BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
PHẠM THỊ KIM QUY
LỊCH SỬ - VĂN HÓA LÀNG PHÚ NGHĨA
(QUỲNH NGHĨA, QUỲNH LƯU, NGHỆ AN)
TỪ THẾ KỶ XV ĐẾN NĂM 1945
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC LỊCH SỬ
NGHỆ AN - 2013
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
PHẠM THỊ KIM QUY
LỊCH SỬ - VĂN HÓA LÀNG PHÚ NGHĨA
(QUỲNH NGHĨA, QUỲNH LƯU, NGHỆ AN)
TỪ THẾ KỶ XV ĐẾN NĂM 1945
Chuyên ngành: Lịch sử Việt Nam
Mã số: 60.22.54
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC LỊCH SỬ
Người hướng dẫn khoa học:
BẢNG KÝ HIỆU VIẾT TẮT
Ký hiệu
Chữ viết tắt
BCHĐB
Ban chấp hành Đảng bộ
BNCLSĐ
Ban nghiên cứu lịch sử Đảng
BQL
Ban quản lý
BVH - TT
Bộ Văn hóa - Thông tin
CNH - HĐH
Công nghiệp hóa - Hiện đại hóa
ĐCSVN
6. Bố cục của luận văn.......................................................................................8
NỘI DUNG.......................................................................................................9
Chương 1 KHÁI QUÁT ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN VÀ QUÁ TRÌNH HÌNH
THÀNH, PHÁT TRIỀN CỦA LÀNG PHÚ NGHĨA.......................................9
1.1. Khái quát điều kiện tự nhiên......................................................................9
1.1.1. Vị trí địa lý..............................................................................................9
1.1.2. Tài nguyên thiên nhiên..........................................................................11
1.2. Quá trình hình thành và phát triển của làng Phú Nghĩa...........................15
1.2.1. Sự hình thành cộng đồng dân cư và địa danh Phú Nghĩa......................15
1.2.2. Những đóng góp của cư dân Phú Nghĩa từ thế kỷ XV đến năm 1945. .25
Tiểu kết chương 1............................................................................................35
Chương 2 TÌNH HÌNH KINH TẾ VÀ CƠ CẤU TỔ CHỨC CỦA LÀNG
PHÚ NGHĨA...................................................................................................37
2.1. Tình hình kinh tế......................................................................................37
2.1.1. Nghề nông ở Phú Nghĩa........................................................................37
2.1.2. Nghề đánh bắt và chế biến hải sản........................................................39
2.1.3. Nghề thủ công cổ truyền.......................................................................47
2.1.4. Thương nghiệp......................................................................................57
2.2. Cơ cấu tổ chức của làng...........................................................................62
2.2.1. Vài nét về bộ máy quản lý làng xã truyền thống...................................62
2.2.2. Các đơn vị làng......................................................................................65
Tiểu kết chương 2...........................................................................................77
Chương 3 VĂN HÓA TRUYỀN THỐNG LÀNG PHÚ NGHĨA...................80
3.1. Văn hóa vật chất.......................................................................................80
6
3.1.1. Các đền, miếu........................................................................................80
3.1.2. Các ngôi chùa........................................................................................87
3.1.3. Phủ thờ Mỹ Quận công..........................................................................88
thêm về các làng xã Việt Nam là điều cần thiết. Hơn nữa “Sống trên vùng đất
này mà không hiểu cương vực nó đến đâu, sử sách xưa đã ghi chép về nó ra
sao thì rõ ràng đó là sự khiếm khuyết trong học vấn” [36;6]. Theo đó, chúng
tôi quyết định chọn hướng nghiên cứu làng ở xứ Nghệ nói riêng và làng Việt
Nam nói chung.
1.2. Là một trong những làng quê tiêu biểu trên mảnh đất địa đầu xứ
Nghệ, Làng Phú Nghĩa (xã Quỳnh Nghĩa - huyện Quỳnh Lưu) được biết đến
với bề dày truyền thống lịch sử văn hóa. Làng có lịch sử hình thành tương đối
sớm, với tên gọi Nghĩa Lộ vào cuối thế kỷ X - thế kỷ mở đầu nền độc lập tự
chủ lâu dài và vươn lên mạnh mẽ của dân tộc. Trải qua 500 năm, từ thế kỷ
XV trở đi, “trang Nghĩa Lộ” đã trở thành một làng lớn mang tên Nghĩa Lý, rồi
Phú Nghĩa sau đó. Làng phát triển hoàn chỉnh, nhiều ngành nghề, nức danh
trong “giải Ngũ Phú” ở Quỳnh Lưu. Tìm hiểu về làng Phú Nghĩa chính là tìm
hiểu về một địa phương từ rất sớm đã có một nền kinh tế đa dạng, trong đó
nhiều ngành nghề đạt tới độ tinh thông, phát triển vững chắc, để lại những dấu
ấn khó phai về một làng quê ven biển xứ Nghệ giàu truyền thống.
2
1.3. Mảnh đất sơn thủy hữu tình, Phú Nghĩa đã thành nơi dừng chân
của nhiều dòng họ. Tuy không phải làng khoa bảng với các danh nho cả nước
biết tiếng nhưng nơi đây “cũng là địa phương nổi tiếng văn võ”, “chỉ riêng
một làng Phú Nghĩa Thượng có tới 27 người đậu tú tài, 1 người đậu cử nhân
và 31 người có chức sắc về võ” [34;1-2]. Tiêu biểu trong số đó là dòng họ
Trương Đắc với nhiều thế hệ nối tiếp nhau đỗ đạt thành danh, hàng chục
người được phong tước hầu, quận công, có người là Phó quốc vương như ông
Trương Đắc Phủ. Ông đã có nhiều đóng góp cho dân làng nơi đây trên hầu hết
mọi lĩnh vực của đời sống.
Di sản mà cư dân Phú Nghĩa xưa để lại hậu thế còn là tinh thần quyết
chiến đấu bảo vệ nền độc lập tự do của dân tộc và sự bình yên của xóm làng
Làng xã Việt Nam từ lâu đã trở thành mối quan tâm nghiên cứu của các
nhà sử học, dân tộc học, xã hội học trong và ngoài nước. Kết quả là cho đến
nay đã có nhiều công trình viết về làng đề cập đến nhiều khía cạnh khác nhau
trong phạm vi phát triển chung của làng và đạt nhiều thành tựu to lớn như
“Xã thôn Việt Nam” (1959) của Nguyễn Hồng Phong, Nxb Văn- sử- địa;
“Nông thôn Việt Nam trong lịch sử” (2 tập), Viện sử học, Nxb KHXH Hà
Nội; “Cơ cấu tổ chức của làng Việt cổ truyền ở đồng bằng Bắc Bộ” (1984)
của Trần Từ, Nxb KHXH, Hà Nội; “Tìm hiểu làng Việt” (1900) của Diệp
Đình Hoa, Nxb KHXH, Hà Nội; “Làng Việt Nam - một số vấn đề về kinh tế,
xã hội” (1992) của Phan Đại Doãn, Nxb Mũi Cà Mau; “Về một số làng buôn
ở đồng bằng Bắc Bộ” (1993) của Nguyễn Quang Ngọc, Hội sử học Việt Nam,
Hà Nội; “Việt Nam văn hóa sử cương” (2002) của Đào Duy Anh, Nxb Văn
hóa thông tin, Hà Nội…
Tất cả các công trình trên chủ yếu đều hướng sự nghiên cứu của mình
vào làng Việt ở đồng bằng Bắc Bộ, nơi có lịch sử hình thành rất sớm, dân cư
đông đúc, làng nghề phát triển và nhiều giá trị văn hóa đặc thù. Các tác giả
4
đều tập trung làm rõ các vấn đề địa lý tự nhiên, kinh tế- xã hội, những nét văn
hóa truyền thống tiêu biểu của làng Việt nói chung. Riêng làng Việt ở Bắc
Trung Bộ mà cụ thể là làng ở xứ Nghệ, thời gian gần đây đã thu hút được sự
quan tâm của giới sử học địa phương, có một số công trình nghiên cứu đã
được công bố tuy vẫn còn ít ỏi và chưa có hệ thống, như: “Về văn hóa xứ
Nghệ” (2003) của Ninh Viết Giao, Nxb Nghệ An; “Đất Nghệ An đôi điều bạn
nên biết” (2005) của Chu Trọng Huyến, Nxb Nghệ An; “Nghệ An đất phát
nhân tài” của Ninh Viết Giao; “Khoa bảng Nghệ An” (2000) của Đào Tam
Tỉnh, Nxb Nghệ An; “Tục thờ thần và thần tích Nghệ An” (2000) do Sở
VHTT Nghệ An ấn hành; “Kho tàng truyện kể dân gian xứ Nghệ” (4 tập)
(1994) của Ninh Viết Giao, Nxb Nghệ An…
tài liệu như: Bản viết tay về quy trình lễ hội tại đền Chính, “Địa dư tỉnh Nghệ
An” của Huấn đạo Đào Đăng Hy; “Địa chí văn hóa Quỳnh Lưu” của PGS
Ninh Viết Giao; Hồ sơ di tích đền Chính, đền Thượng; “Từ trang Nghĩa Lộ
đến xã Tiến Thủy” của Đảng ủy-HĐND-UBND xã Tiến Thủy…
Cho đến nay chưa có công trình nghiên cứu nào tìm hiểu một cách có hệ
thống về lịch sử hình thành và phát triển của Làng cũng như đời sống kinh tế, văn
hóa vật chất, tinh thần phong phú của các thế hệ cư dân Phú Nghĩa trong quá khứ.
Tuy vậy, những tư liệu đã công bố đó là rất quý giá, là cơ sở để chúng tôi kế thừa,
so sánh, đối chiếu trong quá trình điền dã nhằm khôi phục lại phần nào diện mạo
làng Phú Nghĩa xưa một cách chân thực và có hệ thống.
3. Phạm vi nghiên cứu và nhiệm vụ khoa học của đề tài
3.1. Phạm vi nghiên cứu
- Về không gian: Làng Phú Nghĩa xưa, nay thuộc xã Quỳnh Nghĩa và
khảo sát thêm xã Tiến Thủy (xưa là thôn Phú Nghĩa Hạ).
6
- Về thời gian: Luận văn chỉ tập trung tìm hiểu Làng Phú Nghĩa từ thế
kỷ XV đến năm 1945.
3.2. Nhiệm vụ khoa học của đề tài
Với việc tìm hiểu lịch sử - văn hóa làng Phú Nghĩa từ thế kỷ XV đến
năm 1945, luận văn nhằm giải quyết những nhiệm vụ sau:
- Nắm được các đặc điểm về vị trí địa lý, tài nguyên thiên nhiên, con
người và lịch sử hình thành, phát triển làng Phú Nghĩa.
- Thông qua tìm hiểu tình hình kinh tế nông nghiệp, đánh cá, thủ công
nghiệp, thương nghiệp của làng để làm nổi bật nền kinh tế đa dạng ở Phú
Nghĩa và mối quan hệ tương hỗ chặt chẽ giữa các nghề nơi đây.
- Tập trung trình bày về đời sống văn hóa vật chất, tinh thần của các thế
hệ cư dân Phú Nghĩa. Từ đó rút ra nét văn hóa đặc sắc của làng trong khoảng
thời gian đề tài đã xác định.
văn bản báo cáo số liệu thống kê của chính quyền địa phương như: “Đề án xây
dựng làng nghề Phú Nghĩa của UBND xã Quỳnh Nghĩa năm 2006”…
4.2. Phương pháp nghiên cứu
Để tiến hành hoàn thiện đề tài này, chúng tôi sử dụng hai phương pháp
chuyên ngành chủ yếu là phương pháp lịch sử và phương pháp logic. Ngoài
ra, còn vận dụng thêm một số phương pháp liên ngành khác như: Thống kê,
so sánh, phân tích, điền dã…
5. Đóng góp khoa học của đề tài
- Khái quát lại quá trình hình thành, phát triển của làng Phú Nghĩa
trong dòng chảy lịch sử của vùng đất Quỳnh Lưu, qua đó đưa đến người đọc
cái nhìn tổng thể và có hệ thống về làng xưa.
- Góp phần dựng lại một cách toàn diện về đời sống vật chất, tinh thần
và những đóng góp của cư dân làng Phú Nghĩa đối với quê hương, đất nước
8
từ thế kỷ XV đến năm 1945, qua đó nhằm nâng cao nhận thức về vai trò, tầm
quan trọng của văn hóa làng đối với sự hình thành, phát triển của văn hóa dân
tộc; khơi dậy lòng tự hào dân tộc, ý thức trách nhiệm đối với cội nguồn, góp
phần giáo dục truyền thống yêu làng, yêu nước cho các thế hệ hôm nay ở làng
Phú Nghĩa nói riêng và các làng khác nói chung. Ngoài ra, luận văn phần nào
cung cấp nguồn tư liệu phục vụ việc nghiên cứu, giảng dạy lịch sử địa phương
ở các trường phổ thông trên địa bàn huyện.
6. Bố cục của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục,
nội dung luận văn được trình bày trong 3 chương:
Chương 1: Khái quát điều kiện tự nhiên và quá trình hình thành, phát
triển của làng Phú Nghĩa.
Chương 2:
xuống ngậm nước phun mưa. Ngọn núi đã đi vào lòng người, được ghi chép
khá nhiều trong sử sách. Sách “Đại Nam nhất thống chí” (Quốc sử quán triều
10
Nguyễn) viết: “Vách núi cheo leo, hang núi sâu thẳm, chim muông đầy đàn.
Trong hang thần không cần sửa sang xây dựng mà đầy đủ thắng cảnh thiên
nhiên”. Phía tây núi có hai tòa đá (tục gọi Đá Ông, Đá Mụ) cao sừng sững
đứng bên nhau từ ngàn vạn năm trước, tượng trưng cho tình thủy chung trong
sáng, sự trường tồn của hạnh phúc gia đình. Trên lưng Rồng có văn chỉ, hay
còn gọi nền Thiên Vương, ở đó có một ngôi mộ võ tướng thời Hậu Lê. Về
phía Bắc thân Rồng có hòn đá đứng hiên ngang một mình, trên có phiến đá
hình nắp đậy.
Dưới chân núi Rồng có nhiều hang động, nhiều cảnh vật thiên nhiên kỳ
thú. Ngoài đá Ông, đá Bà, có Ổ Gà, Mũi Trâu, Mâm Xôi,… Bên kia cửa Lạch
Quèn còn có hòn Con Chó nằm theo tư thế canh giữ cho sự bình yên, thịnh
vượng của xóm làng.
“Chó ngồi chầu một mình tỏ hỏ,
Rồng nằm ngang đã tỏ lạch Quèn.
Ông bà kết ngãi nhân duyên
Thuở xưa hái củi gặp miền đâu đây” [26;284]
Chạy theo hình cánh cung, núi Rồng từ Đông Nam ngoặt xuống phía
Nam Làng Phú Nghĩa, nhân dân Tiến Thủy thường gọi đây là núi Mành. Thực
chất núi Rồng và núi Mành đều trong một quần thể núi non [72]. Trong Nghệ
An ký có nhắc đến núi này, do đỉnh núi vuông vắn bằng phẳng trông như bàn
cờ và có những đầu đá tròn trĩnh nhô lên như quân cờ, nên còn gọi là núi Bàn
Cờ. Trên núi có một giếng nước trong, thơm ngọt, gọi là giếng Đồng Hương.
Trải các triều trước, mỗi khi vua tuần du phương Nam, dân làng Phú Nghĩa
múc nước ấy dâng vua dùng [43;152].
“Làng Phú Nghĩa có núi Mành
- Cửa biển: Trước khi chia tách để lập thị xã Hoàng Mai, Quỳnh Lưu
có 34 km đường bờ biển với 3 cửa biển là Cửa Cờn, cửa Thơi, cửa Quèn. Cửa
12
Quèn (tên chữ là Quyền Hải) thuộc địa phận làng Phú Nghĩa, nay là xã Tiến
Thủy. Cửa Quèn do nước kênh Mai và sông Ngọc Để chảy ra. “Thượng du
Mai Ngọc nhị giang thông. Hội nhập Quyền dương thủy vạn trùng” (Sông
Mai sông Ngọc thông dòng. Chảy vào một cửa muôn trùng biển khơi) [36].
Cửa Quèn còn được mô tả trong Nghệ An cổ tích lục: “Cửa ấy ở xã
Hoàn Hậu, huyện Quỳnh Lưu. Cửa rất rộng, hai bên bờ là những dãy núi ôm
lại, hai vách đứng cao ngất. Đá núi rất đẹp, được dùng nhiều để làm bia, mốc,
khánh đá…” [46]. Đã có người ngờ rằng Cửa Quèn từng được vào thơ Vua
Lê Thánh Tông trong chuyến vua Nam chinh từ cảng Xước theo đường kênh
Mai với tên chữ Kinh Ma (tuy tác giả chú là tên một cửa biển ở Nghệ An):
“Kinh Ma cảng khấu thất Sâm Hoành.
Liễm liễm triều đầu dạ khí sinh,
Vệ sĩ quyên lâm thiên chúc chiếu,
Lâu thuyền các ngạn trúc cao xanh”
Dịch nghĩa: “Nơi cửa bể Kinh Ma ngôi sao Sâm vắt ngang
Nước triều dâng dào dạt khí đêm nghi ngút.
Vệ sĩ băng rừng ngọn đuốc trời sáng rực,
Thuyền lầu cập bến cây sào trúc chống đưa”.
[58;166-167]
- Giao thông:
Ở Phú Nghĩa có nhiều loại hình giao thông gồm đường biển, đường bộ
và đường sông. Các cửa biển nơi đây đều có quan hệ với cửa Bạng, Biện Sơn
và các cửa sông lớn khác ở Thanh Hóa và cả miền Bắc. Nhờ đó thuyền buôn,
thuyền đánh cá đều có thể theo đường biển đi đến nhiều vùng miền khác nhau
của đất nước. Tuyến đường bộ (Bãi Ngang) vào làng Phú Nghĩa và nhiều làng
sét, nhân dân trồng lúa. Hiện nay xã Quỳnh Nghĩa có 710 ha đất tự nhiên,
trong đó 220,37 ha đất thổ cư và 489,63 ha đất nông nghiệp [72].
14
Xã Quỳnh Nghĩa nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa với hai
mùa rõ rệt: mùa nóng từ tháng 5 đến tháng 10 dương lịch và mùa lạnh từ
tháng 11 năm trước đến tháng 4 dương lịch năm sau với nền nhiệt vào mùa
nóng trung bình 30oC, lúc cao nhất là 39-40oC, vào mùa lạnh lúc thấp nhất 78oC. Thời tiết ở đây theo hai mùa rõ rệt: mùa hè nắng lắm và có gió tây nam
khô nóng; mùa đông hanh lạnh và có sương giá, sương muối. Xen kẽ giữa hai
mùa chính là mùa thu (mùa chuyển tiếp từ hè sang đông thường hay bão lụt)
và mùa xuân (mùa chuyển tiếp từ đông sang hè thường hay có mưa phùn).
Nhưng Quỳnh Lưu ở xa dãy Trường Sơn, nên gió mùa Đông Bắc và mưa
phùn cũng chỉ thổi qua vài ngày, không dầm dề ướt át, kéo dài ngày như ở
nhiều huyện khác trong tỉnh [29;59]. Lượng mưa hàng năm tập trung vào các
tháng 7, 8, 9, chiếm 76% lượng mưa cả năm. Thời kỳ ít mưa tập trung vào các
tháng từ 2 đến 6, lượng mưa chỉ chiếm khoảng 5% lượng mưa cả năm, cá biệt
cả năm 1929 lượng mưa đo được tại trạm đo mưa Phú Nghĩa chỉ có 662 mm
[10]. Riêng tháng 4-5 thường có mưa tiểu mãn, đột xuất có năm đã xảy ra
mưa lớn, gây ngập úng nghiêm trọng. Dân địa phương đã có câu ca:
“Mấy đời có lụt tháng tư
Làm cho ngô mất, khoai hư
Đỗ thì mọc mậm, lúa dừ nổi trôi”. [14;23-24]
Xưa nay Quỳnh Nghĩa thường phải hứng chịu nhiều hạn hán và dông
bão gây nên nhiều thiệt hại về tài sản, mùa màng của nhân dân.
Như vậy, khí hậu của làng Phú Nghĩa nói riêng và Quỳnh Lưu nói
chung là khí hậu của một mùa đông giá lạnh, khô và một mùa hè thường kèm
theo bão lụt, hạn hán. Có thể nói, Quỳnh Nghĩa là một địa bàn không được
thiên nhiên ưu đãi như một số địa phương khác ở xứ Nghệ. Đất đai cằn cỗi,
khí hậu khắc nghiệt, thiên tai hoành hành đã ảnh hưởng không nhỏ đến đời
Nền văn hóa này thuộc bình tuyến sau Hòa Bình ở Việt Nam [11]. Sách Nghệ
16
An ký của Bùi Dương Lịch đã mô tả cồn vỏ điệp này: “Gò điệp ở núi Lam
Cầu, huyện Quỳnh Lưu, phía đông chạy tới tận biển. Vảy cá, vỏ ốc tích thành
gò lớn, cao độ hai trượng, rộng độ hai dặm. Bốn xung quanh là ruộng phẳng,
phía đông trông ra biển và cách xa biển độ hơn mười dặm” [43;161]. Cồn
điệp này cũng được nhắc trong một số sách cũ khác như: An Tĩnh cổ lục,
Quỳnh Lưu phong thổ ký… Ngoài Cồn Thống Lĩnh (xã Quỳnh Văn), một loạt
cồn vỏ điệp từ Quỳnh Bảng xuống đến Quỳnh Nghĩa được Viện Khảo Cổ học
Việt Nam khai quật, công bố, lấy tên văn hóa Quỳnh Văn: cồn điệp gần núi
Quy Lĩnh (Quỳnh Bảng); cồn Voi (Quỳnh Lương);... Cho đến nay, các nhà
khoa học thống kê có 21 di chỉ thuộc văn hóa Quỳnh Văn, chủ yếu tập trung
xung quanh vùng vịnh biển cổ Quỳnh Lưu [40;162]. “Cả vùng Quỳnh Nghĩa
đào sâu xuống 3 - 4m chỗ nào cũng có điệp” [14;13]. Còn theo H. Le Breton
trong “An - Tĩnh cổ lục” thì các cồn sò điệp ở đây được gọi là “những gò vỏ
Hàu”, “núi đá vỏ hàu”, “mỏ vỏ sò”, “mỏ hàu” [31].
Ở Quỳnh Nghĩa có 4 di chỉ khảo cổ cồn điệp được Khảo cổ học Việt
Nam xác nhận, trong đó tiêu biểu là Cồn Đất và Gò Lạp. Cồn Đất được xem
là cồn điệp lớn nhất huyện Quỳnh Lưu, có hình dáng giống bát úp [72]. Cồn
Đất “ở thôn Nghĩa Đông, xã Quỳnh Nghĩa, Quỳnh Lưu. Di chỉ khảo cổ học
phát hiện năm 1979. Tại di chỉ này các nhà khảo cổ học đã phát hiện được
một số di vật thuộc giai đoạn Văn hóa Quỳnh Văn, như 1 công cụ chặt bằng
đá, 13 chày nghiền, 7 hòn kê và hơn 5.000 mảnh gốm có văn dập kiểu nan
rá…” [66;45]. Cũng tại di chỉ này, ngành khảo cổ thu được hiện vật là “ một
lưỡi cuốc khá lớn với trọng lượng xấp xỉ 2 kg, dài 28 cm, lưỡi rộng 7,3 cm,
dày 2,5 cm, chuôi tra cán cao 2,5 cm, rộng 3,5 cm, hai vai cân, rộng trên dưới
1 cm. Hình dáng trọng lượng rất thích hợp với việc đào xới đất. Nó được chế
tạo từ gốc đá màu xám xanh, hạt mịn độ cứng cao, toàn thân phủ lớp pasin
Nếu như từ cuối thế kỷ X, triều Tiền Lê đã cho khơi dòng kênh nhà Lê nối
từ kinh đô tới đất Quỳnh Lưu và đi xa vào phía trong, khơi thông đến đâu những
18
cụm dân cư hình thành đến đó thì tiếp đến, các triều đại: Lý (1010- 1225), Trần Hồ (1226 - 1407), Hậu Lê (1428- 1527) đã cử nhiều hoàng thân quốc thích như
Lý Nhật Quang, Trần Quang Khải, Lê Khôi vào kinh dinh khai phá vùng đất xa
xôi này. Các kênh ngòi, cửa biển được mở rộng cùng với chính sách: “khuyến
nông”, “ngụ binh ư nông”, “quân điền” tạo điều kiện cho khai hoang, phục hóa,
mở trang, lập ấp, giao lưu phát triển kinh tế, văn hóa ở vùng Bãi Ngang.
Từ công cuộc di dân lập ấp, vùng đất ven sông Mơ cũng như vùng giữa
và hạ huyện Quỳnh Lưu mới được khai phá mạnh mẽ và dần hình thành nên
các làng. Làng Phú Nghĩa cũng được hình thành trong bối cảnh chung đó.
Ngoài ra, do biến động xã hội, làng Phú Nghĩa cũng tiếp nhận nhiều dòng họ
lần lượt đến sinh cơ lập nghiệp, cùng chung sức xây dựng nên làng quê trù
phú như ngày nay.
1.2.1.2. Sự hình thành địa danh Phú Nghĩa
Phú Nghĩa là một làng quê hình thành từ sớm. Trải qua quá trình lịch
sử lâu dài với nhiều lí do khác nhau mà nguồn tài liệu thư tịch viết về làng bị
thất lạc. Tuy nhiên căn cứ vào những dấu vết hiện còn cùng một số ít tư liệu
lịch sử, gia phả, hương ước, câu đối, địa danh giúp chúng ta có thể hình dung
được phần nào quá trình hình thành địa danh Phú Nghĩa ngày xưa. Theo các
cụ truyền lại, khoảng một ngàn năm trước, những cư dân đầu tiên đã đến đây
khai đất lập làng. Thời Tiền Lê, có lẽ cư dân Phú Nghĩa định cư theo hình
thức nhóm họp thành một vài tụ điểm dân cư làm nghề chài lưới. Địa danh
“Gò Lưới” thường được nói đến trong văn chúc ước thời xưa hay trong gia
phả một số dòng họ đã nói lên điều đó.
Dựa vào bản “Hương ước thôn Phú Nghĩa” viết bằng chữ Hán được
sao chép lại vào năm 1897 (tức năm Thành Thái thứ 9) thì làng Phú Nghĩa
vốn xuất thân từ “trang Nghĩa Lộ, xã Hoàn Hậu, đời cố Lê”, ra đời ở cuối
Bảng” do Trần Hữu Đức (chủ biên) viết: “Vào cuối thời Trần, có quan Hành