Tài liệu Bài giảng: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ KINH TẾ HỢP TÁC doc - Pdf 86


Bài giảng

MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ
KINH TẾ HỢP TÁC 1
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ KINH TẾ HỢP TÁC LỜI MỞ ĐẦU
Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX đã khẳng định “Phát triển
kinh tế hợp tác và hợp tác xã (HTX) là vấn đề hết sức quan trọng trong chiến lược
phát triển kinh tế xã hội. Chuyển đổi HTX kiểu cũ theo luật HTX đạt hiệu quả thiết
thực, phát triển HTX kinh doanh tổng hợp đa ngành hoặc chuyên ngành để sản xuất
hoặc kinh doanh dịch vụ tạo đi
ều kiện mở rộng quy mô sản xuất, kinh doanh phù
hợp với quá trình CNH – HĐH”.
Như vậy nghị quyết đại hội Đảng toàn quốc rõ ràng đã làm sáng tỏ một điều
rằng: Nền kinh tế Việt Nam trong thời kỳ bao cấp hay đổi mới nói chung và nền
nông nghiệp Việt Nam nói riêng thì HTX vẫn là nền tảng của nền kinh tế bền vững
phát triển. Thực tế đã cho ta thấy rất rõ phong trào h
ợp tác hoá ở nước ta trải qua
nhiều bước thăng trầm. Tuy vậy, sau một thời gian hoạt động đặc biệt là giai đoạn
xây dựng đất nước thời bình mô hình HTX kiểu cũ đã ngày càng tỏ ra không phù
hợp với yêu cầu lịch sử phát triển kinh tế trong điêù kiện mới. Số HTX làm ăn có
hiệu quả chỉ còn chiếm tỷ lệ thấp, đa số không thích ứng được vớ

Là phạm trù hẹp hơn, phản ánh một phạm vi hợp tác trong lĩnh vực kinh tế.
Mô hình kinh tế hợp tác lúc ban đầu xuất hiện một cách sơ khai và tự phát không
chỉ ở nông thôn mà ở cả các thành thị, không chỉ ở trong lĩnh vực sản xuất nông
nghiệp mà còn trong nhiều ngành sản xuất dịch vụ khác. Các thành viên khởi
xướng ra các mô hình kinh tế hợp tác này, thông thường là những chủ thể điều
khi
ển kinh tế tài chính có hạn nên thường bị thiệt thòi, chịu nhiều bất lợi trong sản
xuất kinh doanh trong cạnh tranh. Để có thể khác phục các khó khăn duy trì công
ăn việc làm cho mình, những người cùng lĩnh vực sản xuất kinh doanh tại một khu
vực địa bàn nhất định đã tìm cách liên kết hợp tác với nhau theo từng tổ từng nhóm
nhỏ đó là tiền thân của các tổ chức HTX sau này.
Kinh tế hợp tác là một hình thức quan hệ
kinh tế hợp tác tự nguyện, phối
hợp, hỗ trợ giúp đỡ lẫn nhau giữa các chủ thể kinh tế, kết hợp sức mạnh của từng
thành viên với ưu thế sức mạnh tập thể giải quyết tốt hơn những vấn đề của sản
xuất, kinh doanh và đời sống kinh tế, nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động và lợi ích
của mỗi thành viên.
2. Các loại hình kinh tế hợp tác.
Trong nền kinh tế nước ta hiện nay đang tồn tại nhiều loại hình kinh tế hợp
tác. Mỗi loại hình phản ánh đặc điểm, trình độ phát triển của lực lượng sản xuất và
hình thức phân công lao động tương ứng. Do đó, nó có đặc điểm riêng về nguyên
tắc hoạt động, cơ cấu tổ chức và phát huy tác dụng trong những điều kiện nh
ất
định. Bởi vậy, việc làm rõ những đặc điểm nói trên của từng loại hình kinh tế hợp
tác để lựa chọn những loại hình phù hợp, tạo điều kiện thuận lợi cho các hình thức
kinh tế hợp tác phát huy tác dụng đem lại hiệu quả cho quá tình phát triển kinh tế
xã hội. 4

Tổ chức lao động quốc tế (ILO) định nghĩa HTX là sự liên kết của những
người đang gặp phải những khó khăn kinh tế giống nhau, tự nguyện liên kết nhau
lại trên cơ sở bình đẳng quyền lợi, nghĩ
a vụ sử dụng tài sản mà họ đã chuyển giao
vào HTX. Phù hợp với nhu cầu chung và giải quyết những khó khăn đó chủ yếu 5
bằng sự tự chủ, tự chịu trách nhiệm và bằng cách sử dụng các chức năng kinh
doanh trong tổ chức hợp tác phục vụ cho lợi ích vật chất và tinh thần chung…
2.2.2.Vai trò của HTX
Ở những nước tư bản, kinh tế HTX chỉ là kinh tế phụ song có vai trò đặc biệt
đối với nông dân. HTX giúp đỡ các chủ trang trại nông dân tồn tại trước những tác
động của kinh tế thị trường và ảnh hưỏ
ng của các tổ chức độc quyền lớn. Do vậy
ngoài mục tiêu kinh tế, HTX còn là loại hình kinh tế mang tính chất xã hội nhân
đạo.
Ở những nước nông nghiệp như nước ta thì HTX nông nghiệp là hình thức
kinh tế tập thể nông dân vì vậy hoạt động của HTX nông nghiệp có tác động to lớn,
tích cực đến hoạt động sản xuất của hộ nông nghiệp nông dân. Nhờ có hoạt động
của HTX các yếu tố đầ
u vào và các khâu dịch vụ cho hoạt động sản xuất nông
nghiệp được cung cấp kịp thời đầy đủ đảm bảo chất lượng, các khâu sản xuất tiếp
theo được đảm bảo làm cho hiệu quả sản xuất của hộ nông dân được nâng lên.
Thông qua hoạt động dịch vụ vai trò điều tiết của HTX nông nghiệp được
thực hiện, sản xuất của hộ nông dân được thực hi
ện theo hướng tập trung, tạo điều
kiện hình thành các vùng sản xuất tập trung chuyên môn hoá. Ví dụ dịch vụ làm
đất, dịch vụ tưới nước, dịch vụ bảo vệ thực vật… đòi hỏi sản xuất của hộ nông dân
phải được thực hiện thống nhất trên từng cánh đồng và chủng loại giống, về thời vụ

viên buộc phải góp vốn theo quy định của điều lệ, vố
n góp có thể nhiều hơn mức
tối thiểu, nhưng không được vượt quá 30% tổng số vốn điều lệ của HTX . Cùng với
vốn góp của xã viên, vốn hoạt động của HTX còn bao gồm vốn được tích luỹ trong
quá tình hoạt động và các nguồn khác như: Giá trị tài sản được cho biếu tặng
…Phần vốn góp của xã viên thuộc sở hữu của từng thành viên. Các nguồn vốn khác
thuộc sơ
hữu chung cua HTX, quyền sử dụng toàn bộ tài sản thuộc về HTX. Sau
khi làm xong nghĩa vụ nộp thuế, lãi của HTX được phân phối như sau: Thanh toàn
các khoản bù lỗ trích lập các quỹ của HTX, chia lãi theo vốn góp và công sức đóng
góp của xã viên có tính đến mức độ sử dụng dịch vụ của HTX.
Thứ tư: Xã viên HTX : Xã viên HTX có thể là cá nhân hoặc hộ gia đình,
mỗi xã viên có thể đồng thời là thành viên của nhiều HTX, không phân biệt nghành
nghề
, địa giới, hành chính. Mỗi xã viên đều bình đẳng về quyền lợi và nghĩa vụ bao
gồm: Quyền làm việc, hưởng lãi, tiếp nhận thông tin, đào tạo bồi dưỡng, hưởng
phúc lợi của HTX được phép chuyển các quyền lợi, nghĩa vụ của mình cho người
khác và xin ra khỏi HTX, được trả lại vốn góp và các quyền lợi khác khi ra khỏi
HTX. Mỗi xã viên có trách nhiệm thực hiện nghĩa vụ theo quy định của đi
ều lệ 7
như: Góp vốn vào HTX và chia sẻ mọi rủi ro của HTX theo mức vốn đóng góp
thực hiện cam kết kinh tế với HTX .
Thứ năm: Quan hệ giũa HTX và xã viên: Được xây dựng chủ yếu trên cơ sở
quan hệ kinh tế. Nó được xác lập từ nhu cầu phát triển sản xuất, tăng thu nhập của
các thành viên HTX. HTX tôn trọng quyền độc lập tự chủ kinh tế của xã viên.
Trong HTX nông nghiệp, xã viên là hộ, trang trại gia
đình, hoặc đại diện hộ, đó là

8
HTX, ban hành chính sách ưu đãi, hỗ trợ tạo điều kiện hoạt động cho HTX, liên
minh các HTX quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của các bộ ngành, các
cấp chính quyền, hội đồng nhân dân đối với HTX thực hiện chức năng thanh tra,
kiểm soát HTX theo quy định của pháp luật. 9
2.2.4.. Các loại hình HTX.
Trong điều kiện hiện nay của Việt Nam, để phân loại HTX, thường căn cứ
vào chức năng hoạt động, tính chất trình độ xã hội hoá, quy mô và đặc điểm hình
thành HTX :
* HTX dịch vụ: bao gồm ba loại: HTX dịch vụ từng khâu, HTX dịch vụ tổng
hợp đa chức năng và HTX dịch vụ đơn mục đích (HTX chuyên ngành).
+ HTX dịch vụ từng khâu (HTX dị
ch vụ chuyên khâu) có nội dung hoạt động
tập trung ở từng lĩnh vực trong quá trình tái sản xuất hoặc từng khâu công việc
trong quá trình sản xuất và phục vụ cho sản xuất.VD : HTX tín dụng, HTX mua
bán, HTX dịch vụ đầu vào, HTX dịch vụ đầu ra, HTX chuyên dịch vụ về tưới
tiêu…
+ HTX dịch vụ tổng hợp đa chức năng: Tuỳ thuộc đặc điểm, điều kiện, trình
độ sản xuất, và tập quán ở từng vùng mà nhu cầu của nông hộ đối với từng loại
hình dịch vụ có khác nhau. ở những vùng đồng bằng trồng lúa nước HTX có thể
thực hiện các khâu dịch vụ sau: Xây dựng, điều hành, kế hoạch, bố trí cơ cấu mùa
vụ, lịch thời vụ sản xuất, cung ứng vật tư, tưới tiêu theo quy trình kĩ thuật thâm
canh, phòng trừ sâu bệnh, bả
o vệ sản phẩm ngoài đồng để tránh hao hụt. Với
những vùng có mức bình quân ruộng đất và mức độ cơ giới hoá cao, nông hộ cần
thêm khâu dịch vụ làm đất, thu hoạch sửa chữa cơ khí, vận chuyển sản phẩm đến
nơi tiêu thụ.

thị xã, các vùng ven sông, ven biển, những nơi phù hợp với nghề khai thác tài
nguyên và ở nhiều nơi khác thì có đủ các điều kiện cần thiết.
II. KINH TẾ HỢP TÁC TRONG LĨNH VỰC NÔNG NGHIỆP
HTX nông nghiệp là một trong các hình thức cụ thể của kinh tế HTX trong
nông nghiệp, là tổ chức kinh tế của những người nông dân có cùng nhu cầu và
nguyện vọng, tự nguyện liên kết lại để phối hợp giúp đỡ nhau phát triển kinh tế
hoặc đáp ứng tốt hơn các nhu cầu về đời sống của mỗi thành viên, tổ chức và hoạt
động theo các nguyên tắc luật pháp quy định, có tư cách pháp nhân.
Hợp tác trong lĩnh v
ực nông nghiệp là một nhu cầu khách quan. Đó là con
đường phát triển tất yếu của kinh tế hộ nông dân. Bởi lẽ, do đặc điểm của sản xuất
nông nghiệp, cây trồng vật nuôi đều là những cơ thể sống chịu ảnh hưởng trực tiếp
của ngoại cảnh như thời tiết thuỷ văn, khí hậu và các sinh vật khác. Cùng với các
điều kiện thuận lợi, sả
n xuất nông nghiệp gặp không ít khó khăn, trở ngại do tác
động của thời tiết, khí hậu và các yếu tố sâu bênh, thú dữ phá hoại.
Từ thời xa xưa các hộ nông dân đã có nhu cầu hợp tác với nhau để hỗ trợ,
giúp nhau vượt qua khó khăn, nâng cao hiệu quả sản xuất. 11
Khi nền sản xuất còn mang nặng tính tự cung tự cấp thì quá trình hợp tác
mang tính chất hợp tác lao động theo mùa vụ, đổi công, cùng làm giúp nhau nhằm
đáp ứng yêu cầu thời vụ hoặc tăng thêm sức mạnh để giải quyết những công việc
mà từng hộ gia đìng không có khả năng thực hiện hoặc làm riêng rẽ thì không có
hiệu quả cao. Quá trình hợp tác này còn mang đặc điểm tình cảm, tâm lý truyền
thống cộng đồng
đùm bọc giúp đỡ lẫn nhau vượt qua khó khăn trong sản xuất và
đời sống. Đặc điểm cơ bản của HTX kiểu này là hợp tác theo vụ việc hợp tác ngẫu
nhiên, không thường xuyên, chưa tính đến giá trị ngày công. Đây là các hình thức

Mỗi vùng có những đặc điểm riêng về trình độ phát triển nền nông nghiệp
hàng hoá, trình độ dân trí, tập quán canh tác, điều kiện địa hình, thời tiết khí hậu
mật độ dân cư … từ góc độ này cho phép nhận thấy rõ sự khác nhau không chỉ
trong sản xuất nông nghiệp, mức sống vật chất của dân cư, mà còn tạo nên sự khác
nhau về
quá trình hình thành, phát triển các hình thức kinh tế hợp tác trong nông
nghiệp nôngthôn. Đồng thời với những tác động nói trên, đặc điểm truyền thống
văn hoá, tâm lý … cũng ảnh hưởng không nhỏ tạo nên những nét đặc trưng về kinh
tế hợp tác ở mỗi vùng.
Về tự nhiên: Các vùng nói trên phần lớn do địa hình hiểm trở, phức tạp lại
bị chia cắt bởi núi non, sông suối, đất đai, có độ dố
c lớn, đất canh tác bị chia nhỏ,
ruộng bậc thang, đất trống, đồi trọc chiếm tỷ lệ cao.
Về xã hội: Dân cư đa dạng phân tán gồm nhiều dân tộc dẫn đến nhiều tập
quán phong tục khác nhau cũng ảnh hưởng lớn đến việc xây dựng tổ chức kinh tế
hợp tác, HTX .
Trình độ kinh tế xã hội thấp so với các khu vực khác. Sản xuất còn mang
nặng tính tự
cấp, tự túc. Sản xuất không đáp ứng đủ nhu cầu, mặc dù nó còn ở mức
thấp. Điều này ảnh hưởng rất lớn đến việc áp dụng một cách máy móc các mô hình
HTX của miền xuôi ở đây, không phù hợp kém hiệu quả.
2. Các nhân tố khác
Đó là sự trợ giúp đỡ, tạo điều kiện của đảng nhà nước và các tổ chức xã hội
như hội nông dân liên minh hợp HTX Việt Nam, h
ội liên minh phụ nữ, hội cựu
chiến binh …sự tác động của nhóm nhân tố này được thực hiện chủ yếu thông qua
hệ thống các chính sách vĩ mô và quá trình chỉ đạo thực hiện bộ máy Nhà nước từ
trung ương đến cơ sở.
ộ tham gia chiếm 4,74% tổng số nông
hộ. Đến những năm 1959-1960 phong trào hợp tác hoá trong thời kỳ này được thực
hiện theo tư tưởng “còn chế độ tư hữu tư nhân về tư liệu sản xuất và lối làm ăn cá
thể thì vẫn còn cơ sở vật chất và điều kiện cho khuynh hướng TBCN”. Bởi vậy,
phải đẩy nhanh tiến trình cách mạng xã hội chủ nghĩa trong nông nghiệp. Việ
c đẩy
nhanh tốc độ hợp tác hoá xuất phát từ mục tiêu giải phóng nông dân đưa nông dân
đi nên CNXH. Tuy nhiên do tốc độ hợp tác hoá quá nhanh không chú ý đến những
đặc điểm riêng của từng địa phương nên quá trình này đã bị vi phạm những sai lầm 14
lớn về nguyên tắc tự nguyện quản lý dân chủ cùng có lợi. Dẫn đến một thực trạng
là nhiều hộ nông dân bị bắt buộc vào HTX mặc dù họ không muốn như vậy. Khi ra
nhập HTX họ trở thành những thành viên không nhiệt thành với phong trào thi đua
sản xuất, chống đối thậm chí mưu đồ phá hoại HTX.
Vào những năm 1961-1975 nhiều HTX bậc thấp đã được đưa lên bậc cao

n và đã trở thành một phong trào lớn lan rộng cả nước từ việc mở rộng quy mô
HTX theo mô hình tập thể hoá tới việc củng cố HTX về mọi mặt: cải tiến quản lý
HTX, mở rộng lĩnh vực hoạt động - chuyển sang hoạt động kinh doanh đa dạng
như sản xuất nông nghiệp (trồng trọt, chăn nuôi) hoạt động tín dụng nông thôn sản
xuất tiểu thủ công nghi
ệp, thương nghiệp. Tuy nhiên phong trào hợp tác hoá đã bộc
lộ nhiều nhược điểm đó là sự không phù hợp của mô hình HTX bậc cao, quy mô
lớn với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất, trình độ cán bộ quản lý. Vì sao
lại xuất hiện những nhược điểm như vậy, phải chăng do Nhà nước ta đã áp dụng
một cách máy móc, dập khuôn mô hình kinh tế của Liên Xô mà hoàn cảnh đất nướ
c
ta khi đó chưa đủ điều kiện để phù hợp với những mô hình đó.

chưa bộc lộ gay gắt. Bao trùm trong đời sống ở nông thôn, miền núi là tinh thần
đoàn kết, đ
ùm bọc, chia sẻ khó khăn để dành tất cả cho tiền tuyến. Thời kỳ này
HTX mang ý nghĩa xã hội nổi trội nên những mâu thuẫn bất hợp lý trong cơ cấu tổ
chức, quản lý, phân phối…tạm thời lắng xuống.
Sau ngày giải phóng Miền Nam 1975 thì phong trào HTX đã lan rộng khắp
cả nước. Từ Bắc chí Nam số HTX, tổ đổi công tăng lên nhanh chóng. Thậm chí có
nơi dụng biện pháp hành chính đưa nông dân vào HTX gây bất bình trong nông dân
nh
ất là ở Nam Bộ. Cuối thập kỷ 70 của thế kỷ 20, nền kinh tế đất nước lâm vào tình
trạng khủng hoảng nghiêm trọng, trước hết đó là tình trạng khủng hoảng kinh tế tập
thể trong nông nghiệp trên phạm vi cả nước.
Trước tình hình đó 03-01-1981 Ban bí thư TW Đảng đã ra chỉ thị 100/TW về
cải tiến công tác khoán, mở rộng khoán sản phẩm đến nhóm và người lao động
trong HTX nông nghiệp (g
ọi tắt là khoán sản phẩm). Cùng với khoán 100 là những
đổi mới bước đầu về chính sách giá cả, nghĩa vụ lương thực, cơ chế phân phối
trong nội bộ HTX nông nghiệp và sự lưu thông trao đổi nông phẩm. Mục đích của
chủ chương mở rộng khoán sản phẩm là bảo đảm phát triển sản xuất và nâng cao
hiệu quả kinh tế, củng cố và tăng cường quan hệ sản xu
ất mới ở nông thôn. Không
ngừng nâng cao thu nhập và đời sống của xã viên, tăng tích luỹ của HTX làm tròn
nghĩa vụ và khong ngừng tăng khối lượng nông sản cung ứng cho Nhà nước.
Nguyên tắc của chỉ thị 100 CT/TW: quản lý chặt chẽ và sử dụng có hiệu quả
TLSX, tổ chức tốt việc quản lý và điều hành lao động,quy hoạch và kế hoạch của 16
HTX phải phù hợp với quy hoạch và kế hoạch của huyện, phải nắm được sản phẩm
để bảo đảm phân phối hài hoà ba lợi ích: lợi ích nhà nước, lợi ích tập thể và lợi ích

hiệu quả kinh tế thực sự”. Tư tưởng thành phân biệt giai cấp quá nặng nề đã dẫn
đến tình tr
ạng phân biệt đối xử với cả tầng lớp trung nông trong việc kết nạp vào
HTX mà họ không được làm cán bộ quản lý. Đây chính là một hàn chế lớn không 17
phát huy được trìng độ kinh nghiệm sản xuất của họ để giúp HTX phát triển. Trong
khi đó bần cố nông mặc dù có tinh thần triệt để cách mạng, song chữ quen với tư
duy hoạt động kinh tế tự chủ, chưa có kinh nghiệm quản lý…lại chưa được chuẩn
bị chu đáo thông qua các chương trình đào tạo, huấn luyện mà phải làm cán bộ
quản lý hàng trăm lao động, có HTX tới hàng ngàn người bao gồm cả l
ĩnh vực
nông – công – thương – tín thì thật là quá sức. Khuyết điểm thiếu sót là điều không
thể tránh khỏi. Thêm vào đó tư tưởng chủ quan duy ý trí, nóng vội muốn tiến thẳng
lên CNXH được áp dụng trong lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn thông qua phong
trào hợp tác hoá càng bộc lộ những sai lầm, hạn chế ở mức độ nghiêm trọng hơn về
sự không phù hợp giữa quan hệ sản xuất với tính chất và trình độ phát tri
ển của lực
lượng sản xuất, về sự không phù hợp với những đặc điểm riêng của từng vùng,
từng ngành, trình độ quản lý…
- Chỉ thị 100 của Ban bí thư đã có tác dụng tạo nền móng cho quá trình đổi
mới mô hịnh HTX kiểu cũ, đồng thời đã chặn đứng tình trạng sa sút của sản xuất
nông nghiệp thời kỳ cuối những năm 70 của th
ế kỷ XX. Tuy nhiên động lực của
khoá 100 đã nhanh chóng bị triệt tiêu và bộc lộ những hạn chế của nó. Hiện tượng
này do các nguyên nhân chủ yếu sau:
+ Kinh tế nông hộ không được thừa nhận là đơn vị kinh tế tự chủ, các tư
liệu sản xuất chủ yếu vẫn bị tập thể hoá do HTX thống nhất quản lý. Do vậy chưa
phát huy tính tự chủ của nông dân trong sản xuất.

nông nghiệp các cuộc vận động cải tiến quản lý HTX cũng đồng thời tiến hành.
Mặc dù vậy cải tiến quản lý vẫn không khắc phục được khuyết tật của mô hình cũ,
nông nghiệp Việt Nam vẫn đang trong trạng thái trì trệ. Từ thực tiễn của phong trào
khoán hộ
tự phát ở các địa phương được nhìn nhận một cách nghiêm túc thực tế
hơn chỉ thị 100 CT/TW của Ban bí thư về khoán sản phẩm trong nông nghiệp ra
đời nhằm cứu nền nông nghiệp Việt Nam trở thành bước công phá chính thức đầu
tiên vào mô hình HTX nông nghiệp kiểu cũ. Một mảng (3/8 khâu trong hệ thống
sản xuất nông nghiệp) của HTX nông nghiệp bị phá vỡ, chuyển về trực tiếp cho các
hộ xã viên. Đến
đại hội đảng toàn quốc lần thứ VI với đường lối đổi mới kinh tế do
Đảng khởi xướng đã tạo ra sự biển đổi sâu sắc trong sự phát triển kinh tế đất nước.
Trước bối cảnh đó Nghị quyết 10 của Bộ chính trị ngày 05-04-1988 tiếp tục là bước
công phá thứ 2 vào mô hình HTX kiểu cũ. HTX kiểu cũ không còn cơ sở tồn tại xét
cả vè tính tất y
ếu kinh tế và địa vị pháp lý. Tuy vậy trong một thời gian sau đó việc
ra đời HTX kiểu mới không dễ dàng. Nghị quyết Hội nghị TW5 (khoá 6 năm 1993,
Luật đất đai ra đời từng bước tạo cơ sở pháp lý về quyền sử dụng ruộng đất lâu dài

Trích đoạn NHỮNG GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN KINH TẾ HTX NÔNG NGHIỆP ỞN ƯỚC TA
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status