ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
VIỆN VIỆT NAM HỌC & KHOA HỌC PHÁT TRIỂN
NGÔ THỊ THANH HUYỀN
KHÔNG GIAN VĂN HÓA LÀNG ĐẠI MỖ
LUẬN VĂN THẠC SĨ
Chuyên ngành: Việt Nam học
Hà Nội – 2013
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN
KHOA SƯ PHẠM
KHÔNG GIAN VĂN HÓA LÀNG ĐẠI MỖ
LUẬN VĂN THẠC SĨ
Chuyên ngành: Việt Nam học Hà Nội - 2013
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
VIỆN VIỆT NAM HỌC & KHOA HỌC PHÁT TRIỂN
NGÔ THỊ THANH HUYỀN
Giáo viên hƣớng dẫn
:
Sinh viên thực hiện
:
Lớp
:
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
VIỆN VIỆT NAM HỌC & KHOA HỌC PHÁT TRIỂN
NGÔ THỊ THANH HUYỀN
KHÔNG GIAN VĂN HÓA LÀNG ĐẠI MỖ
Luận văn Thạc sĩ chuyên ngành Việt Nam học
Mã số: 60 22 01 13
3. Lịch sử nghiên cứu vấn đề 5
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 11
5. Mục đích nghiên cứu và phương pháp nghiên cứu 11
6. Bố cục luận văn 11
CHƢƠNG 1. KHÁI QUÁT CHUNG VỀ LÀNG ĐẠI MỖ 12
1.1 Giới thuyết khái niệm 12
1.1.1 Khái niệm văn hóa 12
1.1.2.Khái niệm không gian văn hóa 14
1.2. Những nhân tố cấu thành không gian văn hóa làng Đại Mỗ 15
1.2.1. Vị trí địa lý 15
1.2.2. Điều kiện tự nhiên 16
1.2.3. Điều kiện lịch sử, địa chính, dân cư 17
1.2.4. Điều kiện kinh tế xã hội 25
CHƢƠNG 2. TỔ CHỨC KHÔNG GIAN VĂN HÓA LÀNG ĐẠI MỖ 31
2.1. Văn hóa vật chất 31
2.1.1. Tổ chức không gian sống 31
2.1.1.1. Cấu trúc ngõ, xóm 31
2.1.1.2. Tổ chức không gian sinh hoạt văn hóa cộng đồng 32
2.1.1.3. Tổ chức không gian sinh hoạt văn hóa tâm linh 34
2.1.1.4. Tổ chức văn hóa mưu sinh 40
2.1.2. Văn hóa đảm bảo đời sống 49
2.1.2.1. Ăn – Uống 49
2.1.2.2. Mặc 55 2
2.1.2.3. Ở 56
2.2. Văn hóa tinh thần 61
2.2.1. Hội làng 61
2.2.2. Văn hóa ứng xử của người dân làng Đại Mỗ 63
nghiệp ngày càng bị thu hẹp 80
Biểu đồ 3.2. Đánh giá chất lượng an ninh trật tự ở làng Đại Mỗ hiện nay 82
BẢN ĐỒ HÀNH CHÍNH XÃ ĐẠI MỖ 2013
3
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Nước ta là một quốc gia nông nghiệp, tỉ lệ dân số sinh sống ở nông thôn
chiếm đa số. Vì vậy, những nghiên cứu về làng xã nông thôn Việt Nam là một
đề tài được nhiều học giả sớm quan tâm.
Nghiên cứu về làng xã nông thôn hiện nay còn có ý nghĩa tích cực trong
việc xây dựng nông thôn mới, khi mà cơn “bão” đô thị hóa đang “quét” qua
tất cả những làng quê tưởng như yên bình nhất. Vấn đề đặt ra là làm sao để
nông thôn có thể phát triển kinh tế mà không đánh mất những giá trị văn hóa
tốt đẹp.
Những làng ven đô hiện nay đều chịu sự ảnh hưởng rất nhiều của quá
trình đô thị hóa, đều đang mang vẻ mặt vừa cũ vừa mới. Cái cũ chưa mất đi
nhưng đã bị thay đổi nhiều, và người nông dân thì chưa đủ tâm thế để đón
vùng, thiếu tính qui hoạch khoa học, bền vững khiến bộ mặt nông thôn thay
đổi một cách mất cân đối, lệch lạc. Do vậy, việc nghiên cứu về không gian
văn hóa của một vùng nông thôn sẽ góp phần cung cấp cái nhìn toàn diện, có
hệ thống và khoa học, để từ đó có thể đưa ra những chiến lược hợp lý, thúc
đẩy kinh tế nông thôn phát triển mà không làm mất đi bản sắc văn hóa vốn có.
Việc nghiên cứu cũng góp phần nâng cao nhận thức của người dân địa
phương nhằm kế thừa và phát huy truyền thống văn hóa làng Đại Mỗ trong
quá trình hiện đại hóa nông thôn hiện nay.
Nghiên cứu về Không gian văn hóa làng Đại Mỗ, tôi mong muốn luận
văn sẽ góp phần cung cấp cái nhìn tổng quan về một ngôi làng ven đô trong
cái nhìn từ truyền thống đến đổi mới. Luận văn sẽ giúp chính những người
dân làng Đại Mỗ thực sự hiểu về làng mình một cách toàn diện và sâu sắc
hơn.
5
3. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Nghiên cứu về làng xã Việt Nam, đặc biệt là làng xã vùng châu thổ Bắc
Bộ đã sớm được các học giả trong và ngoài nước quan tâm. Nhất là từ khi
thực dân Pháp sang xâm lược và thành lập Viện Viễn Đông Bác Cổ. Người
Pháp đã nghiên cứu về đất nước và con người Việt Nam, văn hóa Việt Nam
để phục vụ cho công cuộc cai trị. Thời đó, dân ta chủ yếu là nông dân, và
phần lớn đều sống trong các làng xã. Vì vậy, muốn hiểu được văn hóa Việt
Nam, họ phải bắt đầu nghiên cứu từ làng xã nông thôn Việt Nam.
Các nhà nghiên cứu đứng từ nhiều điểm nhìn khác nhau và đi từ những
ngành khoa học khác nhau: lịch sử, dân tộc học, xã hội học, văn hóa học,
nhân học…cung cấp cho chúng ta cái nhìn tổng thể và bộ phận về làng xã
nông thôn Việt Nam trên mọi phương diện.
3.1. Các công trình nghiên cứu về làng xã Việt Nam của học giả trong
Nghiên cứu về địa danh làng xã Bắc Kỳ có cuốn Địa danh và tài liệu
lưu trữ về làng xã Bắc Kỳ của tác giả Vũ Thị Minh Hương, là sự hệ thống
các địa danh làng xã, tổng, huyện, châu, phủ, tỉnh của Bắc Kỳ nửa đầu thế kỉ
XX cùng với bản đồ và danh mục hồ sơ làng, xã thời kì đó.
Làng xã ngoại thành Hà Nội của tác giả Bùi Thiết nghiên cứu tên gọi,
lịch sử hình thành của 292 xã và cấp tương đương ở ngoại thành Hà Nội.
Nhóm tác giả Phan Huy Lê, Từ Chi, Phan Đại Doãn cùng một số nhà
nghiên cứu khác đã cho ra đời công trình viết bằng hai thứ tiếng Anh và Pháp
The traditional village in Vietnam / Le village traditionnel au Vietnam là sự
tập hợp các bài viết về đặc điểm văn hoá truyền thống của làng thôn Việt
Nam: Cơ cấu tổ chức chế độ ruộng đất, thị trường, quan hệ xã hội, sinh hoạt
văn hoá Cơ cấu tổ chức của làng Việt cổ truyền Bắc Bộ của tác giả Trần
Từ là một công trình nghiên cứu tầm cỡ, mang nhiều ý nghĩa lớn lao, cung
cấp cho độc giả cái nhìn khoa học và tổng quát về làng Việt cổ truyền, từ chế 7
độ sản xuất, phương thức sản xuất, đến các giai cấp, tầng lớp dân cư trong xã
hội phong kiến xưa, các loại hình tổ chức làng xã…
Tác giả Đỗ Long trong cuốn Tâm lý cộng đồng làng và di sản đã đề cập
tới cơ sở kinh tế, văn hoá, xã hội, lịch sử hình thành và biểu hiện của tâm lý
cộng đồng làng, di sản và diễn biến của tâm lý cộng đồng làng: tâm lý nông
dân, nhu cầu, tình cảm, năng lực và tính cách nông dân, dư luận của làng và
cách ứng xử, phong tục tập quán ở làng xã nông thôn.
Bên cạnh đó, có rất nhiều luận văn tốt nghiệp cử nhân, thạc sỹ, tiến sỹ
cũng lựa chọn mảng đề tài làng xã. Mỗi tác giả chọn cho mình một khía cạnh:
có thể là văn hóa làng nghề, văn hóa dòng họ, làng Việt truyền thống và hiện
đại, hay những công trình nghiên cứu về hương ước, gia phả của nhiều dòng
họ, về sự biến đổi đời sống tinh thần, tâm lý cộng đồng làng trong giai đoạn
hiện nay, những biến đổi về xã hội và văn hóa ở những làng quê đang trong
Sơn Tây, Ba Vì, Đông Anh, Gia Lâm, xứ Bắc – Kinh Bắc, lưu vực sông
Hồng, Hà Nội, Hải Dương, Hải Phòng, Nam Hà, núi Đọi, xứ Thanh, miền
Trung…đến Cà Mau, Côn Đảo. Bên cạnh đó, ông còn có nhiều công trình
nghiên cứu khác về văn hóa.
Tác giả Lê Văn Hảo có công trình nghiên cứu chủ yếu về không gian văn
hóa các vùng thuộc Nam Bộ. Tác giả chia miền Đông ra làm 6 vùng : Bình
Phước – Bình Dương; Bà Rịa-Vũng Tàu-Côn Đảo; Đồng Nai – Biên Hòa;
Tây Ninh; Long An, Tân An. Miền Tây thành 11 vùng : Tiền Giang – Mỹ
Tho; Bến Tre; Vĩnh Long, Đồng Tháp; An Giang-Long Xuyên-Châu Đốc;
Kiên Giang-Hà Tiên-Phú Quốc; Cần Thơ; Trà Vinh; Bạc Liêu; Sóc Trăng đến
Cà Mau; và “hòn ngọc Viễn Đông” giữ vùng văn hóa Nam Bộ là Gia Định,
Bến Nghé, Sài Gòn. Với mỗi tiểu vùng, tác giả lại có sự miêu tả, lý giải về
lịch sử hình thành, đặc điểm tự nhiên, xã hội – những nhân tố tạo nên diện
mạo văn hóa của vùng. 9
Nguyễn Quang Ngọc trong công trình Một số vấn đề làng xã Việt Nam
đã nhắc tới làng Đan Loan từ khi hình thành, phát triển, biến đổi từ xưa đến
nay trên mọi phương diện: lịch sử, kinh tế, chính trị, văn hóa xã hội.
Nguyễn Hải Kế với công trình Một làng Việt cổ truyền ở Đồng Bằng
Bắc Bộ đã nghiên cứu làng Dục Tú và phát hiện ra nhiều vấn đề xung quanh
sở hữu ruộng đất, kết cấu kinh tế, tổ chức dân cư, văn hóa tín ngưỡng….
Ngoài ra còn nhiều luận văn cũng đề cập tới việc nghiên cứu vùng văn
hóa. Như công trình Những sinh hoạt văn hóa của làng ven đô của hai tác
giả Lê Hồng Lý và Phạm Thị Thủy Chung. Tác giả đã cho chúng ta cái nhìn
tổng quát về làng Đăm, từ phong tục, di tích, đến lề thói sinh hoạt văn hóa
tinh thần, kinh tế và văn hóa trong thời kì phát triển mới…
Công trình Không gian văn hóa làng Keo – Thái Bình của Trần Thị Lệ
Thủy đã nghiên cứu về lịch sử hình thành và phát triển làng Keo và nghiên
Trong cuốn Lịch sử cách mạng xã Đại Mỗ được Ban chấp hành Đảng
bộ xã Đại Mỗ tổ chức biên soạn đã ghi lại những vấn đề cơ bản về đặc điểm
tự nhiên, địa chí hành chính và lịch sử dân cư, truyền thống tốt đẹp của bản
làng cổ xưa, cũng như truyền thống cách mạng hơn nửa thế kỉ đấu tranh giành
độc lập, tự do và kết quả đạt được trong công cuộc xây dựng xã hội mới ở
làng Đại Mỗ. Đây có thể coi là một công trình nghiên cứu tổng quan nhất về
làng Đại Mỗ tính đến thời điểm hiện nay.
Học giả Han Do Hyun – nhà nghiên cứu Hàn Quốc học cũng dành tâm
sức nghiên cứu nhiều về làng xã Việt Nam, đặc biệt ông đã chọn một dòng họ
tiêu biểu nhất của làng Đại Mỗ để khái quát lên lí thuyết về làng – dòng họ ở
Việt Nam. Bài nghiên cứu được đăng trong Kỷ yếu Hội thảo quốc tế về Việt
Nam Học lần thứ 3. Dòng họ Nguyễn Quý ở làng Đại Mỗ đã được Han Do
Hyun chọn làm một trường hợp điển hình. Nghiên cứu này có ý nghĩa để
minh chứng cho sự tồn tại làng dòng họ trong xã hội nông thôn Việt Nam. 11
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu của luận văn là không gian văn hóa làng Đại Mỗ
(xã Đại Mỗ, huyện Từ Liêm, TP Hà Nội), trong đó bao gồm tất cả các nhân tố
: vị trí địa lý, cảnh quan, lịch sử hình thành, dân cư, kinh tế, văn hóa, tôn giáo
tín ngưỡng…Tất cả các yếu tố này hình thành nên không gian văn hóa làng
Đại Mỗ. - Phạm vi nghiên cứu: Không gian văn hóa làng Đại Mỗ trong cái
nhìn từ truyền thống đến hiện đại. Luận văn nghiên cứu trong phạm vi làng
Đại Mỗ bao gồm các thôn cổ: thôn Chợ, thôn Tháp, thôn Đình, thôn Ngang.
5. Mục đích nghiên cứu và phƣơng pháp nghiên cứu
a. Mục đích nghiên cứu:
- Việc nghiên cứu nhằm xác định được tổ hợp các yếu tố vật thể và phi
vật thể tạo thành không gian văn hóa làng Đại Mỗ
- Nghiên cứu không gian văn hóa làng Đại Mỗ để thấy được nét đặc
nhiên, lần thứ hai con người hình thành như một thực thể xã hội, tức là con
người văn hóa theo nghĩa toàn vẹn của từ này. Theo quan điểm này thì văn
hóa nhân loại như là kết quả của sự phát triển, kể từ khi trái đất mới hình
thành, cho đến khi các sinh vật xuất hiện và cuối cùng là co người văn hóa
phát triển theo hướng nhân bản hóa.
Đi từ tư tưởng của Mác và Ăng-ghen thì lao động sáng tạo chính là khởi
điểm của văn hóa. Hai ông quan niệm căn cứ vào mức độ tự nhiên được con
người biến thành bản chất người, tức là mức độ tự nhiên được con người khai
thác, cải tạo thì có thể xét được trình độ văn hóa chung của con người. Nếu
phương diện kinh tế của lao động là sự sản xuất ra của cải vật chất thì phương
diện văn hóa của lao động chính là sự sáng tạo.
Quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh về văn hóa có sự thống nhất với tư
tưởng của của C.Mac và Ăng-ghen. Hồ Chí Minh cho rằng: “ Vì lẽ sinh tồn
cũng như mục đích của cuộc sống, loài người mới sáng tạo và phát minh ra 13
ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học, nghệ
thuật, những công cụ cho sinh hoạt hàng ngày về ăn, mặc, ở và các phương
thức sử dụng. Toàn bộ những sáng tạo và phát minh đó tức là văn hóa”
[27;tr.41]. Như vậy, Hồ Chí Minh cũng xem lao động sáng tạo là cội nguồn
của văn hóa.
Trần Ngọc Thêm định nghĩa: “Văn hóa là một hệ thống hữu cơ các giá
trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo và tích lũy qua quá trình hoạt
động thực tiễn, trong sự tương tác của con người với môi trường tự nhiên và
xã hội” [24;tr.10].
Theo định nghĩa văn hóa của UNESCO được thông qua trong Bản tuyên
bố về những chính sách văn hóa tại Hội nghị quốc tế do UNESCO chủ trì từ
ngày 26 tháng 7 đến ngày 6 tháng 8 năm 1982 tại Mêhicô thì “ Văn hóa là
tổng thể những nét riêng biệt tinh thần và vật chất, trí tuệ và cảm xúc quyết
nảy sinh, tồn tại và biến đổi một cách độc lập, mà chúng thường liên kết với
nhau thành những tổ hợp. Có thể hiểu tổ hợp văn hóa như một hệ thống lớn
nhỏ khác nhau, bao gồm nhiều hiện tượng liên kết với nhau như một thực thể
hữu cơ…Với ý nghĩa như vậy, văn hóa tín ngưỡng tôn giáo, văn hóa vùng,
văn hóa làng, văn hóa nghề nghiệp, văn hóa đô thị, văn hóa nông thôn…đều
là những dạng khác nhau của tổ hợp văn hóa”[25;tr.6].
Theo nghĩa trừu tượng, không gian văn hóa là một “trường” để chỉ một
hiện tượng hay tổ hợp các hiện tượng (một nền văn hóa của tộc người, quốc
gia hay khu vực) có khả năng tiếp nhận và lan tỏa (ảnh hưởng), tạo cho nền
văn hóa đó một không gian (trường) văn hóa rộng hay hẹp khác nhau.
Cả hai nội dung không gian văn hóa trên đều tiếp cận văn hóa như một hệ
thống của nhiều tiểu hệ thống có mối liên hệ chặt chẽ cả về thời gian và
không gian.
Không gian văn hóa làng Đại Mỗ chính là không gian sinh tồn của cư dân
làng Đại Mỗ, nó gắn với vùng lãnh thổ mà dân làng Đại Mỗ sinh sống. Nói 1
Trần Quốc Vượng, Việt Nam cái nhìn địa văn hóa, NXB Văn hóa dân tộc, 1998 15
cách khác, trong một không gian địa lý xác định, trong quá trình lịch sử lâu
dài, trong những điều kiện kinh tế xã hội nhất định, trong các mối quan hệ và
giao lưu văn hóa đã hình thành nên những đặc trưng của không gian văn hóa
làng Đại Mỗ. Không gian văn hóa đó được hiểu như một tổ hợp văn hóa cấu
thành từ nhiều nhân tố, được biểu hiện rõ nét nhất thông qua những giá trị văn
hóa vật thể và phi vật thể, trong chính tính cách, nếp sống của cộng đồng dân
cư làng Đại Mỗ.
Xác định không gian văn hóa làng đòi hỏi ta phải xét đến các yếu tố liên
đã gần như thành một dòng sông chết do ô nhiễm nặng nề, ảnh hưởng nghiêm
trọng đến mỹ quan và môi trường trong khu vực.
Đại Mỗ ở vào vị trí giao thông thủy bộ rất thuận lợi: có sông Nhuệ và
đường cổ Cầu Đôi – Cót ở phía Đông, Quốc lộ 72 từ Hà Đông đi Quốc Oai ở
phía Nam, và Quốc lộ 70 Mỗ- Nhổn, chia làng làm hai phần. Vòng ngoài làng
là các quốc lộ gồm đường 32 Hà Nội – Sơn Tây, đường Láng – Hòa Lạc mới
hoàn thành năm 1999, càng làm cho việc thông thương của làng thêm mở.
Làng cách trung tâm Hà Nội 15km, cách trung tâm quận Hà Đông 3 km.
1.2.3. Điều kiện tự nhiên
Đại Mỗ đã trải qua nhiều quá trình biến chuyển trong lịch sử mới trở
thành một vùng đất như hiện nay. Khoảng trên 3000 năm trước đây, vùng đất
Đại Mỗ và toàn bộ châu thổ sông Hồng còn ngập trong nước biển. Như vậy,
thời Hùng Vương xa xưa, Đại Mỗ chưa được khai phá, chưa có dân cư sinh
sống. Dần về sau, quá trình tiến thoái của mực nước biển, do cấu tạo địa chất,
do tác động của địa chấn và sự bồi đắp không đều của phù sa, địa hình xã Đại
Mỗ có xu hướng nghiêng dần từ Bắc xuống Nam, từ Tây sang Đông.
Đất đai xã Đại Mỗ có thể chia thành hai phần. Phần phía Bắc và Tây
Nam chiếm khoảng 2/3 diện tích toàn xã, có địa thế cao, gồm ba làng An
Thái, Giao Quang và Đại Mỗ. Trong đó, Đại Mỗ bao gồm 4 thôn là khu vực
luận văn triển khai nghiên cứu. Với đặc điểm địa hình này, cư dân ở đây có 17
lợi thế cả về cư trú lẫn canh tác: làng xóm cao ráo, ruộng đồng ít bị úng ngập,
thuận lợi cho việc trồng lúa và hoa màu.
Trải qua hàng ngàn năm lịch sử, người dân làng Đại Mỗ đã cần cù trong
lao động, sáng tạo trong sản xuất để xây dựng quê hương trù phú như hiện
nay.
1.2.4. Điều kiện lịch sử, địa chính, dân cư
Đại Mỗ là vùng đất sớm có người Việt cổ đến sinh sống. Trên địa bàn xã,
chọn để xây Lạc Thọ Đình (1717).
Trước Cách mạng, Đại Mỗ cùng với các làng Phú Thứ, An Thái, Giao
Quang nằm trong xã Đại Mỗ, thuộc tổng Đại Mỗ.
Trong kháng chiến chống thực dân Pháp, địa chính Đại Mỗ có nhiều thay
đổi:
+ Tháng 9/1947 thuộc liên huyện IV (bao gồm huyện Hoài Đức, Đan
Phượng và quận IV Hà Nội)
+ Đầu năm 1848 thuộc huyện Liên Bắc (gồm huyện Hoài Đức và Đan
Phượng), tỉnh Hà Đông
Từ năm 1949, do yêu cầu của cuộc kháng chiến, các thôn của xã Đại Mỗ
ngày nay (bao gồm cả làng Đại Mỗ) cùng với các thôn của Tây Mỗ hợp nhất
thành xã Hữu Hưng, lần lượt thuộc các đơn vị hành chính sau:
+ Tháng 4/1954 huyện Liên Bắc giải thế, Hữu Hưng thuộc huyện Hoài
Đức, tỉnh Hà Đông
+ 18/4/1954 huyện Liên Bắc tách thành huyện Hoài Đức và Đan Phượng,
Hữu Hưng lúc này thuộc huyện Hoài Đức
+ 31/5/1961 mở rộng thành phố Hà Nội, lập lại huyện Từ Liêm, xã Hữu
Hưng thuộc huyện này. Ngày 9/12/1964 chia xã Hữu Hưng; 4 thôn Đại Mỗ,
Giao Quang, An Thái, Ngọc Trục sáp nhập thành lập xã Đại Mỗ với diện tích
đất tự nhiên là 5,16km2, dân số 12.103 người (số liệu 2007). Đơn vị hành
chính này tồn tại đến nay.
Sau Cách mạng Tháng Tám , Đại Mỗ vẫn là một xã độc lập. Tháng 12
năm 1948, Đại Mỗ nhập với các làng Tây Mỗ, An Thái, Giao Quang, Phú Thứ,
Ngọc Trục thành xã Hữu Hưng. Xã này tồn tại đến tháng 12 năm 1964 thì tách
làm hai xã Tây Mỗ và Đại Mỗ. Xã Đại Mỗ gồm bốn thôn: Đại Mỗ, An Thái,
Giao Quang, Ngọc Trục. Năm 2000, do dân số phát triển, để đảm bảo yêu cầu 19