Lịch sử văn hóa làng tràng sơn (xã sơn thành, huyện yên thành, tỉnh nghệ an) từ thế kỷ XV đến thế kỷ XX - Pdf 33

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH

TRẦN QUANG HIỂN

LỊCH SỬ - VĂN HÓA LÀNG TRÀNG SƠN
(XÃ SƠN THÀNH, HUYỆN YÊN THÀNH, TỈNH NGHỆ AN)
TỪ THẾ KỶ XV ĐẾN THẾ KỶ XX

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC LỊCH SỬ


2

NGHỆ AN – 2015


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH

TRẦN QUANG HIỂN

LỊCH SỬ - VĂN HÓA LÀNG TRÀNG SƠN
(XÃ SƠN THÀNH, HUYỆN YÊN THÀNH, TỈNH NGHỆ AN)
TỪ THẾ KỶ XV ĐẾN THẾ KỶ XX
Chuyên ngành: LỊCH SỬ VIỆT NAM
Mã số: 60.22.03.13

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC LỊCH SỬ

Cán bộ hướng dẫn khoa học:



MỤC LỤC

Trang

Mở đầu

1

1.

Lý do chọn đề tài.

1

2.

Lịch sử nghiên cứu vấn đề.

3

3.

Đối tượng, nhiệm vụ và phạm vi nghiên cứu.

4

3.1.


Phương pháp nghiên cứu

5

5.

Đóng góp của luận văn.

6

6.

Bố cục luận văn.

6

Nội dung

7

Chương 1. Lịch sử hình thành và phát triển của làng Tràng Sơn.

7

1.1.

Vài nét về điều kiện tự nhiên

7


28

1.2.

1.3.

1.3.3. Tràng Sơn từ 1954 đến 1975.
Tiểu kết chương 1.

Chương 2. Diện mạo văn hóa vật chất của làng Tràng Sơn
2.1.

35
40
41

Các công trình văn hóa vật thể.

41

2.1.1. Đình làng Tràng Sơn.

41


7

2.1.2. Đền thờ Cao Sơn.

42

2.2.1. Trồng trọt.

49

2.2.2. Chăn nuôi.

51

2.2.3. Đánh bắt thủy sản.
2.2.4. Nghề đi rừng, săn bắn, bẫy chim.

53
54

Nghề thủ công.

57

2.3.1. Nghề đan lát.

57

2.3.2. Nghề làm nhà mại, vàng mạ.

58

2.3.3. Nghề hàng xáo, buôn bán.
2.3.4. Nghề làm bánh đúc, bánh mướt, bánh khô.

58


Cơ cấu tổ chức và các mối quan hệ của làng.

70

3.2.

Các hình thức tín ngưỡng tôn giáo.

71

3.2.1. Tín ngưỡng dân gian
3.2.2. Phật giáo.

71

Phong tục tập quán.

73

3.3.1. Tục cưới hỏi.

73

3.3.2. Phong tục khi sinh đẻ, ở cữ.

78

3.3.3. Phong tục trong tang ma.



Các trò chơi dân gian.

93

3.6.1. Chơi mốc.

93

3.6.2. Mốc nước.

94

3.6.3. Tướng đánh trận.

94

3.6.4. Chọi gà người.

94

Lễ hội và lễ tết

94

3.7.1. Lễ hội đình Tràng Sơn

94

3.7.2. Các lễ tết.

đấu tranh chống “đồng hóa” của phong kiến phương Bắc suốt ngàn năm, cho
đến những cuộc chiến tranh bảo vệ độc lập cũng như chiến tranh giải phóng
dân tộc sau này. Trong lịch sử chống ngoại xâm của dân tộc, làng xã là nơi
cung cấp nguồn nhân lực và vật lực, là chỗ dựa tinh thần, là một nhân tố
quan trọng làm nên chiến thắng. Vì vậy, nghiên cứu lịch sử, văn hóa làng xã
là góp phần vào việc nghiên cứu lịch sử, văn hóa của đất nước.
Làng quê Việt luôn được xem như là hình ảnh của nước Việt Nam thu
nhỏ. Trong xu thế toàn cầu hóa, đất nước bước vào thời kỳ hội nhập sâu
rộng, bên cạnh những thành tựu to lớn; thì nay, một số giá trị lịch sử - văn
hóa trong đó có văn hóa làng xã đang dần bị lãng quên, mai một. Mặt khác
sự nghiệp xây dựng và phát triển đất nước luôn luôn phải gắn liền với sự
nghiệp xây dựng, củng cố và phát triển nền văn hóa dân tộc vừa có âm
hưởng truyền thống vừa hiện đại. Vì vậy, những giá trị văn hóa, bài học lịch
sử, những đóng góp của các thế hệ cha ông, những truyền thống quý báu của
quê hương cần được mọi người tôn trọng, gìn giữ và phát huy. Trong đó,
việc gìn giữ và phát triển văn hóa làng xã đóng vai trò quan trọng, chính vì
thế việc tìm hiểu và nghiên cứu những giá trị lịch sử, văn hoá, hiểu thêm về
các làng xã Việt Nam là điều cần thiết.
2. Làng Tràng Sơn, xã Sơn Thành, huyện Yên Thành, tỉnh Nghệ An là
một làng cổ, có bề dày truyền thống lịch sử, văn hóa. Ngoài những nét chung
giống với bao làng Việt, làng Tràng Sơn còn mang những đặc trưng văn hóa


11

riêng của mình như là ngôn ngữ, phong tục tập quán... Tràng Sơn là nơi sinh
thành các bậc danh nhân, anh hùng có nhiều đóng góp cho quê hương đất
nước; trong đó có ba cha con cháu đều đỗ đạt cao, đó là Lê Kính, Lê Hiệu hai cha con cùng đậu Tiến sĩ và làm Thượng thư dưới thời Lê Trung Hưng,
Lê Mai (con của Lê Hiệu) đậu Giải nguyên, hậu duệ của các ông là Phó bảng
Lê Doãn Nhã - nhà yêu nước nổi tiếng trong phong trào Cần vương cuối thế

Lịch sử Việt Nam.
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề.
Ở Nghệ An trước năm 1945 đã xuất hiện một số tác phẩm như
“Quỳnh Lưu phong thổ ký”, “Diễn Châu phong thổ ký”, “Nho Lâm phong
thổ ký” “Quỳnh Đôi phong thổ ký”, “Diễn Châu - Đông Thành huyện thông
chí”... nội dung các tác phẩm này ít nhiều đề cập đến lịch sử văn hóa một số
làng xã ở địa phương. Từ sau năm 1945, việc nghiên cứu văn hóa dân gian
ở Nghệ - Tĩnh đã nhận được sự quan tâm của các cấp chính quyền và các
nhà nghiên cứu, nhiều công trình xuất hiện như: “Hát ví Nghệ Tĩnh” của
Nguyễn Chung Anh, “Hát Dặm Nghệ Tĩnh”, “Ca dao Nghệ Tĩnh” của
Nguyễn Đổng Chi và Ninh Viết Giao, “Hát phường vải”, “Vè Nghệ Tĩnh”,
“Thơ văn Xô Viết Nghệ Tĩnh”, “Chuyện kể dân gian xứ Nghệ”, “Truyện
trạng xứ Nghệ”, “Kho tàng ca dao xứ Nghệ”, “Trò chơi dân gian xứ Nghệ”,
“Tục thờ thần và thần tích Nghệ An”, “Văn hóa ẩm thực xứ Nghệ”, “Về văn
hóa xứ Nghệ”... của Ninh Viết Giao, ngoài ra còn có khá nhiều các công
trình của các nhà nghiên cứu trong và ngoài tỉnh. Các công trình này đã tập
trung nghiên cứu về văn hóa dân gian, văn hóa làng xã, về nếp sống, phong
tục, tôn giáo, tín ngưỡng của một số làng xã cụ thể cũng như những đặc
trưng của văn hóa làng xã xứ Nghệ nói chung.
Tìm hiểu về làng Tràng Sơn xã Sơn Thành, huyện Yên Thành từ
trước tới nay đã có một số công trình như: “Lịch sử xã Sơn Thành” (NXB
Văn hóa thông tin, Hà nội 2012), “Tràng Sơn một làng văn hóa dân gian


13

phong phú” (Phan Bá Hàm và Nguyễn Tâm Cẩn, NXB Văn hóa thông tin,
Hà Nội, 2014) bước đầu đã cung cấp một số thông tin tư liệu quan trọng,
khá phong phú về lịch sử - văn hóa làng Tràng Sơn. Ngoài ra còn có một số
tác phẩm, bài báo viết về các nhân vật lịch sử là con dân làng Tràng Sơn

thời gian từ giữa thế kỷ XV đến thế kỷ XX (1975).
4.

Nguồn tài liệu và phương pháp nghiên cứu.

4.1. Nguồn tài liệu.
- Nguồn tài liệu gốc: Các tư liệu gốc là gia phả, sắc phong, câu đối, khoa
lục một số dòng họ, sổ sách ghi chép, thống kê về làng Tràng Sơn của
các dòng họ, các cụ cao niên, các chuyên gia còn lưu giữ được. Chúng
tôi cũng cố gắng khảo cứu các tư liệu viết trên các văn bia, hoành phi
tại nhà thờ của các dòng họ lớn ở làng Tràng Sơn.
- Nguồn tài liệu tham khảo: Bao gồm các công trình lịch sử, địa lý, văn
hóa đã công bố phản ánh về văn hóa làng Tràng Sơn nói riêng, làng xã
xứ Nghệ và cả nước nói chung lưu ở các thư viện: Thư viện tỉnh Nghệ
An, Thư viện trường Đại học Vinh, Thư viện Quốc gia và Thư viện
huyện Yên Thành.
- Tư liệu điền dã: Tư liệu có được thông qua việc điền dã, khảo sát của
tác giả ở làng Tràng Sơn, xã Sơn Thành và một số làng khác ở huyện
Yên Thành, tỉnh Nghệ An.
4.2. Phương pháp nghiên cứu.
- Phương pháp luận khi thực hiện đề tài là dựa trên lý luận của chủ nghĩa
Mác- Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm của Đảng Cộng sản
Việt Nam về lịch sử và văn hóa.
- Phương pháp nghiên cứu cụ thể: Chúng tôi sử dụng hai phương pháp
chuyên ngành cơ bản là phương pháp lịch sử và phương pháp logic.


15

Ngoài ra, chúng tôi còn sử dụng các phương pháp liên ngành như điều

SƠN.

1.1. Vài nét về điều kiện tự nhiên
1.1.1. Vị trí địa lý.
Làng Tràng Sơn thuộc huyện Yên Thành; nằm trong khu vực người
Việt cổ từng sinh sống. Thời Hùng Vương; Yên thành, Nghệ An thuộc bộ
Việt Thường, một trong 15 bộ của nước Văn Lang. Thời Bắc thuộc, Yên
Thành có tên gọi là huyện Hàm Hoan thuộc quận Cửu Chân (đời Triệu)...
sang đời Đường là Châu Hoan. “Năm Trinh Quán thứ nhất (627) đời Đường,
Hoan Châu được chia thành Diễn Châu và Hoan Châu. Lỵ sở của Diễn Châu
đóng ở Kẻ Sừng, xã Quỳ Lăng (nay là xã Lăng Thành, huyện Yên Thành)”
[41, tr 12]. Trong thời gian dài sau đó, cho đến buổi đầu thời độc lập, lỵ sở
của Diễn Châu vẫn đóng ở Quỳ Lăng. Đến thời Tiền Lê, hoàng tử Lê Long
Toàn vào trấn trị Châu Diễn đã chọn Kẻ Dền – Công Trung Thượng (nay
thuộc xã Văn Thành, Yên Thành) làm lỵ sở. Thời Trần, Yên Thành được
“đặt là Trấn Vọng Giang” [51, tr 9]; Tĩnh quốc Vương Trần Quốc Khang và
sau đó là Chiêu minh Vương Trần Quang Khải cũng chọn Kẻ Dền – Công
Trung Thượng làm lỵ sở của Nghệ An. Cho đến thời Trần Yên Thành đã là
một trong những vùng đất phát triển nhất của Nghệ An cả về nhân lực và vật
lực; dân cư đông đúc đã quy tụ thành hệ thống làng xã trải dài khắp huyện từ
Bắc đến Nam, từ Đông sang Tây, kinh tế nông nghiệp phát triển với nghề
nông trồng lúa nước.
Làng Tràng Sơn, xã Sơn Thành nằm ở cực phía Nam của huyện Yên
Thành, trên tọa độ khoảng 18055’ Vĩ Bắc và 105026’ Kinh Đông, nằm sát
chân núi phía Bắc của dãy Đại Vạc, ở rìa phía Nam vùng đồng bằng rộng lớn
Diễn - Yên - Quỳnh; cách thành phố Vinh khoảng hơn 40 km về phía Bắc,


17


18

xây dựng và nước sạch phục vụ đời sống sinh hoạt cũng như chăn nuôi,
trồng trọt cho cư dân làng Tràng Sơn. Cách làng khoảng 3 km về phía Bắc là
Chợ Bộng, một chợ lớn lâu đời ở vùng Nam Yên Thành; là nơi trao đổi, mua
bán các sản phẩm và vật dụng cần thiết của cư dân Tràng Sơn và các làng
trong vùng (Chợ Bộng xưa thuộc làng Viên Sơn, xã Viên Thành). Địa thế
của làng nằm chủ yếu nằm về phía Đông đường tỉnh lộ 534, ngày xưa vùng
đất canh tác, khai phá của làng có chiều dài từ Nam ra Bắc khoảng 3km và
chiều rộng Đông sang Tây khoảng hơn 4km (tính theo đường chim bay).
Nhìn xa về phía Tây - Bắc làng Tràng Sơn, thấp thoáng là dãy núi
Xanh Gám (còn có hai tên gọi khác là Nhôn Sơn, Rú Gám, thuộc xã Xuân
Thành, Yên Thành,); phía Tây có động Tù Và (còn gọi là núi Bồ Lĩnh); phía
Đông là động Thờ (hay núi Cao Sơn).
Theo quan niệm lâu đời của cư dân Yên Thành nói chung và làng
Tràng Sơn nói riêng thì Xanh Gám, động Tù Và và động Thờ là ba ngọn núi
thiêng của Yên Thành. Rú Gám là danh sơn của vùng đất Yên Thành, mang
hình dáng của loài chim Phượng Hoàng cao quý, trên núi có đền Bạch Thạch
linh thiêng; Rú Gám cùng với Sông Dinh từ xa xưa đã trở thành biểu trưng
của quê lúa Yên Thành, hiện tại nơi đây đang tiến hành xây dựng Thiền viện
Trúc lâm Yên Thành. Động Thờ thuộc địa phận làng Tràng Sơn [23, tr 491],
trên đỉnh núi có đền thờ thần Cao Sơn. Động Tù Và thuộc địa phận xã Công
Thành, huyện Yên Thành. Trong dân gian có câu ca:
Cao nhất là Động Tù Và
Thứ nhì Xanh Gám, thứ ba động Thờ.
Theo số liệu trong bản đồ của Bộ tổng Tham mưu Quân đội nhân dân
Việt Nam in năm 1967 thì Rú Gám cao 260m, động Tù Và cao 249m và
động Thờ cao 210,5m. Điều này chứng tỏ rằng câu ca trên là của cư dân các
làng trong khu vực Nam Yên Thành, trong đó có làng Tràng Sơn. Do không
có phương tiện đo đạc chính xác, chỉ ước lượng bằng mắt thường và cảm

đất đai bạc màu, canh tác gặp nhiều khó khăn đã có ảnh hưởng rất lớn đến đời
sống kinh tế của cư dân Tràng Sơn xưa cũng như nay.


20

Từ những năm 60 của thế kỷ trước, trong phong trào xây dựng hợp tác
xã nông nghiệp, và còn một phần nữa là trong thời kỳ chiến tranh phá hoại,
cầu Tràng Sơn trên đường 534 bên cạnh làng bị không quân Mỹ đánh phá ác
liệt; chính quyền xã vận động bà con làng Tràng Sơn (cũng như nhân dân
Lương Hội và Yên Duệ - hai làng khác của xã Sơn Thành) di dân vào sinh
sống tại các vùng đồi núi lập nên các xóm mới ở Rú Me, Rú Nhót, Cửa
Truông, Rú Bùi, Khe Môn, Rú Bạc (bây giờ là các xóm 1,2 ,3, 4, 5, 6, 7, 8, 9
và xóm 13 xã Sơn Thành). Từ đó, địa phận làng Tràng Sơn chỉ còn lại các
xóm 10, 11, 12, ruộng đồng của làng cũng thu hẹp lại rất nhiều so với trước
khi thành lập các hợp tác xã nông nghiệp. Năm 2014, cả ba xóm có tổng diện
tích là 59,4 ha; trong đó đất canh tác là 32,5 ha và 26,9 ha đất thổ cư. Riêng
từng xóm thì: xóm 10 có 22,9 ha đất trong đó có 11,4 ha đất canh tác, 11,5 ha
đất thổ cư, trong đó 2,7 ha đất ở và 8,8 ha đất vườn. Xóm 11 có 21,7 ha đất
trong đó 15,6 ha đất canh tác và 6,1 ha đất thổ cư, đất ở là 1,7 ha và 4,4 ha đất
vườn. Còn xóm 12 có 24, 8 ha đất, đất canh tác là 5,5 ha cùng với 9,3 ha đất
thổ cư gồm 2,2 ha đất ở và 7,1 ha đất vườn.
1.2. Lịch sử hình thành của làng.
1.2.1. Quá trình lập làng.
Cho đến thời điểm hiện nay; mặc dù đã có khá nhiều tài liệu viết về các
nhân vật lịch sử là cư dân làng Tràng Sơn như Lê Kính, Lê Hiệu, Lê Doãn
Nhã, Trần Can, trong đó có nhắc đến tên Tràng Sơn Trại, làng Tràng Sơn
nhưng chưa có tài liệu nào đề cập đến thời gian thành lập làng Tràng Sơn; và
gần đây nhất, hai tài liệu “Lịch sử xã Sơn Thành” và “Tràng Sơn, một làng
văn hóa dân gian phong phú” đã được xuất bản nhưng chưa thống nhất về

sử ký tiền biên” chép rằng “Bính Dần, Thiệu Long năm thứ chín (1266) ...
Tháng ba, mở khoa thi chọn học trò, cho Trần Cố đỗ kinh Trạng nguyên,
Bạch Liêu đỗ trại Trạng nguyên, ... Khi đó Thượng tướng Quang Khải quản
châu Nghệ An, Liêu chỉ làm khách, không ra làm quan” [11, tr 418, 419].
Bạch Liêu vốn quê làng Trúc Hạ, xã Thanh Đà, nay thuộc xã Mã Thành,
huyện Yên Thành, là vị tổ khai khoa của Yên Thành và cũng là của cả Xứ


22

Nghệ. “Khi đi thi, ông dời cư đến thôn Quảng Động, xã Nguyên Xá (lúc bấy
giờ xã Nguyên Xá bao gồm các làng Viên Minh, Hậu Luật, Vân Nam, Bảo
Cứ, An Duệ, Xa Hội, Trầm Nội, Bảo Nham, Tiên Hồ)” [41, tr 17], huyện
Đông Thành; đến “thời Nguyễn, ở xã Nguyên Xá có nạn hổ rừng về quấy rối
dân. ... họ Bạch liền di cư vào đất Hoàng Hà (Can Lộc) ... dời luôn cả lăng mộ
Bạch Liêu vào táng ở đất Can Lộc, phía trước chùa Hương Tích của núi Hồng
Lĩnh” [12, tr 39]. Sau khi họ Bạch dời đi, nhân dân Nguyên Xá dựng một ngôi
miếu thờ Bạch Liêu trên đỉnh Động Sơn, cách chợ Bộng khoảng hơn 1 km về
phía Đông – Nam; miếu thờ nay đã đổ nát, chỉ còn lại dấu vết nền tường đá và
Ban thờ xây bằng gạch trát vôi vữa, người dân trong vùng gọi đây là “đền thờ
quan trạng Bạch” và thường thắp hương lễ cúng ngày rằm và mùng một hàng
tháng. Theo ông Nguyễn Hữu Bá, năm nay 90 tuổi, trú tại xóm 10, xã Viên
Thành thì thôn Quảng Động xưa ở phía Đông Nam của Động Sơn, nay là xóm
10 và xóm 11, xã Viên Thành, huyện Yên Thành. Từ đây cho thấy trước năm
1266, khu vực Nam Yên Thành dân cư đã phát triển đông đúc. Khi Thượng
tướng Trần Quang Khải đem quân đóng giữ Nghệ An; vốn mến tài của Bạch
Liêu, Trần Quang Khải đã mời Bạch Liêu làm môn khách, xem như là quân
sư, đàm đạo, tham khảo ý kiến của Bạch Liêu trong công việc. Theo PGS. TS
Trần Bá Chí “Trần Quang Khải gặp và dùng Bạch Liêu là một sự hội ngộ
tương đắc như Huyền Đức gặp Gia Cát Khổng Minh” [12 , tr 32]. Bạch Liêu

Sơn nghĩa là Núi, chữ Tràng (còn đọc là Trường) nghĩa là Dài. Vậy có thể
hiểu tên gọi Tràng Sơn và Trường Sơn chỉ là một. Do khu vực định cư, canh
tác của cư dân nằm ven những dãy núi kéo dài nên đặt tên làng là Tràng Sơn.
Qua thần tích và sắc phong cổ cho thấy ở làng Tràng Sơn có thần tích
đền Nhà Quan là nơi thờ “Bản cơ Mạnh tướng quân truy tôn chư mỹ tự, gia
tăng Dực bảo trung hưng Trung đẳng thần” [23, tr 491]; còn thần tích khác là
“Đền Xã thờ Hoàng Giáp Lê tướng công húy Trung Mẫn” [23, tr 492]; sắc
phong ở nhà thờ họ Nguyễn Hữu do vua Khải Định phong cho ông Nguyễn
Duy Bôi là “thần Dực bảo Trung hưng” [45]. Đó là ba nhân vật có nhiều công
lao được dân làng tôn thờ. Trong số ba nhân vật thì “Hoàng Giáp Lê Tướng


24

công” là Lê Hiệu (1617 – 1680), ông Nguyễn Duy Bôi sống trong thế kỷ
XVIII, còn Quan Hồ Mạnh tướng là người xuất hiện sớm nhất; theo truyền
tụng của các thế hệ dân làng, khi Quan Hồ Mạnh tướng đến Tràng Sơn thì đã
dân cư đã sinh sống rải rác trong khu vực này, được ông quy tụ lại ở hai khu
vực Tràng Sơn và Đan Trung. Theo tập tục của người Việt thì người đầu tiên
khai đất lập làng được thờ làm Thành hoàng làng, nhưng ba nhân vật trên
không phải là những người đầu tiên khai khẩn đất đai, lập nên làng Tràng
Sơn. Vậy ai là người đầu tiên đến đất Tràng Sơn, đến vào thời gian nào? Đến
đây có hai giả thuyết được đặt ra: Thứ nhất, những cư dân từ làng Lương Hội
và Yên Duệ trong cuộc sống tự nhiên đã khai khẩn đất đai lập nên những sơn
trại đầu tiên ở Tràng Sơn, đây chỉ là trại còn nhà cửa của họ vẫn ở làng quê cũ
cách đó chỉ khoảng trên dưới 1 km, sau đó cư dân các nơi khác mới đến
Tràng Sơn; sau nhiều năm bị nạn hổ rừng quấy phá, những cư dân đầu tiên
này bỏ trại quay về định cư ở làng cũ. Thứ hai, đã từng có một số cư dân,
dòng họ từ nơi khác đến đây sinh sống nhưng họ đã dời đi trước khi hình
thành làng Tràng Sơn. Dù theo giả thuyết nào thì cũng có điểm chung là

Từ những căn cứ trên chúng ta có thể khẳng định thời gian thành lập
làng Yên Duệ và Lương Hội là trong khoảng nửa sau thế kỷ XIII. Tràng Sơn
lúc đó đang là một vùng rừng núi rậm rạp, khoảng đầu thế kỷ XV thì dân cư
mới bắt đầu khai phá đất đai Tràng Sơn, lập nên những sơn trại đầu tiên ở đó.
Từ thế kỷ XIX đến trước cải cách ruộng đất, làng Tràng Sơn có 7 xóm:
- Xóm Giếng ở phía Tây (là xóm lớn nhất).
- Xóm Trường ở phía nam.
- Xóm Vắp ở phía Tây - Bắc.
- Xóm Đông ở phía đông.
- Xóm Giữa ở giữa làng (giáp xóm Vắp và xóm Giếng).
- Xóm Phát ở phía Đông - Bắc.
- Xóm Dầu ở phía Tây Nam.
1.2.2. Sự quần cư và mở rộng địa bàn cư trú ở làng.


Trích đoạn Cơ cấu tổ chức và các mối quan hệ của làng. Các hình thức tín ngưỡng tôn giáo 1 Tín ngưỡng dân gian Phong tục tập quán 1 Tục cưới hỏi. Tục tang ma. Văn học nghệ thuật 1 Văn xuôi dân gian.
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status