BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
NGUYỄN THỊ VÂN
LỊCH SỬ - VĂN HÓA LÀNG ĐÔNG CHỬ,
XÃ NGHI TRƯỜNG, HUYỆN NGHI LỘC,
TỈNH NGHỆ AN (TỪ THẾ KỶ XVII ĐẾN NĂM 2014)
LUẬN VĂN THẠC SĨ LỊCH SỬ
NGHỆ AN - 2015
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
NGUYỄN THỊ VÂN
LỊCH SỬ - VĂN HÓA LÀNG ĐÔNG CHỬ,
XÃ NGHI TRƯỜNG, HUYỆN NGHI LỘC,
TỈNH NGHỆ AN (TỪ THẾ KỶ XVII ĐẾN NĂM 2014)
Chuyên ngành: Lịch sử Việt Nam
Mã số: 602.203.13
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC LỊCH SỬ
Người hướng dẫn khoa học
TS. DUƠNG THỊ THANH HẢI
Nơi bảo tồn phát huy tinh hoa của nền văn minh Việt cổ suốt nghìn
năm Bắc thuộc vẫn không đâu khác là các làng Việt. Làng Việt có lịch sử
lâu dài như lịch sử đất nước, làng lúc nào cũng đóng vai trò quan trọng trên
tất cả các lĩnh vực của đời sống kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội.
Làng còn đóng vai trò quyết định trong quá trình trị thuỷ, khai hoang
phát triển sản xuất, là nền tảng cho sự tồn tại và phát triển của đất nước.
Làng cũng chính là nơi nuôi dưỡng lòng yêu nước, ý chí tự lực, tự cường,
là cơ sở nền tảng của văn hóa, văn minh Việt Nam. Làng Việt Nam được ví
như hình ảnh của một nước Việt Nam thu nhỏ.
Không chỉ có vai trò quan trọng đối với lịch sử đất nước mà làng còn là
nơi sinh thành, là nơi mỗi người dân việt Nam gắn bó cả cuộc đời. Cuộc sống
khó khăn nhiều người phải xa quê hương, xa làng quê yêu dấu của mình.
Nhưng trong con người họ luôn hướng về quê hương, bởi như ai đó đã nói:
“Quê hương nếu ai không nhớ, sẽ không lớn nỗi thành người ”. Vì thế, nghiên
cứu làng Việt là để tìm hiểu quá trình phát triển, những đóng góp, vai trò và vị
trí của nó trong lịch sử, góp phần lý giải cuộc sống hiện tại của con người Việt
Nam.
Làng ở Nghệ An được hình thành từ rất lâu trong lịch sử, có làng ở
ven sông ven biển, ở vùng đồng bằng, có làng ở vùng trung du, bán sơn địa,
có làng (bản) ở vùng rừng núi. Ngay ở đồng bằng, có làng ở cạnh đường
thiên lý đi qua, có làng có chợ, có làng ở ven đô thị, có làng ở vùng đồng
trũng, có làng ở đồng bãi, có làng là làng nghề hay có người làm các nghề
thủ công truyền thống, có làng nhiều người học hành, đỗ đạt, v.v... Và thực
tế cho thấy, bao nhiêu tên đất, tên làng là bấy nhiêu khát vọng, tự hào được
nhân dân gửi gắm vào đó, nào là Bút Điền, Bút Luyện, Đa Văn, Văn Hiến,
Văn Trung, Văn Xá, Nho Lâm… Trong số những làng cổ truyền nổi tiếng
đó, tôi lựa chọn một làng ngay chính trên quê hương mình để tìm hiểu,
nghiên cứu.
đóng vai trò hết sức quan trọng trên tất cả các lĩnh vực của đời sống kinh
tế, chính trị, văn hoá, xã hội… chính vì vậy, làng Việt luôn là đề tài nghiên
cứu mới mẻ và hấp dẫn của các nhà khoa học. Từ rất sớm đã có không ít ấn
phẩm giá trị nghiên cứu về làng, tiêu biểu là các công trình của Nguyễn
Quang Ngọc, Bùi Xuân Đính, Phan Đại Doãn, Từ Chi… Các công trình
này tiếp cận dưới nhiều góc độ, khía cạnh khác nhau của làng Việt như cơ
cấu tổ chức, tập quán, đặc trưng văn hoá, hoạt động kinh tế…
Có thể kể đến một số công trình tiêu biểu sau: Công trình “ Một số vấn
đề làng xã Việt Nam ” của Nguyễn Quang Ngọc, tác phẩm đề cập đến sự ra
đời và biến đổi của làng xã Việt Nam trong tiến trình lịch sử, tác giả còn làm
rõ về kết cấu kinh tế - xã hội của làng Việt cổ truyền, văn hoá xóm làng.
Cuối cùng, tác giả đưa dẫn chứng cụ thể về làng xã Việt Nam qua trường
hợp làng Đan Loan. Công trình này đã giúp tôi có cái nhìn khái quát về làng
xã Việt Nam, cung cấp một số cơ sở lý luận quan trọng cho luận văn.
Khi viết “Về một số làng buôn ở Đồng bằng Bắc Bộ ở thế kỷ XVIII –
XIX ”, tác giả Nguyễn Quang Ngọc đã tập trung nghiên cứu về làng Việt ở
6
Đồng bằng Bắc Bộ, sự xuất hiện loại làng buôn và đặc điểm của làng buôn
ở Đồng bằng Bắc Bộ. Thông qua công trình này, tôi hiểu hơn về làng ở
Đồng bằng Bắc Bộ, đặc biệt là làng buôn ở Đồng bằng Bắc Bộ.
Ngoài ra, còn có các công trình: “ Hương ước và quản lý làng xã ”
của Bùi Xuân Đính, Nxb Khoa học Xã hội. Tác giả đã trình bày một số nội
dung cơ bản của hương ước, qua đó tác giả đề cập đến vai trò và tác động
của hương ước trong quản lý làng xã, nêu lên mối liên hệ cũ và mới trong
nội dung hương ước xưa và nay. “ Hương ước và quản lý làng xã” giúp tôi
hiểu sâu hơn về đời sống kinh tế - xã hội của những người nông dân làng
quê
Công trình “Lệ làng phép nước” của Bùi Xuân Đính, Nxb Pháp lý,
Đông Chử xưa và cả nay, đền Diên Cờ rất thiêng, các vị thần ở đây đã phù
hộ cho cuộc sống người dân rất lớn; Cuốn “ Hồ sơ di tích nhà thờ và mộ
Nguyễn Thức Tự”, Nghi Trường, Nghi Lộc, Nghệ An, phần lớn viết về nhà
thờ và mộ Nguyễn Thức Tự và chỉ dành một số trang để đề cập đến sự thay
đổi của tên làng Đông Chử sau cách mạng tháng tám.
Luận văn cao học thạc sĩ chuyên ngành Lịch sử Việt Nam : “ Dòng họ
Nguyễn ở Nghi Lộc và thầy giáo Nguyễn Thức Tự”, Nguyễn Thị Lan
Phương, Nghệ An, Đại học Vinh, 2008. Qua nội dung chính của luận văn có
thể thấy được quê hương, gia tộc và người thầy đáng kính Nguyễn Thức Tự,
không chỉ làm nỗi danh cho làng Đông Chử, vùng đất Nghi Lộc mà cả vùng
đất xứ Nghệ.
Như vậy, các công trình nghiên cứu trên chỉ đề cập tới một khía cạnh
đề tài lựa chọn, chưa có công trình nào đề cập hệ thống về diện mạo của
làng Đông Chử. Tuy nhiên, trên cơ sở tiếp cận có chọn lọc những công
trình đi trước cùng với quá trình tập hợp nguồn tư liệu điền dã, chúng tôi đã
dựng nên phần nào diện mạo của làng Đông Chử từ khi thành lập đến nay
với mong muốn góp phần nhỏ cho việc tìm hiểu về lịch sử, văn hóa của
làng xã trên địa bàn Nghi Lộc nói riêng, Nghệ An nói chung.
3. Mục tiêu, nhiệm vụ nghiên cứu.
3.1. Mục tiêu
8
Thực hiện đề tài này, tôi hướng đến một làng quê tiêu biểu của xã
Nghi Trường, huyện Nghi Lộc, tỉnh Nghệ An – Làng Đông Chử với quá
trình hình thành phát triển của làng.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu .
Với việc tìm hiểu lịch sử - văn hóa làng Đông Chử, luận văn nhằm
giải quyết những nhiệm vụ sau:
- Thứ nhất: làm rõ hơn về mảnh đất và con người làng Đông Chử từ
soạn lịch sử của huyện, xã, làng, cá nhân, liên quan đến đề tài nghiên cứu.
Đây là nguồn tư liệu giúp tôi rất nhiều trong quá trình làm luận văn.
Thứ ba: trong quá trình thực hiện luận văn của mình, tôi đã trực tiếp
tiến hành nhiều cuộc diễn giả, gặp gỡ trao đổi với các cụ già trong làng.
Đây là nguồn tư liệu bổ trợ quan trọng giúp tôi làm rõ hơn những vấn đề
văn hóa làng Đông Chử.
5.2. Phương pháp nghiên cứu.
- Sưu tầm tư liệu : Để có nguồn tài liệu phục vụ cho luận văn tôi đã
tiến hành các chuyến đi để sưu tầm, thu thập tài liệu tại thư viện Tỉnh Nghệ
An. Thư viện Nguyễn Thúc Hào, thư viện Nghi Lộc, sao chép chụp ảnh lại
các đền, sử dụng các phương pháp phỏng vấn, thực tế điền dã tại các đền,
nhà thờ họ ở làng Đông Chử.
- Xử lý tư liệu: Để xử lý tư liệu cho viết luận văn tôi đã sử dụng
phương pháp chuyên ngành khoa học lịch sử, các phương pháp liên ngành
như tổng hợp, thống kê, so sánh, đối chiếu, phân tích.. để thuận lợi cho việc
nghiên cứu lịch sử văn hóa làng Đông Chử.
6. Đóng góp của luận văn:
- Thứ nhất: Dựng lại bức tranh có hệ thống về quá trình hình thành và
phát triển của làng Đông Chử, các giá trị văn hóa vất chất và văn hóa tinh
thần của làng Đông Chử.
- Thứ hai: Góp phần nâng cao sự hiểu biết và lòng yêu quý vốn văn
hóa cổ truyền của quê hương. Từ đó giúp cho mọi người ý thức về cội
nguồn, về lịch sử quê hương mình, về công lao của ông bà tổ tiên đi trước,
phát huy truyền thống yêu nước và uống nước nhớ nguồn.
10
- Thứ ba: Góp phần bổ sung thêm nguồn tài liệu lịch sử địa phương,
cung cấp nguồn tư liệu phục vụ cho công tác nghiên cứu văn hóa, nghiên
cứu làng ở Nghệ An nói riêng, của cả nước nói chung.
dần của biển. Trải qua hàng ngàn năm cai trị của các tập đoàn phong kiến
Trung Quốc và các triều đại phong kiến Việt Nam, cũng như các địa
phương khác trong cả nước, địa giới và tên gọi quận, huyện ở vùng đất
Nghi Lộc đã nhiều lần thay đổi. Theo “Nghi Lộc – Đất văn hiến toả rạng”
của Đào Tam Tĩnh có viết về huyện Nghi Lộc, thời Trần gọi là Tân Phúc;
thời Minh đổi gọi là Chân Phúc; triều Tây Sơn gọi là Chân Lộc. Sách “ Đại
Nam nhất thống chí” của Quốc sử quán triều Nguyễn có ghi về huyện Chân
Lộc như sau:
“ Huyện Chân Lộc ở cách tỉnh thành 125 dặm về phía đông, đông tây
cách nhau 25 dặm, nam bắc cách nhau 42 dặm; phía đông đến biển 18 dặm;
phía tây đến địa giới huyện Hưng Nguyên 7 dặm; phía nam đến địa giới
huyện Nghi Xuân 70 dặm; phía bắc đến địa giới huyện Hưng Nguyên 25
dặm; xưa là huyện Tân Phúc, có thuyết nói là huyện Nghi Chân; đời Tây
Sơn đổi tên hiện nay; trước lệ phủ Đức Thọ; Bản triều (triều Gia Long) vẫn
theo như thế; năm Minh Mạng 7 đổi lệ phủ Anh Sơn. Nay lãnh 4 tổng 66
xã thôn.”
Theo “Nghi Lộc – Đất văn hiến toả rạng” của Đào Tam Tĩnh thì thời
Đồng Khánh (1886 -1888), huyện Chân Lộc là huyện thống hạt thuộc phủ
Anh Sơn. Huyện lị đặt ở địa phận hai xã Kim Nguyên và Cẩm Trường
( thuộc hai xã Nghi Liên và Nghi Trung ), trước đặt ở hai làng Ngô Trường
và Ngô Xá (nay thuộc xã Nghi Đức). Toàn huyện có 4 tổng 81 xã, thôn,
phường. Tổng Yên Trường gồm 26 xã, thôn (nay là thành phố Vinh). Tổng
12
Đặng Xá có 18 xã, thôn. Tổng Thượng Xá có 24 xã, thôn. Tổng Kim
Nguyên có 13 xã, thôn.
Cuốn Lịch sử xã Nghi Trường, đến đời vua Thành Thái (1889 – 1907),
mới đổi tên huyện Chân Lộc dưới triều Tây Sơn thành huyện Nghi Lộc,
theo yêu cầu mới. Huyện Nghi Lộc từ 13 xã lớn lần lượt được chia thành
38 xã mới và thống nhất lấy chữ đầu tên huyện làm chữ đầu tên xã: xã
Thịnh Trường chia thành hai xã: Nghi Trường, Nghi Thịnh. Từ đó đến nay
xã Nghi Trường ổn định về đơn vị hành chính.[15, 7]
Xã Nghi Trường nằm cách trung tâm huyện – thị trấn Quán Hành 5
km về phía Đông Nam, cách trung tâm thị xã Cửa Lò 3 km về phía Tây.
Phía Bắc giáp xã Nghi Thịnh, phía Nam giáp xã Nghi Ân, phía Đông giáp
xã Nghi Thạch, phía Tây giáp xã Nghi Trung. Nghi Trường hiện nay là đất
đai của hai làng cổ Đông Chử ( phía Đông) và Kỳ Trân ( phía Tây). Theo
số liệu của lịch sử xã Nghi Trường thì Nghi Trường hiện nay có diện tích
đất tự nhiên 826 ha, dân số 5.400 người.
Trong các làng cổ ở xứ Nghệ, làng Đông Chử là làng quê tiêu biểu,
giàu truyền thống văn hoá. Mặc dù đã trải qua thời gian dài, những dấu tích
cổ xưa không còn nguyên vẹn như xưa nữa, nhưng những gì còn lại vẫn
nhắc nhỡ cho các thế hệ sau một quá khứ hào hùng mà ông cha ta đã viết
nên.
Đông Chử là một vùng quê yên bình, cách trung tâm văn hoá xã
khoảng 2 km về phía Đông, cách trung tâm huyện - thị trấn Quán Hành
khoảng 5 km về phía Đông Nam, cách trung tâm thị xã Cửa Lò 3 km về
phía Tây, phía Bắc giáp xóm 5 xã Nghi Thịnh, phía Nam giáp xóm 13 xã
Nghi Trường, phía Đông giáp xã Nghi Thạch, phía Tây giáp xóm mới bệnh
viện huyện.
Đây là một vùng đất có núi, có sông, sơn thuỷ hữu tình, một làng quê
có truyền thống lịch sử văn hoá lâu đời của Nghi Lộc nói riêng và của
Nghệ An nói chung, đặc biệt nơi đây còn là nơi nổi tiếng cách mạng trước
và sau khi có phong trào cách mạng vô sản và xem ra dẫn đầu vẫn là gia
đình cụ Nguyễn Thức Tự. Có câu ca dao rằng:
14
1.1.2. Điều kiện tự nhiên
Địa hình, đất đai: Trong quá trình phát triển lịch sử, Nghi Lộc đã phải
trải qua một quá trình đầy khó khăn, cũng như các vùng ven biển của quốc
gia Việt Nam thưở trước, cách đây khoảng 18 ngàn năm mực nước biển
thấp khoảng 120m so với ngày nay, con người có thể đi bộ đến Hải Nam –
Trung Quốc, đến Hoàng Sa, Trường Sa, xuống tận Inđônêxia. Cách ngày
nay khoảng 11 năm, mực nước biển dâng lên và sau đó lùi thấp từ 10 – 15
m so với mức bình thường. Cách 5 ngàn năm thì nước biển dâng cao so với
mức đã có 4 – 5 m và lại dần thấp xuống và ổn định như ngày nay
Ở phía Bắc, phía Tây và Tây Nam từ tả ngạn sông Cấm trở lên là các
núi, đồi kế tiếp nhau suốt địa giới và các huyện Diễn Châu, Yên Thành, Đô
Lương, Nam Đàn và một phần hữu ngạn sông Cấm lấn sâu lan rộng dọc
biển phía Bắc Cửa Lò. Dãy Đại Vạc từ Nghi Văn, phía Tây Bắc huyện
chạy dọc theo địa giới huyện Yên Thành, Diễn Châu về dãy núi Voi hữu
ngạn sông Cấm, trong dãy Đại Vạc có động Thần Vũ (Nghi Hưng) cao
491m so với mực nước biển. Phía Tây Nam có dãy núi Đại Huệ từ Nghi
Kiều chạy dài đến Tam Toà Thánh Mậu xã Nghi Công. Vành đai vị trí núi,
đồi thuận lợi cho công trình quốc phòng, tạo thế phòng thủ chiến lược liên
hoàn của huyện.
Có thể thấy, với địa hình đó đã tạo cho vùng đất phía đông Nghi Lộc
là kết quả của những đợt biển tiến biển lùi tạo nên những dãi cồn cát chạy
dài theo hướng Bắc – Nam xen lẫn những hồ đầm, lạch nước hoang sơ.
Trên các bãi bồi, dân cư được hình thành và khai phá đất đai trồng trọt,
chăn nuôi để phát triển các nghề để sinh tồn, xây dựng cuộc sống. Phía Tây
và Tây Bắc nhiều đồi núi cao có độ dốc lớn bởi sự chia cắt khe suối, hồ
đầm và những vùng đồng bằng phù sa đan xen tương đối rộng, địa hình
Nghi Lộc có thể nói là đa dạng, thấp dần từ Tây sang Đông.
Đại Huệ ở phía Tây Nam và dãy núi Đại Vạc ở phía Tây Bắc, phần lớn
chạy qua Nghi Lộc 15 km từ Tây Nam đến Đông Bắc đổ ra Cửa Lò. Với độ
17
nghiêng không lớn, sông Cấm mang đặc trưng của dòng sông đồng bằng.
Sông Cấm cũng là ranh giới tự nhiên giữa hai vùng có đặc điểm riêng của
huyện Nghi Lộc.
Vùng phía Bắc và Tây, Tây Nam từ tả ngạn sông Cấm trở lên núi đồi
nối tiếp nhau dàn dày suốt dọc địa giới chung với các huyện Nam Đàn, Đô
Lương, Yên Thành, Diễn Châu, lấn sâu vào nội địa và lan rộng ra dọc bờ
biển phía Bắc Cửa Lò.
Vùng phía Đông và Đông Nam từ hữu ngạn sông Cấm trở xuống, tuy
không có nhiều đồi núi, song địa hình cũng khá phức tạp. Bởi sau các đợt
biển lùi cứ cách nhau khoảng trên dưới 1 km lại nổi lên một cồn cát cao
rộng, kéo dài song song theo bờ biển.
Sông Lam có 6 km chảy qua phía Đông Nam huyện Nghi Lộc rồi xuôi
về Cửa Hội. Kênh nhà Lê ở phía Bắc từ Diễn Châu chạy về sông Cấm,
ngoài ra còn có sông Rào Trường bắt nguồn từ các xã phía Đông của huyện
Nghi Lộc rồi đổ ra hạ lưu sông Cấm.
Nghi Lộc là huyện đồng bằng ven biển nằm trong vùng chung của khí
hậu Nghệ An – Miền Trung thuộc khu nhiệt đới gió mùa Đông Bắc lạnh về
mùa đông, gió Tây Nam vừa nóng vừa khô (thường gọi là gió Lào) thổi
mạnh từ tháng 5 đến tháng 8, xen kẽ giữa gió Lào là gió Đông Nam mát
mang hơi nước từ biển vào (thường gọi là gió nồm).
Khí hậu Đông Chử thuộc khí hậu của vùng ven viển Bắc Trung Bộ,
quanh năm chịu ảnh hưởng của gió mùa Đông Bắc và gió mùa Tây Nam,
bởi vậy có sự phân biệt rõ rệt giữa hai mùa nóng và lạnh, một năm có bốn
mùa khá rõ rệt, tuy nhiên thời gian phân bố các mùa lại không đều nhau.
Ở đây mùa lạnh từ tháng 10 đến tháng 4 năm sau thường có gió mùa
ngưỡng. Nó hình thành trong quá trình liên hiệp tự nguyện giữa người dân
lao động trên con đường chinh phục những vùng đất gieo trồng” [42, 11].
Theo GS Từ Chi, làng là từ nôm, để chỉ đơn vị tụ cư nhỏ nhất trong hoàn
chỉnh của người nông dân, còn xã là chữ Hán để chỉ đơn vị hành chính thấp
nhất ở các vùng nông thôn Việt Nam. Xã của người Việt Nam có thể bao
gồm từ một đến nhiều làng, tuỳ từng trường hợp. Mặt khác trong nhiều
19
trường hợp, xã chỉ gồm một làng. Khi đi tìm hiểu về một làng cổ truyền với
những giá trị văn hoá truyền thống mang tính đặc thù của làng thì đòi hỏi
người nghiên cứu phải tìm về nguồn gốc xa xưa của nó. Ngay từ buổi đầu
lập làng, cư dân đã bắt đầu gây dựng đời sống vật chất ổn định, để từ đó tạo
nên một cộng đồng làng xã có đời sống văn hoá tinh thần phong phú, cùng
với kết cấu xã hội hoàn chỉnh.
Đông Chử xưa thuộc tổng Thượng Xá, huyện Nghi Lộc, nay thuộc xã
Nghi Trường, huyện Nghi Lộc, tỉnh Nghệ An. Đông Chử, nghĩa chữ Hán là
vừng đất bãi bồi phía Đông. Thư tịch cổ và các tài liệu địa chất cho biết:
Thuở xa xưa, biển từng ăn sâu đến tận vùng này. Sau những lần “biển tiến,
biển lùi” diễn ra hàng trăm năm trong lịch sử, giờ đây biển đã cách xa vùng
quê Đông Chử tới chục cây số. Gần đây, có người khi khai móng xây nhà
vẫn đào được những tấm ván thuyền đi biển từng bị vùi sâu dưới lòng đất.
Qúa trình “biển cải hóa tang điền” đã để lại trên địa bàn huyện Nghi
Lộc nói chung, làng Đông Chử nói riêng những doi cát bạc màu, những cồn
cọi lúp xúp, cây phi lao, cây hoang dại xen giữa những ao đầm, rạch nước
nặng chua phèn, vì vậy mà người xưa đã có câu “Đất Nghi Lộc cỏ không
mọc được”.
Trong quá trình tìm hiểu, khảo sát và kết hợp với nguồn tài liệu ít ỏi đã
cho thấy từ cuối thế kỷ XIV đã hình thành vùng đất Đông Chử với sự khai
cơ, lập nghiệp, lấy nông nghiệp làm mưu sinh của một bộ phân dân cư.
Trân và Đông Chử.
Đến năm 1954, xã Thịnh Trường chia thành hai xã: Nghi Trường và
Nghi Thịnh. Lúc này hai thôn Đông Chử và Kỳ Trân sáp nhập thành xã
Nghi Trường và làng Đông Chử thuộc xã Nghi Trường cho đến ngày nay.
1.2.2. Dân cư
Làng Đông Chử trước đây nằm trong vùng đất phía đông của huyện,
từ thưở xưa là biển, trải qua quá trình biến đổi dữ dội của địa chất, thiên
nhiên, với hiện tượng biển tiến, biển lùi đã tạo nên những dọc cát cao, dài
theo hướng Bắc – Nam. Giữa các dọc cát là vùng đất trũng, tạo nên địa
hình phù hợp cho việc khai khẩn lập làng, phát triển sản xuất.
21
Theo các nguồn tài liệu xưa, con người sinh sống ở vùng đất của xã
Nghi Trường rất sớm. Ban đầu là những ngôi làng với thưa thớt dân cư.
Cho đến đầu thế kỷ XIV, cùng với sự phát triển của các triều đại, vùng đất
này là nơi hội tụ của nhiều dòng họ khác nhau. Địa chí Nghi Lộc đã viết:
“Tại làng Đông Chử có các họ Nguyễn Đăng, Nguyễn Thức, Lê, Phan,
Nguyễn Đình…Cư trú đã nhiều đời là họ Nguyễn Đăng, 22 đời, từ ngoài
Bắc vào. Họ Nguyễn Thức từ Thanh Hóa vào cuối thế kỷ XVI – đầu thế kỷ
XVII; các họ Lê, Phan, Nguyễn Đình… cũng từ thế kỷ XVII đến thế kỷ
XIX tiếp tục đến khai canh cư trú tại Đông Chử” [26, 61]
Như vậy, trong sự hình thành dân cư ban đầu của Đông Chử đã cho
thấy các dòng họ đến định cư khai phá ở làng vào các thời gian khác nhau.
Họ cùng nhau đoàn kết chống lại thiên tai, bão lũ, chống lại sự áp bức của
bọn cường hào, chống kẻ thù xâm lược, cùng nhau xây dựng nên quê
hương làng xóm ngày càng đông vui. Đến nay, làng Đông Chử hiện có 35
dòng họ cùng chung sống, góp phần tạo thành một cộng đồng dân cư
khăng khít, ổn định. Ở mỗi gia đình, cá nhân đều tìm thấy ở làng mình
không chỉ là chỗ dựa về vật chất mà hơn hết vẫn là tình cảm, tinh thần nên
đó đổi họ Mạc.
Đến thời Tống, năm 1038 đời Cảnh Hữu, con cháu họ Mạc có Mạc
Vĩnh Xương đỗ tiến sĩ làm huấn học ở Quảng Châu và đã chuyển đến đó
sinh sống, Mạc Vĩnh Xương sinh được ba người con trai là Mạc Ngu, Mạc
Lỗ và Mạc Đôn. Về sau Mạc Ngu dời cư sang nước Nam sinh thành ra họ
Mạc ở Nam Tân, Chí Linh, tỉnh Hải Dương bây giờ.
Đến đời thứ năm, kể từ Mạc Hiển Tích lại có Mạc Đình Chi (12721529) là một danh nhân kiệt xuất – Lưỡng quốc trạng nguyên dưới thời
Trần Thánh Tông. Hậu duệ đời thứ 7 của Mạc Đình Chi là Mạc Đăng Dung
(1483- 1541) chính là người sáng lập ra vương triều Mạc là vị vua họ Mạc
đầu tiên (1527 – 1529). Họ Mạc tồn tại qua 10 đời vua từ Mạc Thái Tổ
Đăng Dung đến Mạc Kính Vũ (1638 -1677). Theo Phan Đăng Thuận, họ
Mạc ở Nghệ An (Thông tin khoa học và công nghệ, số 5, 2007). Năm 1592,
sau khi chính quyền Lê – Trịnh chiếm được Thăng Long và tìm cách tiêu
23
diệt con cháu họ Mạc, nên con cháu họ Mạc phải thay tên đổi họ, mai danh
ẩn tích, ly tán khắp nơi, mặc dù vậy nhưng vẫn để lại dấu hiệu của dòng họ
bằng cách đặt tên có mật hiệu riêng, ghi gia phả, đặt mật mã trong câu đối
như:
“ Bốn trăm năm trước cuối cùng trở lại như ban đầu
Mười ba đời sau tuy khác biệt mà vẫn cùng chung một dòng”
Đến ngày 30/4/2000, đã xác định được 419 chi họ Mạc và chi họ gốc
Mạc với 50 họ khác nhau ở 26 tỉnh thành, trong đó ở Nghệ An đông nhất
có 185 chi họ Mạc và gốc Mạc với các phái hệ [15, 21]
Trải qua hàng trăm năm kể từ khi phải mai danh ẩn tích vào Nghệ Tĩnh,
các thế hệ con cháu họ Mạc đã cùng các dòng họ khác có những đóng góp
hình thành nên các vùng dân cư, làm giàu thêm truyền thống hiếu học, yêu
nước…
Họ Nguyễn Đình cũng là dòng họ có mặt từ rất sớm với công khai
trong làng, được nhân dân trong xóm bầu ra để làm khâu trung gian giữa
làng với xóm, xóm có việc gì xóm trưởng phải đứng ra giải quyết. Giúp
việc cho xóm trưởng, có vài ba người do xóm trưởng cử, cùng lo việc
chung của xóm.
Trong mỗi đơn vị xóm, lại tổ chức thành hàng xóm, láng giềng, đơn vị
quần cư, tất cả mọi người trong xóm tập hợp lại với mục đích là tương trợ
giúp đỡ lẫn nhau trong các công việc tang ma, cưới xin, hoặc lúc gặp khó
khăn trong cuộc sống.
+ Tổ chức hành chính của làng.
Theo GS Nguyễn Quang Ngọc “làng xã” như một đơn vị tụ, đơn vị
kinh tế, đơn vị tín ngưỡng và sinh hoạt văn hoá cộng đồng, đơn vị hành
chính cấp cơ sở như ta hằng quan niệm xưa nay được hình thành trong thời
điểm lịc sử này. Còn theo GS Bùi Xuân Đính thì làng là đơn vị tụ cư truyền
thống của người nông dân Việt, có địa vực riêng, cơ sở hạ tầng cùng cơ cấu
tổ chức riêng, lệ tục riêng…nhưng chặt chẽ và hoàn chỉnh nhất.
25