Đền, chùa trong không gian văn hóa làng Phấn Vũ ( Xã Thụy Xuân, huyện Thái Thụy, tỉnh Thái Bình) - Pdf 31

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
VIỆN VIỆT NAM HỌC & KHOA HỌC PHÁT TRIỂN
---------------------------------

LÊ THỊ MỸ HUYỀN

ĐỀN, CHÙA TRONG KHÔNG GIAN VĂN HÓA
LÀNG PHẤN VŨ (XÃ THỤY XUÂN,
HUYỆN THÁI THỤY, TỈNH THÁI BÌNH)
Luận văn thạc sĩ chuyên ngành Việt Nam học
Mã số: 60.22.01.13

Người hướng dẫn khoa học: TS. Phạm Văn Lợi

Hà Nội - 2015


LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các số
liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được công bố
trong bất kỳ công trình nào khác.

Tác giả

Lê Thị Mỹ Huyền


LỜI CẢM ƠN

Để hoàn thành luận văn tốt nghiệp này, tôi xin trân trọng bày tỏ lòng

1.2.1. Lịch sử hình thành làng .................................................................................. 15
1.2.2. Quá trình phát triển cư dân ............................................................................. 16
1.3. Các hoạt động kinh tế........................................................................... 19
1.3.1. Thủ công nghiệp ............................................................................................ 19
1.3.2. Nuôi trồng, đánh bắt thủy hải sản.................................................................. 20
1.3.3. Diêm nghiệp ................................................................................................... 22
1.3.4. Kết cấu hạ tầng............................................................................................... 23
1.4. Một vài vấn đề về xã hội ....................................................................... 24
1.4.1. Dân số, lao động và việc làm ......................................................................... 24
1.4.2. Tổ chức xã hội ................................................................................................ 24
1.5. Đôi nét về văn hóa ................................................................................ 26
1.5.1. Văn hóa ẩm thực............................................................................................. 26
1.5.2. Văn hóa ở ........................................................................................................ 28
1.5.3. Văn hóa mặc ................................................................................................... 30
1.5.4. Văn hóa ứng xử với môi trường biển............................................................. 30
1.5.5. Tôn giáo, tín ngưỡng ...................................................................................... 32
1


Tiểu kết ........................................................................................................ 38
CHƯƠNG 2: CỤM DI TÍCH ĐỀN, CHÙA LÀNG PHẤN VŨ ................ 39
2.1. Lịch sử khu di tích ................................................................................ 39
2.1.1. Chùa Phấn Vũ (Minh Đồng tự)...................................................................... 39
2.1.2. Đền Mẫu ......................................................................................................... 39
2.1.3. Đền Quan Lớn Thống .................................................................................... 40
2.2. Kiến trúc ............................................................................................... 40
2.2.1. Kiến trúc chùa Phấn Vũ ................................................................................. 40
2.2.2. Kiến trúc đền Mẫu .......................................................................................... 41
2.2.3. Kiến trúc đền Quan Lớn Thống ..................................................................... 42
2.3. Điêu khắc .............................................................................................. 44


MỞ ĐẦU

1. LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Văn hoá là một thực thể sống động, có sự vận động cả trong không gian
và thời gian. Nhìn theo chiều thời gian, văn hoá Việt Nam là một diễn trình
lịch sử có những quy luật phát triển của nó. Nhìn trong không gian, văn hoá
Việt Nam có sự khác biệt qua các vùng miền. Mỗi miền quê, mỗi vùng đất
đều tự nó mang trong mình dấu ấn văn hoá riêng biệt, vừa có những nét đặc
thù, lại vừa thống nhất trong tính chỉnh thể của nền văn hoá dân tộc Việt
Nam. Thụy Xuân – một miền quê biển, một quê hương giàu truyền thống
cách mạng, một vùng đất đã trải qua hàng nghìn năm lịch sử hình thành và
phát triển, chứa đựng trong đó cốt cách bản chất của cư dân vùng ven biển.
Bên cạnh những nếp sinh hoạt văn hóa truyền thống của cư dân vùng đồng
bằng Bắc Bộ, Thụy Xuân còn mang đặc trưng nếp sinh hoạt của cư dân vùng
biển, thể hiện sức mạnh“Chèo sóng, chém gió”, ý chí kiên cường bất khuất,
chinh phục cải tạo thiên nhiên, chống lại các thế lực cường quyền, áp bức và
giặc ngoại xâm. Mang những nét đặc trưng của vùng đất Thụy Xuân, Thái
Thụy, Thái Bình, làng Phấn Vũ là linh hồn của vùng đất, là không gian văn
hóa thu nhỏ của miền quê biển Thụy Xuân.
Có thể thấy văn hoá làng xã có một vị trí đặc biệt quan trọng trong quá
trình hình thành và phát triển nền văn hoá Việt Nam. Trong đó, đền, chùa lại
là nhân tố phổ biến góp phần tạo nên hệ thống văn hoá làng xã truyền thống
của cộng đồng người Việt (Kinh), có tác động sâu sắc, toàn diện đến nhiều
mặt của xã hội. Đền, chùa ở Việt Nam không đồ sộ nguy nga như ở Ấn Độ,
Trung Hoa, Nhật Bản hay Thái Lan, Campuchia nhưng ở nơi đâu cũng có. Từ
những thảo am trong thôn xóm hẻo lánh đến những ngôi chùa, ngôi đền kiến
trúc bằng vật liệu kiên cố tại các đô thị, tất cả đều mang sắc thái gọn nhẹ,
4



trong công cuộc đấu tranh giải phóng quê hương, là nơi hoạt động của các bậc
tiền bối cách mạng, của du kích làng Phấn Vũ góp phần tô thêm trang sử vẻ
vang của quê hương đất biển Anh Hùng.
Là một người con sinh ra trên mảnh đất Thụy Xuân, tôi chọn đề tài
“Đền, chùa trong không gian văn hóa làng Phấn Vũ (xã Thụy Xuân, huyện
Thái Thụy, tỉnh Thái Bình)” làm luận văn thạc sĩ với hi vọng hiểu rõ thêm về
những giá trị của cụm di tích; thấy được mối quan hệ giữa cụm di tích và
không gian văn hóa làng Phấn Vũ; giúp người dân Thụy Xuân, đặc biệt là thế
hệ trẻ biết trân trọng văn hóa truyền thống ngay trên mảnh đất quê hương.
2. LỊCH SỬ NGHIÊN CỨU VẤN ĐỀ
Từ lâu hệ thống đền, chùa Việt Nam nói chung và hệ thống đền, chùa ở
vùng đồng bằng Bắc Bộ nói riêng đã trở thành đối tượng quan tâm của các
nhà nghiên cứu dưới nhiều góc độ: văn hoá dân gian, kiến trúc, điêu khắc, tôn
giáo, khảo cổ học, dân tộc học, lịch sử... Có thể kể đến một số công trình sau:
Công trình nghiên cứu đầu tiên cần phải kể đến là cuốn “Chùa Việt”
của tác giả Trần Lâm Biền [8]. Cuốn sách đã khái quát quá trình phát triển
của ngôi chùa Việt, phân tích giá trị văn hoá, hướng, bố cục chung và khảo tả
về hệ thống tượng thờ trong chùa.
Cuốn Đình chùa lăng tẩm nổi tiếng ở Việt Nam của tác giả Trần Mạnh
Thường [59] giới thiệu về các công trình kiến trúc cổ, những thành, lũy, đền,
tháp, đình, chùa, miếu… ở Việt Nam được xếp hạng cấp quốc gia trên phạm
vi cả nước.
Cuốn 250 đình chùa nổi tiếng Việt Nam của tác giả Ngô Thị Kim
Doan [13] nghiên cứu về những ngôi chùa ở Việt Nam từ xưa đến nay,
cùng với phong cách nghệ thuật chùa của Việt Nam từ thế kỷ X đến chùa
đất, chùa gỗ cho tới phong cách nghệ thuật, chùa của người Khơ me,
người Hoa, người Chǎm.
6




tháng 10 năm 2012, Uỷ ban Nhân dân tỉnh Thái Bình đã ra quyết định công
nhận cụm di tích này là di tích lịch sử văn hóa cấp Tỉnh. Tuy nhiên, những tư
liệu này chỉ mới tập trung vào khai thác giá trị lịch sử văn hóa cách mạng
nhưng cũng chưa thực sự chuyên sâu, trong khi đó còn nhiều vấn đề chưa
được đề cập đến hoặc đề cập còn ít và sơ sài như: Lịch sử hình thành làng,
hình thành cụm di tích; lễ hội, kiến trúc; công tác bảo tồn, tôn tạo,... Bên cạnh
đó, các nguồn tư liệu này mới chỉ nghiên cứu về cụm di tích; các nhà nghiên
cứu chưa đặt cụm di tích trong mối quan hệ qua lại với các hoạt động kinh tế,
văn hóa, xã hội của cư dân làng Phấn Vũ (hay chính xác hơn) các công trình
nghiên cứu đó chưa đặt cụm di tích (đền chùa) trong không gian văn hóa làng
Phấn Vũ. Vì vậy, có thể thấy đề tài luận văn “Đền, chùa trong không gian
văn hóa làng Phấn Vũ (xã Thụy Xuân, huyện Thái Thụy, tỉnh Thái Bình)” là
một công trình nghiên cứu hoàn toàn mới, cấp thiết, có ý nghĩa khoa học và
thực tiễn.
3. MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU


Hệ thống lại toàn bộ các nguồn tư liệu nghiên cứu về làng Phấn Vũ và

cụm di tích đền chùa làng Phấn Vũ.


Đi sâu nghiên cứu, tìm hiểu cụm di tích đền, chùa làng trong mối quan hệ

với không gian văn hóa làng Phấn Vũ.


Xác định một số vấn đề đang đặt ra và khuyến nghị một số giải pháp

 Phương pháp tiếp cận khu vực học và liên ngành:
Luận văn đặt cụm di tích đền, chùa trong không gian văn hóa làng Phấn
Vũ - một không gian văn hóa có sự giao thoa giữa những yếu tố văn hóa Việt
vùng đồng bằng châu thổ Bắc Bộ và những yếu tố văn hóa Việt vùng ven biển
trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập hiện nay. Luận văn
sử dụng các phương pháp nghiên cứu cụ thể của các ngành sử học, dân tộc
học, xã hội học,… để thu thập và xử lý tư liệu khi viết luận văn.
 Phương pháp Lịch sử:
Nghiên cứu tài liệu, các công trình nghiên cứu đã được công bố (xuất
bản) để xác định các vấn đề cần tiếp tục nghiên cứu trong luận văn và xác
định các tài liệu về đền, chùa, về không gian văn hóa làng Phấn Vũ trong quá
khứ và hiện tại có thể sử dụng trong luận văn.
 Phương pháp Dân tộc học/ Nhân học
Phương pháp khảo sát thực địa của ngành Dân tộc học bao gồm một
loạt phương pháp nghiên cứu cụ thể như quan sát (quan sát tham dự và không
tham dự), phỏng vấn (phỏng vấn sâu, phỏng vấn hồi cố), thảo luận nhóm,
9


chụp ảnh, quay video,… được sử dụng để thu thập tư liệu trên thực địa về
kiến trúc, điêu khắc, cách thức bố trí không gian thờ cúng của cụm di tích và
các hoạt động thờ cúng, lễ hội, tín ngưỡng tôn giáo diễn ra trong cụm di tích
và mối quan hệ giữa cụm di tích với không gian văn hóa làng Phấn Vũ trong
lịch sử và hiện tại. Đây là phương pháp khai thác và cung cấp nguồn tư liệu
định tính chủ yếu để hoàn thành luận văn.
 Phương pháp thống kê:
Khai thác và sử dụng nguồn tư liệu định lượng (các số liệu thống kê) về
điều kiện tự nhiên, tình hình kinh tế, văn hóa, xã hội,… của cư dân làng Phấn
Vũ, xã Thụy Xuân đã và đang được lưu giữ tại địa phương.


điểm nút giao thông quan trọng của tuyến đường liên xã, liên huyện đi các
tỉnh biên giới phía Bắc sang Trung Quốc và các vùng miền trên cả nước,
thuận lợi cho việc giao lưu, trao đổi buôn bán: Phía Đông giáp với biển. Phía
Tây giáp thôn Xuân Bàng, làng Bình Lạng và đường đi đến xã Thụy An. Phía
Nam giáp làng Vạn Xuân, xã Thụy Xuân. Phía Bắc giáp xã Thụy Trường,
huyện Thái Thụy, tỉnh Thái Bình.
Làng Phấn Vũ cách thị trấn Diêm Điền 7km, cách thành phố Thái Bình
khoảng 40km, cách thành phố Hải Phòng 80km, cách thủ đô Hà Nội 120km.
Từ làng đến biển chỉ khoảng 1km rất thuận lợi cho người dân ra biển đánh bắt
hải sản. Năm 2013, xã Thụy Xuân đã xây dựng xong đường đêpan càng tạo
điều kiện thuận lợi hơn nữa cho giao thông đường bộ. Cùng với giao thông
đường bộ thì đường thủy khá phát triển, tạo điều kiện cho Phấn Vũ trong việc
giao lưu kinh tế, văn hoá - xã hội cũng như việc tiếp thu các thành tựu khoa
học, công nghệ và tăng khả năng thu hút vốn đầu tư của các tổ chức trong và
ngoài nước.
1.1.2. Địa hình
Nền địa hình Thái Bình là đồng bằng được hình thành cách đây không
lâu. "Đường bờ biển chỉ mới được bồi đắp trong vòng 100-200 năm trở lại
đây" [2, tr. 30]. Về tổng thể, Thái Bình là một tỉnh đồng bằng, không có đồi
núi, bao gồm các cánh đồng bằng phẳng, xen kẽ các khu dân cư, mạng lưới
11


sông ngòi chằng chịt, độ cao trung bình của tỉnh không quá 3m so với mực
nước biển. Địa hình Thái Bình được chia thành các khu vực: "Loại hình ven
sông; loại hình đất cao phía Tây Bắc; loại hình đất thấp ven sông Hóa; loại
hình đất trũng ở giữa tỉnh và loại hình đất tương đối cao ven biển" [2, tr. 35].
Loại hình đất tương đối cao ven biển gọi là vùng tiếp giáp biển gồm các xã
phía Đông Nam huyện Tiền Hải và Đông Nam huyện Thái Thụy, trong đó có
xã Thụy Xuân. Theo đó, làng Phấn Vũ nằm trên vùng đất cao, chịu tác động

tháng mùa đông, có thể gieo trồng các loại cây cận nhiệt đới và ôn đới, tạo
sản phẩm tiêu thụ trong vùng và xuất khẩu. Song vùng đất này cũng có những
khó khăn do thời tiết đem lại, là nơi đầu sóng ngọn gió nên mùa bão nổi
thường tràn qua Thụy Xuân, gây nhiều thiệt hại. Tác động bất lợi của tự nhiên
gây ra ngập lụt, vỡ đê, nước mặn xâm nhập vào sâu đất liền gây thiệt hại mùa
màng, nhà cửa, đôi khi còn cướp đi sinh mạng con người. "Trận bão ngày
24/6/1929 còn ghi đậm dấu ấn sâu sắc trong lòng người dân Thụy Xuân; tiếp
đó là cơn bão tháng 7/1955 kèm theo gió lớn, mưa nhiều, sóng to, nước biển
dâng tràn đã xóa đi dấu vết của nhiều xóm bãi ngoài đê Ngự Hàm, dọc bờ
biển Thụy Xuân - Thụy Trường - Thụy Hải" [2, tr. 49]. Tuy vậy, để sống hòa
hợp với thiên nhiên, tận dụng các điều kiện thuận lợi và hạn chế tác hại của tự
nhiên, người dân đã biết huy động trí tuệ, sức lực của mình đắp đê, đào hệ
thống kênh mương chống úng ngập, tưới tiêu, dùng các biện pháp thủy lợi để
thau chua, rửa mặn, cải tạo đất đai phục vụ cho sinh hoạt và sản xuất.
1.1.4. Thủy văn
Hàng năm đón nhận lượng mưa lớn (1700 - 2200 mm). Hệ thống sông
ngòi dày đặc, các ao hồ, đầm nhỏ nằm rải rác, xen kẽ với với làng xóm hoặc
ven đê, lại tiếp nhận một lượng nước lớn từ các sông: Sông Trà Lý, sông Hóa,
sông Diêm Hộ, sông Hệ tạo nên một hệ thống thủy văn phong phú. Lượng
nước biển lớn với chế độ thủy triều ảnh hưởng trực tiếp đến sản xuất nông
13


nghiệp và vận tải, nhiều nhất vào các tháng 1, 2, 3. Các tháng này mực nước
ngầm, nước mặt trong đất liền thấp. Khi triều cường, nước mặn thâm nhập
vào đồng ruộng làm cho đồng ruộng bị nhiễm mặn. Mặt khác, thủy triều dâng
có tác dụng làm cho nguồn nước mặt dâng cao, có lợi cho các vùng lấy nước
ngọt tưới cho đồng ruộng. Về các tháng mùa mưa, khi triều thấp có thể tiêu
nước từ các vùng ngập úng ra biển. Khi tiêu úng ra biển, dòng nước đem theo
nhiều tác nhân bất lợi cho mùa màng, giúp thau chua rửa mặn, giải phóng môi

lợ, nước ngọt: Tôm sú, cá song, cá bớp, cá vược.
1.2. Một số vấn đề lịch sử và cư dân
1.2.1. Lịch sử hình thành làng
Căn cứ vào kết quả nghiên cứu trong cuốn Lịch sử Đảng bộ huyện Thái
Thụy, cuốn Địa chí Thái Bình, có thể thấy cũng như các xã ven biển nằm ở
phía Đông Bắc huyện Thái Thụy, làng Phấn Vũ, xã Thụy Xuân không nằm
ngoài quá trình hình thành trải qua hàng chục vạn năm của vùng đồng bằng
ven biển Bắc Bộ. Trải qua quá trình lấn biển, đất đai xã Thụy Xuân nói
chung, làng Phấn Vũ nói riêng đã nhiều lần chìm nổi. Khoảng 2500 năm
trước, địa chất khu vực mới ổn định, mực nước biển rút dần, để lộ ra các vùng
đất với nhiều gò đống, đầm lầy, đất đai Thụy Xuân dần hình thành và bắt đầu
xuất hiện luồng cư dân di cư theo đường biển về đây hội tụ sinh sống. Tuy
nhiên, do sự khó khăn hiếm hoi về mặt tư liệu nên chưa đủ điều kiện làm rõ
được tên tuổi, địa bàn hành chính của Thái Thụy (trong đó có Phấn Vũ - Thụy
Xuân) trong thời kỳ dựng nước trước công nguyên và nghìn năm Bắc thuộc.
"Đến thế kỷ thứ X từ các triều đại Đinh - Lê - Lý - Trần trở đi cùng với thắng lợi
trong đấu tranh chống ngoại xâm, củng cố nền độc lập thì cương vực Thái Thụy
mới dần rõ nét" [5, tr. 8]. Cuối thế kỷ XVIII, Thái Thụy nằm trong 3 huyện
của 2 phủ: "huyện Thụy Anh, huyện Đông Quan của phủ Thái Bình (đời Tây
Sơn gọi là phủ Thái Ninh) và huyện Thanh Lan (hoặc Thanh Quan) của phủ
15


Tiên Hưng" [5, tr. 9]. Tên tuổi, địa bàn hành chính của làng Phấn Vũ trải qua
các thời kỳ này đều nằm trong tên tuổi chung, địa giới hành chính chung của
Thái Thụy với các tên gọi khác nhau qua tiến trình lịch sử.
Theo cuốn “Các Tổng trấn xã danh bị lãm” thì Phấn Vũ nằm trong 9
tổng với 59 xã của huyện Thụy Anh với tên gọi xã Phấn Vũ thuộc tổng Vạn
Xuân (cũng có lúc đổi thành làng Phấn Vũ hoặc xã Minh Vũ của tổng Vạn
Xuân) và tên gọi đó được duy trì đến Cách mạng tháng 8/1945. Theo điều tra

cư của làng Phấn Vũ còn được minh chứng bổ sung sống động bằng nếp sinh
hoạt văn hoá độc đáo mang sắc thái riêng của cư dân ven biển trong đó văn
hoá tâm linh và tín ngưỡng thờ Thánh Mẫu đóng vai trò hết sức quan trọng
trong đời sống tâm linh của nhân dân.
"Công cuộc khai khoang, trị thuỷ của các xã Bình Lãng, Phấn Vũ, Vạn
Xuân, Chỉ Bồ, Lổ Trường, Tam Chi, Tri Chỉ thuộc Tổng Vạn Xuân đặc biệt
sôi động khi nhà nước phong kiến Đại Việt giành quyền tự chủ, từ thời Lý Bí
hai cha con Lý Thiên Bảo, Lý Bảo Quốc đã lấy nơi đây lập trại, đóng đồn, lập
ấp để huấn luyện quân sỹ tích trữ lương thảo phục vụ cho cuộc khởi nghĩa
đánh đuổi quân Lương ra khỏi bờ cõi dựng lên nước Vạn Xuân" [5, tr.12].
Thời gian tiếp theo luồng cư dân di cư theo đường biển từ nhiều nguồn gốc,
thành phần khác nhau: Có trường hợp đến đây do muốn thoát khỏi cảnh đè
nén, tù túng ở quê cũ; có người phiêu bạt do loạn lạc chiến tranh; có người
phải thay đổi tên họ để tránh sự truy bức của triều đình; có người là nô tì, gia
nhân tự nguyện đi theo công thần về mở mang điền trang, thái ấp.
Đến thời nhà Trần, tổng Vạn Xuân là hậu căn cứ quan trọng để nhà
Trần xây dựng tuyến phòng trữ tích trữ lương thảo, rèn luyện quân sỹ trấn giữ
cửa Đại Bàng. Khi cuộc kháng chiến chống Nguyên Mông thắng lợi, Đốc Hậu
đại tướng quân Ngô Đạt đã đem theo gia nhân, binh lính thuộc hạ và vận động

17


trai tráng đắp đê ngăn mặn và con trai cả của tướng quân Nguyễn Liệu Công
đã về tổng Vạn Xuân lập ấp.
Cuối thế kỷ XIV, trước sự lấn át của Hồ Quý Ly, nhiều thân tộc nhà
Trần lánh về Thái Thụy núp dưới danh nghĩa khai khẩn vùng ven biển để
chiêu mộ lực lượng chờ thời cơ khôi phục lại nhà Trần.
Dưới thời Lê sơ, chính sách trị thủy của nhà nước có tác động thuận lợi
đến công cuộc khẩn hoang, mở mang làng xã, đắp đê biển để chắn lũ, ngăn

1.3.1.1. Nghề đan lát mây, tre
Hầu hết các làng xã ở Thái Bình đều có nghề đan lát mây tre. "Theo ghi
chép của người Pháp, vào khoảng năm 1930 - 1932 số người làm nghề đan
lát ở Thái Bình có khoảng 8800 người trong tổng số 42000 người trên toàn
Bắc Bộ. Gần như làng nào cũng có 10 - 15 người làm nghề đan lát" [2, tr.
797]. Dụng cụ của nghề này rất đơn giản, chỉ cần một con dao mác sắc và một
số cây tre, mây là có thể tạo nên các sản phẩm rổ, rá, nong, nia, sàng, quang
gánh, các dụng cụ đánh bắt cá như lờ, nơm. Những người già hoặc những lao
động chính lúc rỗi việc cũng đều tranh thủ đan các thứ đồ để dùng trong nhà
hoặc để bán. Tuy nhiên, hiện nay nghề này hầu như không còn nữa vì thu
nhập thấp, nhiều người đã chuyển sang nghề đan lưới đánh bắt cá hoặc buôn
bán nhỏ tại khu vực chợ Bàng.
1.3.1.2. Nghề đan lưới đánh bắt cá
Trước cách mạng tháng 8/1945, theo ghi chép của người Pháp thì nghề
đan lưới đánh bắt cá ở Thái Bình phát triển hơn so với các tỉnh khác thuộc
vùng đồng bằng Bắc Bộ, có 1200 thợ đan lưới trong số 3000 thợ của toàn Bắc
Kỳ. Thợ đan lưới tập trung ở các làng Phú Lạc (Hưng Nhân), Nam Huân
(Kiến Xương), Tu Trình, Vọng Hải, Vạn Đồn, Vạn Xuân, Đông Dương,
Phương Man (Thụy Anh). Tuy nhiên, trước năm 1945, nghề đánh bắt cá ở
19


Thái Bình nói chung, ở các huyện ven biển (Tiền Hải, Thụy Anh, Thái Ninh)
nói riêng chỉ được xem là nghề phụ, "chưa nơi nào tỏ ra là một làng đánh cá
thực thụ" 1. Hiện nay, phát triển kinh tế biển được xem là ngành kinh tế mũi
nhọn của các huyện Thái Thụy, Tiền Hải trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp
hóa, hiện đại hóa nông nghiệp và nông thôn Thái Bình. Điều này góp phần tạo
điều kiện cho nghề đan lưới đánh bắt cá phát triển.
1.3.2. Nuôi trồng, đánh bắt thủy hải sản
Nghề chính của làng là nuôi trồng, đánh bắt và buôn bán hải sản. Hiện

dựa theo chiều gió mà thả vây lưới (lưới được đan bằng tơ gai) phải cần tới
trên 20 người cùng hợp sức. Khi đánh cá họ thả người xuống nước chia từng
khoảnh thành vòng tròn. Mỗi người đi Kheo có một cây sào dài khoảng 3 mét
vừa lội vừa reo đập sào đuổi cá về phía thuyền lưới. Phương thức này có thể
giúp 20 ngư dân thu hoạch 5 -7 tấn cá/ngày. Càng đánh bắt xa bờ càng được
nhiều tôm cá, từ đó đã phát triển sang nghề Reo Khua. Nghề Reo Khua yêu
cầu phải có nhiều người, nhiều thuyền, đặc biệt lưới phải to, dài và rộng.
Ngoài 2 thuyền lưới ra phải có 8 – 12 thuyền Khua. Phương thức đánh bắt này
cho phép đánh được các loại cá to như cá Thủ, cá Gúng, cá vàng Kép, có mẻ
lưới thu được trên chục tấn cá. Những ngày biển động nghề Reo Khua không
làm được các bạn thuyền tập trung lại 2 thuyền cái để đi đánh Lưới Hà. Nghề
Lưới Hà là nghề lưới thả rê bắt các loại cá Chim, Thu, Nhụ, Đé. Hai nghề
“Lưới hà” và “Reo khua” chỉ khai thác vào thời vụ từ tháng giêng đến trung
tuần tháng 4 (âm lịch), ngoài thời gian này cá đẻ xong nuôi ra ngoài khơi xa
vì thế chỉ đánh cá có thời vụ [3, tr.4]. Năm 1958 đã hình thành các tập đoàn
đánh cá, phương tiện khai thác được cải tiến, thuyền gỗ to buồm vải lưới nghề
làm bằng Ny lon, cải tiến lối đánh bắt, xây dựng phương thức khai thác đa
dạng, phát triển ngư cụ tạo điều kiện để đánh cá quanh năm với nghề lưới rê,
giả đôi, giả tôm, lưới vó mành đánh bằng ánh sáng vào giữa thập niên 60. Đầu
thập kỷ 60 thành lập hợp tác xã đánh cá Vũ Tiến, đến năm 1982 chia tách
thành 02 Hợp tác xã là Xuân Thành và Xuân Tiến. Hiện nay nghề khai thác
thuỷ hải sản được tổ chức quy mô hiện đại hơn với hệ thống tàu to, máy lớn
để vươn ra khơi xa và do các cá nhân đầu tư.
21


Dù đánh bắt bằng phương thức nào thì cuộc sống của ngư dân nơi đây
cũng đầy gian lao. Người đàn ông ra khơi lênh đênh trên biển, phải đối mặt
với sóng to gió lớn, đối mặt với chuyện sinh tử thường ngày. Còn những
người vợ, người mẹ ở nhà luôn phải chịu cảnh: “Ăn với chồng một bữa, ngủ

Trích đoạn Vấn đề tổ chức lễ hội Hoạt động mê tín dị đoan tại cụm di tích Nhóm giải pháp hoạt động thực tiễn
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status