân - Quỳnh Hoa, Đặng Lân - Nguyễn Mại để làm đối lập giữa sự tàn ác
thô bỉ của dục vọng với vẻ đẹp mềm mại và tình yêu thơ mộng, đối lập giữa tội ác
và công lý. Từ một Đặng Mậu Lân trong lịch sử đến Mậu Lân trong truyện, nhân
vật được khai thác tỉ mỉ hơn, sinh động hơn. Mặc dầu vậy, những tiểu thuyết lịch
sử trước 1945 của ông như Đêm hội Long Trì, An Tư công chúa đã tỏ ra khá
trung thành với tinh thần của những thời đại quá khứ xa xưa. Ông đã chú ý tìm tòi
16
Jlu â n où n &hti€t it Ulttìa htio m/ll iMitt
W ( /« í / // f ' l i ẨÍÌĨH
nghiên cứu các tài liệu lịch sử, những tác phẩm của các nhà văn quá khứ. Cánh
i ĩ UI
Ki a fií)t‘ m jũ'
tuin ' )(t/u I/ill '~Jhi ẨUỈH
3. Phạm vi hư cấu của tiểu thuyết lịch sử.
Tiểu thuyết lịch sử lấy đề tài có sẵn trong lịch sử nhưng quyền hư cấu cho
phép người viết tiểu thuyết lịch sử có sự sáng ĩạo.
Tác phẩm Hoàng Lê nhất thông chí sử dụng lối viết chương hồi, nội dung là
bộ truyện ký, ghi chép toàn bộ sự thật không thiên vị. Khả năng nghệ thuật cua các
tác giả thể hiện trong việc: cá thể hóa tính cách nhân vật. Không chỉ kể những việc
nhân vật đã làm (giống cổ tích và truyện Nôm) mà đã biết nhấn mạnh đến cách mà
nhân vật đã làm những việc đó nữa. Nghĩa là, xung quanh những sự thực lịch sử
/ nòng cốt, các tác giả đã thêm thắt những chi tiết, những câu đối thoại của nhân vật
để cho câu chuyện trở nên sinh động và thuyết phục. Phần văn học (là hư cấu,
tưởng tượng) làm cho chúng ta hiểu sâu sắc hơn phần lịch sử chứa đựng trong tác
phẩm. Tuy nhiên, ở tác phẩm này hiện thực vẫn chiếm ưu thế, yếu tố lịch sử vân
lãn át yếu tố văn chương (bởi tác phẩm này vẫn nằm trong phạm trù văn học trung
đại với trạng thái văn, sử, triết bất phân).
Theo nhà văn Nam Dao thì: “Ngoài dòng chính sử, còn có phân lịch sử được
hình thành qua trí tưởng tượng, óc phán đoán và cao hơn là sự nhạy cảm từ quá
khứ những vấn đề của con người và xã hội hiện vẫn tổn tại. ở đây, biến cố lịch sử
trở thành đối tượng đem soi dưới lăng kính chủ quan, nhào nặn lại đê rồi, qua ngòi
bút người viết trở thành tiểu thuyết lịch sử” (46/3,4). Vậy nên, viết tiểu thuyết lịch
sử cũng có những trách nhiệm nhất định. Với những sự kiện lớn trong lịch sử nhất
thiết không được đảo về thời gian, xê dịch về không gian, không được xây dựng
khác. Người viết có quyền hư cấu những chỗ mà sử gia phong kiến bỏ, hoặc có
viết mà đời sau đã xóa (điều này cả người viết sử và người nghệ sĩ đều có quyền
đánh giá lại những sự kiện lịch sử đó).
Rõ ràng, bằng hư cấu sáng tạo, tiểu thuyết lịch sử đã tạo nên bức tranh quá
khứ một cách hết sức sinh động, đa chiều. Đó là tính ưu việt của nó so với bức
tranh lịch sử đã chụp, bởi người ta nhận ra nó qua ngôn ngữ, qua mối quan hệ đa
liệu số 2). Trên cái nền là không khí Đại Việt thưở ấy, Nguyễn Xuân Khánh đã tạo
nên hình ảnh cuộc chạy đua của hai thế lực: phe đổi mới cực đoan (đứng đầu là Hổ
Quý Ly) và phe phù Trần bảo thủ (trụ cột là Trần Khát Chân và Trần Nguyên
Hàng).
19
Ẩliiãn aả ít ắĩ U ltíìa hoe ễitjữ vù n
7 / / /
Ẩíiêít
Tác phẩm của ông không đặt ra vấn đề săn đuổi sự kiện, mà là lý giái sự kiện
với nghệ thuật và nhân sinh, không phải là sự bùng nổ của thông tin mà là sự sáng
tỏ những gì ẩn khuất bên trong sự vật. Ông xứng đáng là một nhà tiểu thuyết tài
năng bởi tác phẩm của ông tôn trọng hai điều luật quan trọng nhất: “chỉ nói những
điều chưa nói ra và luôn tìm kiếm một hình thức tự sự mới” (3/107).
Viết tác phẩm Hồ Quý Ly, ông chỉ mượn không khí lịch sử của cuối triều
Trần từ một vài câu, vài dòng trong Đại Việt sử ký toàn thư. Phần lớn do hư cấu
và tưởng tượng. Trong tác phẩm này có rất nhiều sự kiện lớn đã xảy ra trong lịch
sự Đại Việt: Cuộc chiến với quân Chiêm Thành; Hồ Quý Ly viết Minh Đạo; Hổ
Quý Ly xây dựng Tây Đô và mở hội thề Đốn Sơn Tất cả những sự kiện ấy tập
trung làm nổi bật một sự kiện lớn nhất: phe phù Trần kiên quyết giữ ngôi báu, giũ'
đất nước trong trạng thái “xưa cũ” và phái cải cách nhằm đoạt ngôi báu, thâu tóm
quyền hành để tạo nên hình ảnh đất nước mới.
* Cuộc chiến với quân Chiêm Thành
Sách Đại Việt sử ký toàn thư có viết: Tháng 10 năm 1389 Chăm Pa đánh ra
Thuận Hóa. Hồ Quý Ly chỉ huy bị thua trận . Hơn 70 tướng bị giết. Quý Ly bỏ về,
xin quân cứu viện không được, bèn từ giữ chức. Nghệ Tôn cử Trần Khát Chân đem
quân Long Tiệp vào chống cự.
Sự kiện này được phát triển thành chương V trong tác phẩm Hồ Quỹ Ly. Đây
là một chương truyện làm nổi bật tình thế nguy ngập của Đại Việt: phía bắc nhà
Minh nhòm ngó, quân Chiêm Thành ở phương nam tấn công liên tiếp, có các tôn
thất nhà Trần xin đầu hàng để làm quân dẫn đường (Trần Nguyên Diệu) và trong
* Viết Minh Đạo.
Trong chính sử Quý Ly viết Minh Đạo “phê phán Khổng Tử, chê trách các
nhà Tống Nho, đề cao Chu Công”, trở thành một hiện tượng đặc biệt ở thời điểm
lúc bấy giờ. Trong tiểu thuyết, Minh Đạo ra đời cũng gây nên làn sóng mạnh
trong đời sống văn hóa Đại Việt bởi nó động chạm đến tầng lớp nho sĩ và những
điều họ tiếp thu từ sách thánh hiền. Ông ca ngợi vua Trần Minh Tông không chịu
đổi theo khuôn mẫu lễ giáo Trung Hoa. Những người thân cận với ông thì tung hô
hết lời. Hồ Hán Thương đã đốt hàng trăm ngọn nến để đọc “ý tưởng của cha như
những viên ngọc lấp lánh trước mặt”. Còn Nguyễn cẩn khẳng định: “đó là đường
đi của minh chủ”. Những người đồng thanh tương ứng với ông, trong họ đang cháy
một bầu máu nóng hoàn toàn mới mẻ.
Cuốn sách chính là tư tưởng, là suy ngẫm và trăn trở của một đời người.
Nguyên Trừng có lẽ là người khách quan nhất khi nhận định rằng: “Quyến sách
21
Jit tun aủếi O/íAỂ ẵi LJifia it oe tếíỊtl từtti
Q íiỊ iti/êễt 'Tểtì Ẩliỉtt
của cha bàn về sự đổi thay nhưng là sự đổi thay cực nhanh. Cha làm quan mà lại
bàn việc của vua cha đã phạm chính danh”. Hầu hết kẻ sĩ đã phản đối quyết liệt,
nhất là Đoàn Xuân Lôi. Trong cuốn Trần sử của Văn Hoa cũng có một chương
luận bàn về Minh Đạo với nhiều điểm không đồng tình.
Đối diện với sự phản đối gay gắt ấy, Quý Ly giận và buồn bởi tầm mắt quá
ngắn của kẻ sĩ. Ông hiểu rằng chưa thê có họ đi cùng trên con đường mà ông
chọn.
* Xây dựng Tây Đô và mở hội thề Đốn Sơn
Trong suy ngẫm của Quý Ly, Thăng Long là một kinh đô không có lợi về địa
thế quân sự, kinh đô bỏ ngỏ. Từ ý định ấy cùng với mọi quyền hành trong tay, ồng
đã xây dựng kinh đô ở một địa thế hiểm yếu vùng Tây Đô. Lý do khách quan là
xây kinh đô mới để chống chọi với giặc phương Bắc đang ngày đêm rình rập.
Nhưng thực ra Quý Ly muốn thoát khỏi vùng ảnh hưởng của nhà Trần, hơn nữa
xây kinh đô ở đất thang mộc vốn là một nếp cũ của các thời đại (giống như phủ
Ly chột dạ đứng dậy. Vệ sĩ ủng hộ xuống lầu. Ngưu Tất quăng gươm xuống đất
nói: “Cả lũ chết rồi”. Việc tiết lộ, các tôn thất Trần Nguyên Hàng, Trần Nhật Đôn
và tướng quân Khát Chân, Khả Vĩnh, hành khiển Hà Đức Lân, thượng thư Lương
Nguyên Bưu và tất cả liêu thuộc, thân thuộc cộng hơn 370 người bị giết.
Tịch thu gia sản, con gái bắt làm tì, con trai từ một tuổi trở lên hoặc chôn
sống, hoặc dìm nước, lùng bắt dư đảng mấy năm không thôi. Người quen biết
nhau chỉ nhìn bằng mắt không dám nói chuyện với nhau. Nhà dân không chứa
người đi đường ngủ đỗ, các xã đặt các điếm tuần đêm ngày canh phòng xét hỏi.
Lễ minh thệ từ đây bỏ không làm nữa.
( Đại Việt sử kí toàn thư lịp 2 - NXB khoa học xã hội - Trang 205, 206).
Hội thề Đốn Sơn chính là kết quả tất yếu của cuộc đấu tranh giữa những âm
mưu thuộc hai phe phái. Cả hai phía đều kiên quyết bảo vệ lý tưởng. Mâu thuẫn
của Quý Ly và Khát Chân đã được đẩy lên đến đỉnh cao và dùng hội thề Đốn Sơn
như một quyết chiến điểm trong cuộc giao tranh sinh tử ấy. Phe phù Trần thất bại
vì ở Đốn Sơn họ bị cô lập (những đạo quân trung thành đã bị lưu lại Thăng Long).
Còn Quý Ly thoát khỏi Thăng Long như hổ mọc thêm cánh.
Cuộc mưu sát là những trang viết cuối cùng của tác phẩm hơn 800 trang, là
kết cục của một cuộc chạy đua, là cột mốc lịch sử đẫm máu (dĩ nhiên, trong lịch
sử, sự thay thế các triều đại thì việc đổ máu không phải là một ngoại lệ). Cuộc đối
thoại của Khát Chân và Quý Ly đã chứng tỏ mỗi con người đã xác định được vị trí
23