Tài liệu Tiểu luận "Một Số Vấn Đề Lí Luận Về Kinh Tế Tư Nhân" - Pdf 10

TIỂU LUẬN
Đề tài: Tín dụng trong nền kinh tế thị trường định
hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam
MỤC LỤC
I. M t S V n Lí Lu n V Kinh T T Nhân .ộ ố ấ Đề ậ ề ế ư 2
1.1. Tính t t y u t n t i Kinh T T Nhân :ấ ế ồ ạ ế ư 2
1.2 Vai trò v v trí c a th nh ph n kinh t t nhân .à ị ủ à ầ ế ư 4
1.3 Các b ph n c a kinh t t nhân .ộ ậ ủ ế ư 15
1.4 NH NG H N CH C A TH NH PH N KINH T T NHÂN .ữ ạ ế ủ à ầ ế Ư 18
II . TH TR NG C A KINH T T NHÂN .ự ạ ủ ế Ư 22
III: K T LU NẾ Ậ 39
I. Một Số Vấn Đề Lí Luận Về Kinh Tế Tư Nhân .
1.1. Tính tất yếu tồn tại Kinh Tế Tư Nhân :
Mục tiêu xây dựng cnxh ở nước ta theo chủ nghĩa mac Lenin và tư
tưởng hồ chí minh . Một trong những nhiệm vụ là xác lâp quan hệ sản xuất
phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất , nhằm phát triển kinh
tế xã hội . trong đó nội dung cốt lõi là xác lập cơ cấu về sở hữu tư liệu sản
xuất và cơ cấu các thành phần kinh tế một cách phù hợp với yêu cầu của quy
luật thực tế khách qua ủa nền kinh tế trong thời kỳ quá độ của nước ta .
Bước khởi đầu đổi mới trong đó có việc mở đường phát triển kinh tế tư nhân
đã diễn ra từ năm 1979 , khi đó nghị quyết hội nghị lần thứ IV , BCHTƯ
Đảng khoá IV . Đó là bước đầu chấp nhận kinh tế tư nhân và kinh tế hàng
hoá , dù còn nhiều hạn chế về quy mô và lĩnh vực hoạt động , nhưng đã lập
tức nẩy sinh vứng mắc về lý luận ì đụng đến nguyên lý cơ bản của nền kinh
tế xã hội chủ nghĩa . Câu hỏi dặt ra :” Chủ nghĩa xã hội có đặc điểm ưu việt
là kinh tế công hữu và hế hoạch hoá tập trung , nay lại mở đường cho kinh tế
tư nhân và thị trường ? có thể lợi trước mắt , nhưng lâu dài liệu còn chủ
nghĩa xã hội ?” . Hầu như mọi vấn đề lý luận nảy sinh từ bước mở đầu phát
triển kinh tế tư nhân cho đến nay đều xoay quanh câu hỏi đó .
Dẫu còn ý kiến băn khoăn , cuộc mở đường và phát triển vẫn diễn ra
trước hết do áp lực mạnh mẽ từ thực tế , đông đảo nhân dân và đảng viên ,

trở thành xu hướng không thể đảo ngược dù gặp khó khăn vướng mắc thăng
trầm . Kế tục chính sách củ Đại hội VI về phát triển kinh tế tư nhân và kinh
tế thị trường.
1.2 Vai trò và vị trí của thành phần kinh tế tư nhân .
1.2.1Về cơ cấu nghành nghề kinh doanh.
Đặc trưng bao quát là đầu tư tập trung vào các nghành thương nghiệp , dịch
vụ , công nghiệp chế biến , đánh bắt và nuôi trồng thuỷ hải sản ,xây dựng
,vận tảI kho bãI và thông tin liên lạc ,khách sạn nhà hàng ,kinh doanh bất
động sản và dịch vụ tư vấn ,tài chính tín dụng…
Năm 1994, trong tổng số 7619 doanh nghiệp ( gồm các loại công ty
trách nhiệm hữu hạn ,công ty cổ phần , doanh nghiệp tư nhân và hợp tác xã)
có đến 3582 doanh nghiệp kinh doanh thương nghiệp ( chiếm tỷ trọng
40,01%) 2466 doanh nghiệp sản xuất kinh doanh công nghiệp chế biến ).Thứ
đến là các nghành kinh doanh khác .
Tình hình trên là điều bình thường trong quá trình chuyển đổi kinh tế
kế hoạch hoá tập tập trung cao độ ( với nền kinh tế thiếu hụt triền miên –làm
không đủ ăn…) ,sang nền kinh tế nhiều thành phần ,vận động theo cơ chế thị
trường có sự quản lý của nhà nước . Bởi lẽ , các doanh nghiệp hoặc các nhà
kinh doanh chỉ đầu tư khi khả năng sinh lợi hấp dẫn.
Số lượng các loại hình doanh nghiệp từng bước đã được thống kê cập
nhật nhằm phục vụ công tắc quản lý nhà nước về kinh tế đối với khu vực
kinh tế này . Qua các số liệu thống kê tổng quát cho thấy ,Ngoài sự phát
triển mạnh mẽ của kinh tế cá thế ( với 1879402 cơ sở kinh tế ,thu hút
3241129 lao động ) thì doanh nghiệp tư nhân gấp 2,57 lần số lượng công ty
trách nhiệm hữu hạn và gấp 2,95 lần số lượng công ty cổ phần .Tuy nhiên
,số lao động thu hút của các công ty trách nhiệm hữu hạn lại nhiều hơn
doanh nghiệp tư nhân 1,15 lần.
Như vậy loại hình doanh nghiệp tư nhân vẫn là hình thức hấp dẫn
các nhà đầu tư tư nhân trong nước .Điều này có thể cắt nghĩa bởi các nguyên
nhân vê quyền lợi,uy tín, trách nhiệm,cácyếu tố tâm lý,tập quán kinh

3 Dịch vụ 15% 43% 20% 43% 2,5% 42%
1.2.3 . Giải quyết việc làm .
Thực tế cho thấy khu vực kinh tế tư nhân thực sự nổi lên ở Việt Nam
là từ mấy năm trở lại đây . Song với hoạt động của các doanh nghiệp và kết
quả đạt được , khu vực lày đã thu hút lực lượng lao động đông đảo trong
nhân dân . Cụ thể qua bảng số liệu sau , ta thấy so với tổng lực lượng lao
động của cả nước thì khu vực thu hút nhiều lao động nhất đồng t hời khả
năng tạo công ăn việc làm cho quần chúng là nhất .
Bởi vì thực chất đại bộ phận các thành phần kinh tế tư nhân là các
nông trang gia đình , doanh nghiệp gia đình và doanh nghiềp một sở hữu .
theo số liệu thống kê năm 1998 : Riêng các hộ knh doanh tư nhân trong côn
nghiệp và thương mại đã thu hút được trên 4,5 triệu người , chiếm khoảng
13% tổng số lao động của khu vực này . ở khu vực nông thôn , các hộ tiểu
thủ cong nghiệp và các hộ sản xuất nghề phụ đã tạo ra khoảng 4,3 – 4,5 triệu
việc làm cho lao động . Riêng về kinh tế hợp tác hình thức này đã tạo ra gần
7 triệu lao động . Như vậy mô hình doanh nghiệp tư nhân , đặc biệt tư nhân
vừa và nhỏ có ý nghĩa trong những nghành nghề truyền thống , tiểu thủ công
, đồng thời đây cũng là mô hình làm ăn có hiệu quả nhờ vào chi phí thấp ,
đầu tư ban đầu nhỏ .
Trong 125 doanh nghiệp trong nghành công nghiệp điện - điện tử ,
doanh nghiệp vừa và nhỏ chiếm 75% chưa kể đến nhiều doanh nghiệp thuộc
một số ngành bổ trợ . Số lượng doanh nghiệp vừa và nhỏ là doanh nghiệp
nhà nước đã giảm xuống còn 17 doanh nghiệp , doanh nghiệp vừa và nhỏ tư
nhân ( vốn trong nước ) có khoảng 45 doanh nghiệp tham gia vào lăp ráp và
chế tạo thiết bị điện , các đồ dùng điện sinh hoạt ( quạt điện , nồi cơm điện
…. )
Tính đến nay cả nước có khoảng 200 doanh nghiệp may tư nhân . Kể cả tư
nhân vừa và nhỏ thì số lượng các doanh nghiệp tư nhân trong ngành may
chiếm khoảng 5% , tức là gần 300 doanh nghiệp . Chính các doanh nghiệp
thuộc ngành may đã không bỏ trống thị trường nội địa . Họ lấy thị trường

kê của cục thống kê cho thấy hiện có 75% số doanh nghiệp có vốn dưới 50
triệu đòng,và thực tế chỉ có 1/3 số doanh nghiệp này được vay vốn để bổ
sung vào số vốn ít ỏi của mình.Nhưng vốn vay từ ngân hàng tín dụng cũng
chỉ được dưới 20%,còn lại trên 80% đã huy động vốn từ bạn bè ,họ hàng
trong quá trình kinh doanh họ đã tận dụng hình thức tín dụng thương mại
của các đối tác kinh doanh-hình thức mua trả chậm
Tại các doanh nghiệp tư nhân ,các cán bộ quản trị doanh nghiệp đều
trưởng thành từ thực tế và học hỏi kinh nghiệm từ bạn hàng chỉ một lượng
nhỏ được đào tạo qua các trường lớp chính quy về quản trị doanh nghiệp
hoặc quản lý kinh tế.Đứng trước tình hình thực tiễn như vậy ,lực lượng cán
bộ quản l ý taị các doanh nghiệp này có nhu cầu ớn về đào tạo.Chưa kể lực
lượng lao động của các doanh nghiệp này hầu như không đào tạo ngắn hạn
cấp tốc ra làm thợ.Tình trạng này gây không ít khó khăn cho doanh nghiệp
tư nhân hiện nay
Trình độ công nghệ ,chất lượng sản phẩm và thị trường là những
yếu tố quyết định sự tồn tại và phát triển của một doanh nghiệp,những doanh
nghiệp tư nhân rất khó có khả năng đầu tư công nghệ hiện đại đồng thời việc
táI đầu tư vào công nghệ lại càng khó khăn.Do vậy mà chất lượng sản phẩm
thấp ,tính cạnh tranh của sản phẩm không cao dẫn đến thị trường tiêu thụ chỉ
bó hẹp trong địa bàn chật hẹp và sức mua thấp.Chính vì vậy mà doanh
nghiệp tư nhân đã không có khả năng cạnh tranh cao với các doanh nghiệp
khác như : công ty cổ phần,công ty trách nhiệm hữu hạn và nhà nước…
Mặc dù vậy trong thời gian qua,một số doanh nghiệp tư nhân vẫn
vươn lên và có khả năng tham gia xuất khẩu ,nhưng trong thực tế họ đã
không thể tự mình tìm được khách hàng .Kết quả là sản phẩm của họ được
xuất khẩu sang nhiều nước song đều phảI qua các công ty thương mại nước
Ngoài .Do vậy tình trạng bị ép giá là không thể tránh khỏi ,điều này gây thiệt
hại đáng kể cho loại hình doanh nghiệp này.thực tế trong những năm qua
cho thấy với matt số sản phẩm xuất khẩu theo hạn ngạch các công ty tư nhân
đã được tham gia đấu thầu hạn ngạch song các doanh nghiệp tư nhân với số

vực ư nhân sử dụng khoảng 12% số lao đông trong sản xuất công nghiệp
.Doanh nghiệp một sở hữu là hinh thức phổ biến nhất trong sản xuât công
nghiệp nhưng do quy mô nhỏ nên chỉ chiếm 3% tổng số vốn dăng ký và só
lao động .Số doanh nghiệp gia đình và hơp tác xã nhiều hơn so với doanh
nghiệp một sở hữu ,vào khoảng 800 000 doanh nghiệp thuê khoảng 2,5 triệu
lao động góp tới 20% sản lượng công nghiệp .
Theo bảng 2 cho thấy sự phát triển của các công ty tư nhân trong
ngành công nghiệp ở Việt Nam . đI lên từ một tỷ trọng rất nhỏ gần như bằng
không năm 1991 , các công ty tư nhân đã phát triển nhanh chóng . Lý do là
ở chỗ chỉ đến năm 1992 cơ sở pháp lý cho các công ty tư nhân mới được
hình thành cùng với việc thông qua hiến pháp mới.
Bảng 2:
TT Châu lục 1994( %) 1995 (%) 1996(%) 1997 (%) 1998(%)
1 Á 14 11 11 11 15
2 ÂU 14 16 16 24 28
3 Các nước
khác
72 72 72 66 57
Theo bảng số liệu 3 biểu thị cơ cấu sản lượng theo ngành của các công
ty tư nhân , doanh nghiệp gia đình và càc doanh nghiệp nhà nước . Chế biến
lương thực thực phẩm là loại hình hoạt động chủ yếu của cả ba hình thức
doanh nghiệp này chiếm khoảng 44% tổng sản lượng công nghiệp . Tỷ trọng
lớn của ngành chế biến lương thực , thực phẩm phản ánh mức độ thấp kém
của công nghiệp hoá ở Việt Nam . bảng 4 còn chỉ ra rằng cả doanh nghiệp
gia đình lãn các công ty tư nhân đều tập chung chủ yếu trong một số ìt ngành
Ngoài công nghiệp chế biến , ngành vật liệu xây dựng cũng đóng vai trò qua
trọng đối với các hộ gia đình trong khi dệt may là lĩnh vực hoạt động chinh
của các công ty tư nhân ở việt nam .
Bảng 3:
TT Khu

Vốn ( tỷ đồng VN )
Công ty một sở hữu na 930 1351 2090 2500 3000
Công ty TNHH na 1490 2723 3882 4237 7300
Công ty cổ phần na 310 850 1071 1244 2500
Bảng 5 :Thống kê sự đóng góp của các doanh nghiệp trong các ngành
Công ty tư
nhân%
Doanh
nghiệp gia
đình %
Doanh
nghiệp nhà
nước %
Tỉ trọng của
các công ty
trong tổng SI
%
Lương thực ,thực
phẩm
31,0 44,5 29,9 3,7
Dệt may 27,0 7,9 8,1 12,4
Gỗ\sản phẩm gỗ 11,4 7,8 0,9 15,5
Vật liệu XD 4,7 18,3 7,4 2,4
Các nghành khác 25,3 21,5 53,7 2,2
Tổng số 100,0 100,0 100,0 4,0
Cuối cùng thì thực tế cho thấy thống kê sáu tháng đầu năm2000 số công
ty tư nhân có tư cách pháp nhân là chiếm đa phần và nhiều hơn số công ty
DNNN với sư tăng trưởng hàng năm ngày càng lớn.
Bảng 6 :Thống kê số công ty tư nhân và tăng trưởng hàng năm
( 1996-2000 )

trực tiếp điều hành hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp .
+ Không phảI là chủ sở hữu , nhưng được chủ sở hữu gia cho quyền sử
dụng tài sản và trực tiếp điều hành các hoạt động sản xuất kinh doanh của
doanh nghiệp .
+ trong kinh tế thị trường định hướng Xã Hội CHủ Nghĩa , mặc dù hoạt
động trong hai bối cảnh còn có khía cạnh khác nhau đó , nhưng cáI chung
nhất , bản chất nhất cua kinh tế cá thể , tiểu chủ vẫn không khác , đó là gắn
với thực quyền của chủ thể kinh doanh , các cá thể là người đại diện và giữ
vai trò lớn nhất , toàn diện nhất , trong việc thực , thực quyền đó của doanh
nghiệp băng chính tài năng và trí tuệ của mình .
Một khía cạnh lý thuyết có thể cho chúng ta vững tin và kết luận đó là :
a; Sự thoả hiệp đồng thuận xã hội ngày cang được mở rộng và nâng cao
trong môI trường chính trị – xã hội căn bản đặt trên nền tảng Đảng lãnh đạo .
Nhà nước qua lý nhân dân làm chủ , được thẻ chế hoá bằng pháp luật , đã toạ
nên những nét tương đồng , mang tinh xã hội háo cao trong thực quyền của
chủ thể kinh doanh và tạo những nét mới trong bản chất của cá thể và tiêủ
chủ .
Thực quyền kinh doanh của doanh nghiệp không phảI được hình thành chủ
yếu bởi sự chi phối của quyền sở hữu , tài sản mà chủ yếu bằng sự tác động
của môI trường chính trị , xã hội , bằng quyền của con người , trong sự thoả
hiêp và đồng thuận xã hội cao.
Với su thế và đa dạng hoá sở hữu và hình thức tổ chức sản xuất kinh doanh
, nhất là sự mở rộng khu vực kinh tế hỗn hợp , trong đó có sự đan xen , pha
loãng quyền lực của đồng chu sở hữu . Vị trí và mối qua hệ giữ quyền sở
hữu và quyền sử dụng các yếu tố sản xuất đã có sự thay đổi , hoán vị theo
hướng nâng quyền kinh doanh của doanh nghiệp .
Văn hoá với tư cách là mục đích , nguồn động lực và là hệ điều tiết của
kinh doanh được khuyến khích và tạo điều kiện phát triển làm cho các cá thể
, các tiểu chủ có văn hoá hơn trong kinh doanh.
b; Không phảI là đất đai , tiền vốn mà là tri thức mới là yếu tố đóng vai trò

trong kinh tế tư nhân với trường hợp vừa là chủ sở hữu vừa là người trực
tiềp điều hành sản xuất kinh doanh không phảI lúc cũng là người bóc lột .
Từ những phân tích trên cho chúng ta đI đến kết luận là, các thể , tiểu chủ
trong khu vực kinh tế tư nhân hoặc có yếu tố sở hữu tư , cũng như cá thể
trong khu vực kinh tế khác đều là những nhà quản trị kinh doanh bằng chính
lao động , nhất là lao động trí tuệ của họ . Cá thể là người đại diện thực
quyền của chủ thể kinh doanh và trực tiếp thực thi , thực quyền đó trong
khuôn khổ pháp luật . Cá thể xứng đáng và cần thiết được đứng trong hàng
ngũ các bộ phận vượt trội trong cộng đồng dân tộc , là tầng lớp tri thức và
những nhà lãnh đạo quản lý đất nước .
b; Bộ phận kinh tế tư bản :
Là những nhà tư bản nước Ngoài có vốn lớn , họ đầu tư dựa trên cơ sở sở
hữu tư nhân hoặc sở hữu hỗn hợp . Bộ phân này đóng vai trò khá quan trọng
trong nền kinh tế của nước ta hiện nay , và chúng có khuynh hướng tăng lên
hàng năm . Với điều kiện như nước ta hiện nay thì bộ phận kinh tế tư bản đã
góp phần hỗ trợ lớn về vốn , hỗ trợ về công nghệ giúp cho nền kinh tế nước
ta bắt kịp và có thể hoà nhập vào nền kinh tế toàn cầu , mặt khác nó còn giảI
quyết việc làm cho hàng nghìn lao động dư thừa ở nước ta. Chính vì nó có
vai trò quan trọng như vậy lên nhà nước cần tạo điều kiện thuận lợi về môI
trường kinh doanh , cần sửa đổi các luật về đầu tư cho thích hợp làm sao cho
Việt Nam là điểm đến của các nhà đầu tư .
1.4 NHữNG HạN CHế CủA THàNH PHầN KINH Tế TƯ NHÂN .
1.4.1 Những hạn chế đối với nền kinh tế quốc dân .
Chính là do nền tảng pháp lý và cơ sở pháp luật của nhà nước đặt ra
cho khu vực kinh tế tư nhân mà tạo ra cho khu vực này khá nhiều khó khăn
trong sự hoạt động và phát triển, do đó khu vực này đã gây lên một số hạn
chế sự phát triển kinh tế đất nước nếu không nói quá đến sự phát triển đất
nước về mọi phương diện.
+ Cơ sở pháp lý quá chặt chẽ trong việc công nhận tư cách pháp nhân , lại
thêm vào đó là mức thuế đặt ra với các doanh nghiệp là còn cao , còn

Chính vì mục đích như vậy mà các doanh nghiệp khi biết cách quản lí biết
cách điều hành thì sẽ thu được nhiều kết quả tích cực nhưng còn một số khác
sẽ là tiêu cưc vì họ hong đu khéo léo để canh tranh ma ding mọi thủ đoạn
,biện pháp kể cả căng thẳng giữa các doanh nghiệp miễn là sao thu được lợi
nhuận cao nhất sản phẩm tiêu thụ được nhiều nhất . Nên đôI khi chính sự
cạnh tranh tiêu cực đó đã làm giảm tính đạo đức , văn hoá trong kinh doanh.
Trong sản xuấ, sử dụng nhân công một cách tối đa;lực lượng nhân công
nhưng vẫn phảI làm với lượng công việc nhiều và thời gian dàI trong một
ngày ,cho nên đôI khi thiếu sự giao lưu giữa chủ –thợ ;thiếu tình cảm giữa
chủ với công…Tạo nên bầu không khí không tốt cho sản xuất và lực lượng
lao động bị ức chế và căng thẳng trong công việc , Trong một số tình huống ,
họ thậm chí cảm thấy bị bóc lột sức lao động . Bởi thực chất các doanh
nghiệp tư nhân dặc biệt là các doanh nghiệp tư nhân chưa đăng ký hợp pháp
thì ít có chính sách hỗ trợ khuyến khích cho công nhân như :Bảo hiểm
,thưởng công thăm hỏi động viên khi đau ốm…Một số nhà doanh nghiệp
còn quá cứng nhắc trong quản lý điều hành, nếu tình trạng này là phổ biến
và quy mô áp dụng rộng rãI thì sẽ gây nên sự mâu thuân trong công nhân
,nguồn vốn trong dân giảm ma con tạo động cơ đấu tranh trong công nhân
,quần chúng nhân dân .Vì vậy ,trong công tác điều hành sản xuất đòi hỏi
phảI có sự kết hợp khéo léo giữa nguyên tắc trong sản xuất ,mền dẻo trong
vận động trong sử dụng công nhân: như tăng cường các chính sách vận động
hỗ trợ lao động cho công nhân sẽ đem lại hiệu quả trong quản lý và sử dụng
lao động . Đây là vấn đề vùa có ý nghĩa kinh tế nhưng đồng thời cũng là
trách nhiệm xã hội của các doanh nghiệp đối với cộng đồng.
Hiện nay,mặc dù khu kinh tế tư nhân đă phát triển rộng khắp và có hướng
phát triển với qu mô lớn trên các vùng lãnh thổ khác nhau, nhưng sự phát
triển đó vẫn không đồng đều ở các vùng đặc biệt là các địa phương ,nông
thôn ,làng xã …dẫn đến mức phân hoá giàu nghèo giữa thành thị –nông thôn
vẫn còn tồn tại ,mặc dù chúng ta khôngthể phủ nhận rằng từ khi kinh tế tư
nhân ra đời đã góp phần rất nhiều trong việc điều tiết lao động,tăng thu nhập

hội , chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng CNH – HĐH , thúc đẩy cạnh
tranh , phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa . Khu vực
này đã đóng góp qua trọng vào tăng tổng sản phẩm trong nước :
Hai năm qua 2001- 2002 , sau khi có luật doanh nghiệp ra đời , số doanh
nghiệp tư nhân ra đời 35440 với số vốn đăng kí đạt 40455 tỷ đồng , nhiều
hơn số doanh nghiệp được thành lập trong 5 năm trước đó cộng lại đưa số
doanh nghiệp đăng hí hinh doanh đén cuối năm 2001 là 74393 doanh nghiệp
và chiếm tỷ trọng 24,3% tổng số vốn đầu tư xâ hội .Năm 2001 khu vực
doanh nghiệp tư nhân nộp ngân sách trên 11075 tỷ đồng ,chiếm 14,8%tổng
thu ngân sách
Theo số liệu thống kê năm 2000giá trị tổng sản phẩm của KTTN chiếm
42,3%GDP toàn quốc trong đó ,hộ kinh doanh cá thể chiếm 34,8% DNTN
chiếm 7,46% . KTTN đã huy động ngày càng nhiều hơn các nguồn vốn
trong xã hội đầu tư vào sản xuất kinh doanh .Năm 1999 khu vực này chiếm
24,05%,năm 2000 chiếm 24,31% tổng vốn đầu tư xã hội .Theo số liệu của
tổng cục thuế ,năm 2000 KTTNđóng góp 16,1%tổng thu ngân sách .Nét nổi
bật của KTTN thời gian qua là tạo được nhiều chỗlàm việc mới ,thu hút
nhiều lao động trong xã hội , nhất là số đến tuổi lao động chưa có việc làm
,giảI quyết số lao động dôI dư tư các cơ quan ,DN nhà nước do tinh giản
biên chế ,giảI thể .Khu vực này góp phần thực hiện chủ trương xã hội hoá y
tế , văn hoá giáo dục của nhà nước
Đạt được những kết quả như trên là do Đảng và Nhà nước đã có những
chủ trương chinh sách phù hợp đối với các thành phần kinh tế ,khẳng định rõ
vai trò quan trọng của KTTN trong nên kinh tế thị trường định hướng
XHCN
1.3 Những kết quả chủ yếu
KhơI dậy và phát huy tiềm năng của một bộ phận lớn dân cư tham gia vào
công cuộc phát triển đất nước ,thúc đẩy tăng trưởng kinh tế
Thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu thành phần kinh tế và đổi mới cơ chế quản lý
theo hướng thị trường ,thúc đẩy cạnh tran trong nền kinh tế

tốn kém cụ thể là rơI vào tình trạng bị ép giá.Do khó khăn trong việc tìm
nguồn vốn cho xuất khẩu nên sản phẩm cả các doanh nghiệp này hầu như
chưa xuất khẩu ra thị trường nước Ngoài.Điều đó dẫn đến thị trường tiêu thụ
–chủ yếu là trong nước –bị thu hẹp ,rất bấp bênh và thêm vào đó là sức mua
của dân cư hạn hẹp .Do phảI chịu những thông lệ ,điều kiện cạnh tranh bất
bình đẳng nên sức cạnh tranh của các doanh nghiệp tư nhân đã giảm đang
kể.

Bên cạnh đó việc hạn chế trong khả năng tiếp cận thông tin đã gây khó khăn
cho khu vực kinh tế tư nhân.Do thiếu những thông tin quan trọng về sản
phẩm thị trường ,khoa học công nghệ và các xu hướng phát triển của xã hội
nên sẽ là rất khó khăn khi các doanh nghiệp tư nhân lựa chọn cho mình một
hướng đI đúng đắn , trong khi sai lầm và rủi ro luôn là những nguy cơ
thường trực .Muốn có thông tin doanh nghiệp tư nhân phảI thông qua các cơ
quan tình báo thương mại ,tại đây ,thông tin sẽ đựoc đánh giá ,phân
tích.Nhưng chi phí cho hoạt động này khá cao nên với nguồn vốn ít ỏi thì
các doanh nghiệp tư nhân không thể làm việc qua các cơ quan này .Vì vậy
mà làm sao để có những thông tin co giá trị về thị trường ,làm sao để tiếp
cận được với thị trường vẫn là vấn đề nan giảI gây nhiều khó khăn cho các
doanh nghiệp tư nhân ,đặc biệt là các doanh nghiệp vừa và nhỏ.
1.4.2.Những hạn chế về vốn và chính sách thuế
a)Khó khăn về vốn
Hầu hết các doanh nghiệp tư nhân ở nước ta hiện nay đều ở qui mô vừa và
nhỏ.Đối với các doanh nghiệp này thì vấn luôn là ưu tiên hàng đầu .Phần lớn
các doanh nghiệp tư nhân đều thiếu vốn kinh doanh ,vốn tự có thì hạn hẹp.
Trong khi đó việc huy động vốn kinh doanh ,sản xuất đối với các doanh
nghiệp này đang rất khó khăn. Các doanh nghiệp vừa và nhỏ của thành phần
kinh tế tư nhân không có cơ hội tiếp cận các nguồn vốn và các khoản vay từ
ngân hàng,nếu có được vay thì chỉ được vay ngắn hạn(từ 3 đến 6 tháng).Do
đó tiếp cận với các khoản tiếp cận tín dụng trung hạn và dài hạn nên các


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status