Lịch sử văn hóa làng phú lương (quỳnh lương, quỳnh lưu, nghệ an) - Pdf 33

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH

====***====

LÊ VĂN TÌNH

LỊCH SỬ - VĂN HÓA LÀNG PHÚ LƯƠNG
(QUỲNH LƯƠNG, QUỲNH LƯU, NGHỆ AN)
TỪ THẾ KỶ XV ĐẾN NĂM 1945

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC LỊCH SỬ


2

NGHỆ AN – 2015


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH

====***====

LÊ VĂN TÌNH

LỊCH SỬ - VĂN HÓA LÀNG PHÚ LƯƠNG
(QUỲNH LƯƠNG, QUỲNH LƯU, NGHỆ AN)
TỪ THẾ KỶ XV ĐẾN NĂM 1945
Chuyên ngành: Lịch sử Việt Nam
Mã số: 602.203.13

Nghệ An, tháng 10 năm 2015
Tác giả
Lê Văn Tình


MỤC LỤC
Trang


7
MỞ ĐẦU
1. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
1.1. Có thể nói, tiến trình phát triển của lịch sử dân tộc Việt Nam làng
xã có một vai trò hết sức quan trọng. Làng xã vừa là cái nôi nẩy sinh và phát
triển những truyền thống tốt đẹp từ ngàn xưa của dân tộc ta, làng xã còn là nơi
bảo lưu lâu dài truyền thống lịch sử văn hóa đó. Vì vậy, hiểu biết tường tận,
sâu sắc về làng xã Việt sẽ giúp mọi người nâng cao nhận thức về đất nước và
con người Việt Nam. Mặt khác muốn hiểu biết đầy đủ tường tận về đất nước,
con người Việt Nam trong quá khứ và hiện tại, cần phải bắt đầu từ việc tìm
hiểu và nghiên cứu về làng xã Việt trong lịch sử lâu dài dựng nước và giữ
nước, để từ đó biết kế thừa, phát huy những di sản tốt đẹp trong điều kiện
mới, góp phần vào công cuộc CNH - HĐH đất nước hiện nay của Đảng và
nhà nước ta.
Tuy nhiên, trong xã hội hiện đại, bên cạnh những thành tựu đáng ghi
nhận thì một số giá trị lịch sử văn hóa trong đó có văn hóa làng xã đang dần
bị mai một. Chính vì vậy, việc tìm hiểu và nghiên cứu những giá trị lịch sử
văn hóa, hiểu thêm về các làng xã Việt Nam là điều cần thiết. Hơn nữa “Sống
trên vùng đất này mà không hiểu cương vực nó đến đâu, sử sách xưa đã ghi
chép về nó ra sao thì rõ ràng đó là sự khiếm khuyết trong học vấn” [39;6].
Theo đó, chúng tôi quyết định chọn hướng nghiên cứu làng ở xứ Nghệ nói

cư dân ở đây từ ngàn xưa đã sáng tạo ra nhiều trò chơi dân gian, nhiều phong
tục tập quán mang sắc thái văn hóa vùng miền riêng của cư dân vùng biển
như: đánh Cờ người, thả Sáo Diều, Đấu vật, Đua thuyền,... đặc biệt là Lễ hội
đền Quy Lĩnh, từ Phú Lương đã lan tỏa sang các làng ven biển Quỳnh Lưu,
trở thành di sản văn hóa tinh thần chung của cư dân vùng ven sông nước nơi
địa đầu xứ Nghệ từ bao đời.
Làng Phú Lương tuy không có hệ thống đền, đình, chùa nhiều như bao
làng quê khác của Quỳnh Lưu nói riêng và Nghệ An nói chung, nhưng Phú
Lương cũng có đền, đình, là nơi sinh hoạt cộng đồng cũng như là sinh hoạt tín
ngưỡng tâm linh theo phong tục tập quán của cư dân vùng biển, thể hiện đời
sống văn hóa vật chất và tinh thần hết sức phong phú, đặc biệt là văn hóa tín


9
ngưỡng tâm linh với tục thờ cúng tổ tiên, thờ nhân thần và nhiên thần, cùng
với lễ hội Đền Cờn (Quỳnh Phương), đền Xuân Úc (Quỳnh Liên), lễ hội đền
Quy Lĩnh của nhân dân làng Phú Lương tạo nên một nét văn hóa tâm linh đặc
sắc của cư dân biển vùng bãi ngang Quỳnh Lưu.
Phú Lương nằm ven biển nên cũng được thiên nhiên ban tặng nhiều danh
thắng tự nhiên, với một bãi biển bằng phẳng, cát vàng óng;
“Phú Lương ơi có bãi cát vàng;
Có sông Mai Giang uốn khúc, có nàng quay tơ”
(Trích bài thơ “Vịnh sông Mơ” của Dương Thúc Hạp)
Ngoài ra còn có núi Quy Lĩnh nằm theo hướng từ Tây sang Đông đầu rùa
trở ra biển và cách núi Quy Lĩnh khoảng nữa hải lí phía Đông là núi Ngưu
“Đỉnh Quy Sơn hiển tích thần linh;
Công xây đắp gẫm về khuôn tạo hóa”
(Trích trong bài Thúc ước văn của làng Phú Lương)
Sự giàu có, trù phú về đời sống vật chất lẫn tinh thần của một làng quê
“trên bến, dưới thuyền” cùng sự đa tài, quả cảm của con người nơi đây, có thể

học, dân tộc học, xã hội học trong và ngoài nước và cho đến nay đã có nhiều
công trình nghiên cứu về làng được công bố, các công trình nghiên cứu về
làng đã đề cập đến nhiều khía cạnh khác nhau trong phạm vi phát triển của
làng trên các lĩnh vực như “Tìm hiểu làng Việt” (1990) của Diệp Đình Hoa,
Nxb KHXH Hà Nội; “Làng Việt Nam - một số vấn đề về kinh tế, xã hội”
(1992) của Phan Đại Doãn, Nxb Mũi Cà Mau; “Về một số làng buôn ở đồng
bằng Bắc Bộ” (1993) của Nguyễn Quang Ngọc, Hội sử học Việt Nam, Hà
Nội; “Việt Nam văn hóa sử cương” (2002) của Đào Duy Anh, Nxb Văn hóa
thông tin Hà Nội. Tuy nhiên, trước khi các công trình này được công bố, thì
trước đó đã có những công trình nghiên cứu về Làng xã Việt Nam cũng đã
được công bố như: “Xã thôn Việt Nam” (1959) của Nguyễn Hồng Phong,
Nxb Văn- sử- địa; “Nông thôn Việt Nam trong lịch sử” (2 tập), Viện sử học,
Nxb KHXH Hà Nội; “Cơ cấu tổ chức của làng Việt cổ truyền ở đồng bằng
Bắc Bộ” (1984) của Trần Từ, Nxb KHXH Hà Nội.


11
Nhưng một thực tế cho thấy hầu hết các công trình nghiên cứu được công
bố đều tập trung vào làng Việt ở đồng bằng Bắc Bộ, nơi có lịch sử hình thành
rất sớm, dân cư đông đúc, làng nghề phát triển và nhiều giá trị văn hóa đặc thù.
Các tác giả đều tập trung làm rõ các vấn đề địa lý tự nhiên, kinh tế- xã hội,
những nét văn hóa truyền thống tiêu biểu của làng Việt nói chung. Đây thực sự
là những công trình nghiên cứu có giá trị khoa học và thực tiễn, giúp tác giả có
những nhận định tổng quan về quá trình hình thành và phát triển của làng Việt
qua các giai đoạn phát triển. Từ đó tác giả có thêm nguồn tư liệu tìm ra nét riêng
biệt của làng xứ Nghệ so với các làng ở Bắc Bộ và làng ở các khu vực khác.
Riêng làng Việt ở Bắc Trung Bộ mà cụ thể là làng ở xứ Nghệ, thời gian gần đây
đã thu hút được sự quan tâm của giới sử học địa phương, có một số công trình
nghiên cứu đã được công bố tuy vẫn còn ít ỏi và chưa có hệ thống, như: “Về văn
hóa xứ Nghệ” (2003) của Ninh Viết Giao, Nxb Nghệ An; “Đất Nghệ An đôi

người Phú Lương được đề cập ít nhiều trong một số tài liệu như: Bản viết tay
về quy trình lễ hội tại đền Quy Lĩnh, “Địa dư tỉnh Nghệ An” của Huấn đạo
Đào Đăng Hy; “Lịch sử Đảng bộ và nhân dân xã Quỳnh Lương” của Đảng
Ủy, HĐND, UBND, UBMTTQ xã Quỳnh Lương.
Cho đến nay chưa có công trình nghiên cứu nào tìm hiểu một cách có hệ
thống về lịch sử hình thành và phát triển của Làng cũng như đời sống kinh tế,
văn hóa vật chất, tinh thần phong phú của các thế hệ cư dân Phú Lương trong
quá khứ. Tuy vậy, những tư liệu đã công bố đó là rất quý giá, là cơ sở để chúng
tôi kế thừa, so sánh, đối chiếu trong quá trình điền dã nhằm khôi phục lại phần
nào diện mạo làng Phú Lương xưa một cách chân thực và có hệ thống.
3. NGUỒN TƯ LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1. Nguồn tư liệu
3.1.1. Tư liệu thành văn
Tham khảo các bộ dư địa chí cổ gồm: “Nghệ An ký” (Bùi Dương Lịch),
“Hoan Châu phong thổ ký” (Trần Danh Lâm, Ngô Trí Hạp), “An tĩnh cổ lục”
(H. Le Breton),.… Các bộ chính sử: “Việt sử thông giám cương mục chính
biên” (Quốc sử quán triều Nguyễn), “Đại Việt sử ký toàn thư” (Ngô Sỹ Liên)
(tập 2,3,4), …


13
Ngoài ra, chúng tôi còn khai thác các tư liệu lịch sử trong các cuốn như
“Từ điển nhân vật xứ Nghệ” (Ninh Viết Giao),“Lịch sử Đảng bộ huyện
Quỳnh Lưu” (BCH Đảng bộ Quỳnh Lưu), “Lịch sử Đảng bộ và nhân dân xã
Quỳnh Lương”, của Đảng Ủy, HĐND, UBND, UBMTTQ xã Quỳnh Lương.
Gia phả các dòng họ Hồ, Nguyễn, Lê, thần tích về các nhân vật được thờ tự
và các tài liệu khác được giới thiệu trong danh mục tài liệu tham khảo.
Tài liệu nghiên cứu lịch sử văn hóa, về phong tục tập quán, tín ngưỡng như
“Việt Nam văn hóa sử cương” của Đào Duy Anh, “Việt Nam phong tục” của
Phan Kế Bính, “Tìm về bản sắc văn hóa Việt Nam” của Trần Ngọc Thêm…

4.2. Phạm vi nghiên cứu
- Về không gian: Làng Phú Lương xưa, nay thuộc xã Quỳnh Lương,
huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An.
- Về thời gian: Theo cuốn “Dư địa chí văn hóa Quỳnh Lưu” của Ninh
Viết Giao và “Thúc ước” của làng Phú Lương (soạn vào thế kỷ XV) làng
mang tên gọi làng Lau đến thời nhà Lê đổi tên là làng “Hiền Lương” thuộc xã
Hoàn Hậu đến thời nhà Nguyễn gọi là Phú Lương thuộc Tổng Hoàn Hậu,
Huyện Quỳnh Lưu. Nhưng do nguồn tư liệu tìm được còn hạn chế nên chúng
tôi không đủ cơ sở đi sâu tìm hiểu quá trình lập làng và phát triển làng từ đó
đến nay. Do vậy, luận văn chỉ tập trung tìm hiểu Làng Phú Lương từ thế kỷ
XV đến năm 1945.
5. ĐÓNG GÓP KHOA HỌC CỦA ĐỀ TÀI
- Đề tài chỉ dừng lại ở việc dựng lại một cách cơ bản về quá trình hình
thành, phát triển của làng Phú Lương trong dòng chảy lịch sử của vùng đất
Quỳnh Lưu, đưa đến người đọc cái nhìn tổng thể và có hệ thống hơn về làng
xưa.
- Qua đó góp phần phục dựng lại một cách toàn diện về đời sống vật
chất, tinh thần và những đóng góp của cư dân làng Phú Lương đối với quê
hương, đất nước từ thế kỷ XV đến năm 1945, qua đó để thấy rõ hơn về tầm
quan trọng của văn hóa làng đối với sự hình thành, phát triển của văn hóa dân


15
tộc; khơi dậy lòng tự hào về quê hương, đất nước, ý thức trách nhiệm đối với
cội nguồn, từ đó giáo dục truyền thống yêu làng, yêu nước cho các thế hệ hôm
nay ở làng Phú Lương nói riêng và các làng khác nói chung. Ngoài ra, luận
văn bước đầu khơi gợi vấn đề và cung cấp nguồn tư liệu phục vụ việc nghiên
cứu sâu hơn, cũng như làm cơ sở để giảng dạy lịch sử địa phương ở các
trường phổ thông trên địa bàn huyện.
6. BỐ CỤC LUẬN VĂN

lâu đời của tỉnh Nghệ An [88].
Như đã giới thiệu ở trên Làng Phú Lương trước đây gọi là làng Hiền
Lương thuộc xã Hoàn Hậu, sau đổi thành xã Phú Lương, thuộc tổng Hoàn
Hậu, huyện Quỳnh Lưu. Làng nằm trải dài như một dải lụa vàng mềm ven
biển, dưới chân dãy núi Qui Lĩnh, trước mặt là biển Vịnh Bắc Bộ thuộc vùng
Biển Đông, sau lưng là dòng sông Mai Giang hiền hòa uốn lượn. Phía Bắc


17
giáp xã Quỳnh Bảng, phía Nam giáp xã Quỳnh Minh, phía Tây giáp xã Quỳnh
Thanh, lấy dòng thủy lưu sông Mai Giang làm ranh giới [18;5].
* Địa hình, núi non
Khi nghiên cứu về địa hình, núi non của Phú Lương cần phải đặt nó
trong tổng thể địa hình, núi non của Quỳnh Lưu.
Về địa hình, núi non của Quỳnh Lưu, cho đến nay đã hiều công trình
khoa học đã nghiên cứu và cho thấy vùng đất này được hình thành qua một
quá trình kiến tạo địa chất lâu dài phức tạp, có liên quan đến hiện tượng “biển
tiến”, “biển lùi”.
Thế kỷ IV, quá trình xâm thực diễn ra liên tục và phổ biến làm cho các
núi cao bị bào mòn, những chỗ sâu được bồi lấp tạo thành những cao nguyên,
đồng bằng, thung lũng…Tạo ra một dãi đồng bằng trù phú, đó là vùng đồng
bằng Diễn-Yên- Quỳnh ra đời trong thời kỳ này. Theo H. Le Breton: “Thời đệ
tứ kỷ, đây là một phá nước mặn mênh mông mà có thể gọi là vịnh Diễn Châu.
Vịnh này về phía bắc qua eo Hoàng Mai thông với vịnh Thanh Hóa, về phía
nam qua eo đò Cấm thông với vịnh Vinh (bao gồm Nghi Lộc, Hưng Nguyên,
Nam Đàn)” [33]. Nhưng khi nước biển lùi dần để lại bề mặt địa hình là trầm
tích biển với các loại vỏ sò, vỏ hến và cát có đóng góp đáng kể trong cấu tạo
địa hình Quỳnh Lưu. “Trên mặt lớp bùn đen xưa là nền đáy của một phá nước
mặn mà ngày nay trở thành lớp trên của lòng đất ở phần lớn các đồng bằng
ven biển, từ Nghệ Tĩnh đến Quy Nhơn” [33].

vài trăm mét theo hướng Đông Nam, nổi cao giữa mặt biển trông như một hòn
đảo. Hai Ngọn núi được xem là một vị trí tiền tiêu, canh giữ biển trời từ bao
đời cho Quỳnh Lưu, cho cả phía Bắc Nghệ An, trong các cuộc kháng chiến
chống ngoại xâm. Đại Việt sử ký toàn thư có chép: “Năm Hưng Long thứ 20
(1312) đời Trần Anh Tông, vua thân chinh đi đánh Chiêm Thành, đóng quân
ở cửa Cờn, đêm mộng thấy nữ thần” chính là chỗ này.
Dưới chân núi Qui Lĩnh có một hang động nằm dọc trong lòng núi
nhưng vì lòng hang động thấp và tối nên chưa có ai giám chui sâu vào bên
trong, bên cạnh của hang là đền Qui Lĩnh thờ tứ vị Thánh nương.


19
1.1.2. Sông ngòi, giao thông
* Sông ngòi:
Từ Quỳnh Lương nhìn về hướng Tây là dòng sông Mai Giang (sông
Mơ) trữ tình chảy dọc theo chiều dài của xã, đây là một nhánh lớn của sông
Hoàng Mai được phân thủy từ làng Ngọc Để ( Ngọc Huy nay thuộc phường
Mai Hùng- TX. Hoàng Mai ) chảy qua Quỳnh Lương và các xã vùng bãi
ngang.
Sông Mai Giang đoạn chảy qua Quỳnh Lương và chính dòng chảy thủy
lưu này là ranh giới tự nhiên giữa Phú Lương với Làng Thanh Viên (xã
Quỳnh Thanh), hữu ngạn thuộc Thanh Viên; tả ngạn thuộc làng Phú Lương
(nay là Quỳnh Lương).
Sông Mai Giang được hình thành bởi hiện tượng hình biển lùi, nhưng
lúc đầu hình thành nó chỉ là một dòng sông cụt và nhỏ. Đến thời Tiền Lê,
lòng sông được nạo vét, đào sâu, mở rộng và thông với kênh nhà Lê ra cửa
lạch Cờn và lạch Thơi.
Dòng Mai Giang đoạn chảy qua làng Phú Lương đã tạo ra một bến
sông yên ả, trở thành nơi neo đậu của các thuyền bè khi có bão, đồng thời
cũng là nơi diễn ra việc trao đổi mua bán hàng hóa của cư dân trong vùng,

dàng. Từ năm 1945 trở về trước, người làng Phú Lương qua sông Mai phải đi
qua đò, gọi là đò Mơ. Đò là một chiếc thuyền ván nhỏ chở được 7, 8 người, do
người làng Phú Lương và làng Thanh Viên đảm nhiệm. Sau Cách mạng tháng
Tám, xã đã tổ chức bắc cầu qua sông bằng tre gỗ ván, rồi dần nâng cấp thành cầu
máng xi măng từ năm 1990 cho đến hiện nay. Hiện nay đã có một chiếc cầu bê
tông mới cũng bắc qua sông Mơ nối con đường liên xã Thạch – Thanh – Lương
như đã nói trên.
1.1.3. Đất đai, khí hậu
* Đất đai:
Điểm chung của tất cả các làng ven biển ở Quỳnh Lưu, trong đó có
làng Phú Lương chủ yếu là đất pha cát và đất sét, loại đất này là do cát, đất


21
bùn và vỏ các loài nhuyễn thể kết hợp tạo nên, đây chính là kết quả của quá
trình trầm tích của biển bồi tụ, nên đất đai ít màu mỡ. Tuy là vùng nhỏ hẹp,
song địa hình cũng khá phức tạp, thấp dần về phía đông, độ chênh từ Tây
xuống Đông trung bình 3 mét, so với mặt nước biển. Với độ chênh ấy lại đất
cát, nên đồng ruộng dễ bị xói mòn, làm cho việc cải tạo đất và canh tác gặp
nhiều khó khăn. Đất ở đây, thành phần đạm, lân, ca li đều kém; lượng mùn
nghèo. Tuy vậy đất ở Phú Lương vẫn có hai loại: đất cát pha và đất sét, trong
đó đất cát pha là chủ yếu (loại đất này phần lớn ở các xã Bãi Ngang). Nơi đất
cát pha, nhân dân trồng lúa lốc vào vụ mùa, ngoài ra còn trồng khoai, ngô, kê,
đậu, lạc, vừng, dưa hấu. Nơi đất sét, nhân dân trồng lúa, ngày nay phần lớn
diễn tích đất pha cát nhân dân Quỳnh Lương trồng hoa màu, tạo nên một vùng
chuyên canh trồng rau quả sạch cung cấp cho nhân dân trong tỉnh và một số
tỉnh từ Hà Tĩnh vào đến Thừa Thiên Huế. Hiện nay xã Quỳnh Lương có diện
tích đất tự nhiên là 5,2 km 2 , trong đó 85 ha đất nông nghiệp mà chủ yếu là
đất trồng hoa màu [31,16]. Ngoài ra Quỳnh Lương còn một vùng đất nhiệm
phèn ven sông Mơ ngày xưa cư dân làng Phú Lương dùng để sản xuất muốidiên nghiệp, nhưng ngày nay diện tích này được cải tạo để nuôi tôm tạo ra giá

[57; 397- 398]. Bão năm Canh Thân (1920), ca dao địa phương đã phản
ánh:“Trời làm một trận phong ba/ Bao nhiêu phên vách cửa nhà tan hoang”
[71;34].
Cũng theo sử cũ, năm Minh Mệnh thứ 7 (1826), “tỉnh Nghệ An về phía
Bắc thành không mưa, (vua) dụ xuống cho các sở tại phải tâm thành kỳ đảo”
[56;185]. Sách cũ chép về thiên tai hạn hán ở Nghệ An, dĩ nhiên làng Phú
Lương ở Quỳnh Lưu không phải là ngoại lệ. Theo số liệu quan trắc thống kê
trong Climat de L’ Indocchine (khí hậu ở Đông Dương xuất bản 1930), lượng
mưa đo được tại trạm đo mưa Quỳnh Lưu cả năm 1929 chỉ có 662 mm
[10;178]. Khô hạn lâu ngày là một trong nhiều nguyên nhân gây ra hỏa tặc.
Như vậy, khí hậu của làng Phú Lương nói riêng và Quỳnh Lưu nói
chung là khí hậu của một mùa đông giá lạnh, khô và một mùa hè thường kèm
theo bão lụt, hạn hán. Qua đó để thấy được cư dân làng Phú Lương bao đời


23
phải chịu vất vả chống chọi với thiên nhiên khắc nghiệt để sinh tồn và cũng tự
thích ứng với thiên nhiên khắc nghiệt đó, như: mùa nắng nóng thì sản xuất
muối, mùa giá lạnh thì trồng rau, thời tiết thanh bình thì ra khơi đánh cá,...Có
thể nói, Quỳnh Lương nói riêng và các xã vùng bãi ngang nói chung là một
địa bàn không được thiên nhiên ưu đãi như một số địa phương khác ở xứ
Nghệ. Đất đai cằn cỗi, khí hậu khắc nghiệt, thiên tai hoành hành đã ảnh
hưởng không nhỏ đối với đời sống sinh hoạt và sản xuất của cư dân nơi đây từ
bao đời nay.
1.2. Quá trình hình thành và phát triển của làng Phú Lương
1.2.1. Sự hình thành dân cư và địa danh Phú Lương
* Nguồn gốc dân cư
Khi tìm hiểu về nguồn gốc cư dân của làng Phú Lương, chúng ta cũng
phải đặt nó trong không gian khảo cổ chung của Quỳnh Lưu. Bởi lẽ về mặt
khoa học mà nói muốn tìm hiểu cuộc sống của cư dân cổ phải căn cứ vào các

Tây Nam chợ Mơ (chợ Quỳnh Lương), gò điệp này có hình giống con voi nên
gọi là “gò con Voi”. “Gò điệp chó chiều Bắc Năm dài 180m, Đông Tây dài
130m, nằm cách gò điệp Quỳnh Minh khoảng 1.200m và gò điệp Quỳnh
Nghĩa khoảng 2.400m. Qua khảo sát khai quật cồn điệp này phát hiện được
nhiều bãi đá cuội có hình mảnh tước, lưỡi quốc xẻng bằng đá” [6;323].
Như vậy, từ kết quả khảo cổ học cho thấy, cách đây 5- 6 ngàn năm,
người nguyên thủy đã có mặt tại đây và vùng đất này hàng ngàn năm trước là
biển, với mực nước ăn sâu vào tận chân núi Quy Lĩnh. Sau này cùng với quá
trình kiến tạo vỏ trái đất, biển tiến, biển lùi, nước rút cát bồi đã hình thành nên
vùng đất mới.
Thời đó Phú Lương là một vịnh nước mặn, kín gió rất thuận lợi cho
điều kiện sinh sống và phát triển của điệp. Dựa vào ngấn nước in trên vách
lèn Quỳnh Bá, vách núi Quy Lĩnh ở Quỳnh Lương, ta thấy được mực nước
vịnh có lúc dâng lên 2 - 3m, trong suốt mấy ngìn năm như vậy, có lúc nước
vịnh dâng lên nhưng ngược lại cũng có lúc nước biển rút đi. Khi môi trường


25
thay đổi điệp chết hàng loạt và do dòng nước xoáy làm cho điệp tích tụ thành
Cồn. Các cồn điệp này là địa bàn cư trú tạm thời của từng nhóm người Việt
cổ thuộc văn hóa Quỳnh Văn
Từ sự định cư đó đã xuất hiện nghề nông sơ khai. Nhờ nông nghiệp và
do nông nghiệp các bộ lạc người Việt cổ phân bố rộng rãi. Trải qua hàng ngàn
năm khai phá lấn biển lấp sông, cư dân vùng đất này đã tạo nên ruộng đồng,
lập ra làng mạc. Họ đã trở thành những người dân bản địa, những chủ nhân
đầu tiên của mảnh đất này. Tuy nhiên, hiện nay chúng ta “chưa thấy dấu vết
nhà ở hay chứng tích chứng tỏ người Việt cổ thuộc văn hóa Quỳnh Văn cư trú
liên tục ở các di tích cồn điệp trong suốt quá trình hình thành của nó” [70;56].
Do vậy, chúng tôi chưa nắm được quá trình tồn tại và phát triển của lớp tiền
nhân này trên vùng đất Phú Lương trong thời cổ xưa.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status