i ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
VIỆN VIỆT NAM HỌC VÀ KHOA HỌC PHÁT TRIỂN
ĐẶNG NGỌC HÀ
KHÔNG GIAN VĂN HÓA XỨ MÔ XOÀI:
DIỄN TRÌNH LỊCH SỬ, ĐỜI SỐNG XÃ HỘI
VÀ VĂN HÓA
LUẬN VĂN THẠC SĨ
Chuyên ngành: Việt Nam học Hà Nội – 2012
MỤC LỤC trang
MỞ ĐẦU
1
1. Lý do chọn đề tài
1
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
1
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3
4. Nguồn tư liệu
4
5. Phương pháp nghiên cứu và mục đích, nhiệm vụ của luận văn
5
6. Cấu trúc luận văn
5
Chương 1. XỨ MÔ XOÀI: VỊ TRÍ ĐỊA LÝ, ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN
VÀ QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH
7
1.1 Không gian xứ Mô Xoài
7
1.1.1 Định vị xứ Mô Xoài
7
1.1.2 Sự thay đổi tên gọi Mô Xoài và ý nghĩa địa danh Mô Xoài
11
1.1.2.1 Diễn biến thay đổi tên gọi Mô Xoài
11
1.1.2.2 Ý nghĩa địa danh Mô Xoài
30
1.3.3.2 Tổ chức hành chính ở Mô Xoài nửa cuối thế kỷ XIX
35
1.4 Tiểu kết
37
Chương 2. ĐỜI SỐNG KINH TẾ XỨ MÔ XOÀI
39
2.1 Nông nghiệp
39
2.1.1 Tình hình kinh tế nông nghiệp
39
2.1.2 Tình hình sở hữu ruộng đất
42
2.1.2.1 Quy mô sở hữu
42 v
2.1.2.2 Chủ sở hữu
45
2.1.3 Vấn đề mua bán ruộng đất
50
2.2 Hoạt động kinh tế khác
51
2.2.1 Nghề làm muối
51
2.2.2 Khai thác thủy-hải sản và lâm sản
54
2.2.3 Mạng lưới chợ
86
3.4.1 Thành, lũy
86
3.4.1.1 Thành, lũy Mô Xoài
86
3.4.1.2 Thành Bà Rịa
89
3.4.2 Di tích tôn giáo tín ngưỡng
92
3.4.2.1 Khái quát di tích tôn giáo tín ngưỡng
92
3.4.2.2 Một số di tích tiêu biểu
95
3.5 Tiểu kết
98
KẾT LUẬN
100
TÀI LIỆU THAM KHẢO
104
CÔNG TRÌNH CỦA TÁC GIẢ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN VĂN
113
PHỤ LỤC
114
Bảng 2.1 Diện tích ruộng đất vùng Mô Xoài trước và sau đạc điền 1836
40
Biểu đồ 2.1 Tỷ lệ ruộng công và ruộng tư ở thôn Long Hương,
Phước Lễ đầu thế kỷ XIX
42
Biểu đồ 2.2 Quy mô sở hữu ruộng tư ở vùng trung tâm Mô Xoài năm 1836
43
Bảng 2.2 Phân bố quy mô sở hữu ruộng tư ở các thôn
trung tâm Mô Xoài năm 1836
44
Biểu đồ 2.3 Phân bố quy mô sở hữu vùng trung tâm Mô Xoài năm 1836
45
Bảng 2.3 Sở hữu theo dòng họ tại các thôn vùng Mô Xoài
trước và sau đạc điền 1836
46
Biểu đồ 2.4 Quy mô sở hữu theo dòng họ ở Mô Xoài năm 1836
47
Bảng 2.4 Sở hữu của chủ nữ ở các thôn trung tâm Mô Xoài
đầu thế kỷ XIX
48
Biểu đồ 2.5 Tỷ lệ sở hữu ruộng đất của chủ nữ ở vùng Mô Xoài năm 1836
49
Bảng 2.5 Tình hình mua bán ruộng đất ở Mô Xoài đầu thế kỷ XIX
50
Bảng 2.6 Diện tích, số mảnh và diện tích trung bình ruộng muối
ở Mô Xoài năm 1837
trước 1836 và 1836
68
Biểu đồ 3.2 Số dòng họ và số người trong dòng họ ở trung tâm Mô Xoài
năm 1836
69
Bảng 3.5 Thành phần dân số tỉnh Bà Rịa năm 1901
71
Biểu đồ 3.3 Các tộc người ở thị xã Bà Rịa năm 2009
71
Bảng 3.6 Chủ sở hữu phụ canh ở các thôn vùng Mô Xoài đầu thế kỷ XIX
72
Bảng 3.7 Nguồn gốc các chủ phụ canh ở vùng Mô Xoài đầu thế kỷ XIX
73
Biểu đồ 3.4 Tình hình tôn giáo ở thị xã Bà Rịa năm 2010
79
Bảng 2.8 Lịch trình lễ hội Cầu an (Kỳ yên) đình Long Hương
năm Kỷ Sửu (2009)
84
Ảnh 3.1 Dấu tích hiện nay của lũy Phước Trung
87
Sơ đồ 3.1 Lũy Mô Xoài (Phước Tứ) trên bản đồ Wikimapia
vùng Bà Rịa – Vũng Tàu
88
Ảnh 3.2 Fort de Baria en 1875
90
Sơ đồ 3.2 Thành Bà Rịa
90
Sơ đồ 3.3 Thành Bà Rịa trên không ảnh thành phố Bà Rịa
ĐẶNG NGỌC HÀ
KHÔNG GIAN VĂN HÓA XỨ MÔ XOÀI:
DIỄN TRÌNH LỊCH SỬ, ĐỜI SỐNG XÃ HỘI
VÀ VĂN HÓA Tóm tắt Luận văn Thạc sĩ chuyên ngành Việt Nam học
Mã số: 60 22 01 13
Người hướng dẫn khoa học: GS.TS Nguyễn
Quang Ngọc
Hà Nội – 2012
3
MỞ ĐẦU
1.Lý do chọn đề tài
Xứ Mô Xoài ngày nay là tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu mà vùng lõi là
thành phố Bà Rịa là một tiền đồn trong quá trình khai phá Nam Bộ
của người Việt. Luận văn tìm hiểu về tiến trình phát triển liên tục của
vùng đất Mô Xoài từ thế kỷ XVII với ý nghĩa là một không gian văn
hóa, đặc biệt nhấn mạnh vào quá trình khai phá đất đai, xác lập chủ
quyền của người Việt cùng với hoạt động kinh tế, đời sống xã hội và
văn hóa nhằm làm rõ đặc tính của miền đất địa đầu trong kỳ công mở
cõi. Vì những lý do trên, chúng tôi chọn đề tài luận văn: “Không gian
đó có Mô Xoài.
Tất cả những nghiên cứu trên có giá trị quan trọng khi tìm hiểu
về vùng đất Mô Xoài, nhưng chưa có công trình nào nghiên cứu tổng
hợp về diễn trình lịch sử, xã hội và đời sống văn hóa vùng đất này.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng của luận văn là quá trình hình thành của xứ Mô Xoài
từ thế kỷ XVII, hoạt động kinh tế cùng đời sống xã hội và văn hóa.
Luận văn đi tìm hiểu diễn trình lịch sử của Mô Xoài là những vấn đề
lịch sử diễn ra trong đời sống của cư dân vùng này. Đối với đời sống
xã hội và văn hóa, luận văn chỉ đi tìm hiểu tình hình xã hội và văn
hóa truyền thống có ảnh hưởng đến hiện tại với những nét cơ bản
nhất về dân cư, tín ngưỡng, tôn giáo, lễ hội, một số di tích tiêu biểu
chứ không tìm hiểu toàn bộ các vấn đề liên quan đến xã hội, văn hóa
từ xưa đến ngày nay ở xứ Mô Xoài và Bà Rịa-Vũng Tàu.
Phạm vi không gian của luận văn là xứ Mô Xoài với trung tâm
là thành phố Bà Rịa hiện nay. Đối tượng chủ yếu sẽ là phạm vi
không gian của thành phố Bà Rịa, nhưng các mối liên hệ lịch sử, xã
hội và văn hóa đều diễn ra không chỉ bó hẹp trong một phạm vi trung
tâm xứ Mô Xoài, do đó nghiên cứu này vẫn phải liên hệ với cả vùng
Mô Xoài rộng lớn thuộc tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu.
Giới hạn thời gian của diễn trình lịch sử vùng Mô Xoài chủ yếu
từ thế kỷ XVII đến thế kỷ XIX. Đến thế kỷ XIX, tên gọi Mô Xoài
không còn nữa, người ta thường gọi với cái tên là Bà Rịa. Do đó,
giới hạn thời gian của phần lịch sử sẽ từ thế kỷ XVII đến XIX. Đối
với vấn đề đời sống xã hội và văn hóa, mục tiêu chỉ nhằm phác họa
có tính chất tổng hợp về đời sống xã hội và văn hóa truyền thống
không đi vào chi tiết từng dạng thức, đồng thời phần này có giới hạn
thời gian từ quá khứ đến một số vấn đề xã hội và văn hóa truyền
thống đang có ảnh hưởng đến đời sống hiện tại.
4. Nguồn tư liệu
cứu liên ngành.
6. Cấu trúc luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Phụ lục và Tài liệu tham khảo,
nội dung của luận văn được chia thành 3 chương như sau:
6
Chương 1. Xứ Mô Xoài: Vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên và
quá trình hình thành.
Chương 2. Đời sống kinh tế xứ Mô Xoài.
Chương 3. Đời sống xã hội và văn hóa xứ Mô Xoài.
Chương 1
XỨ MÔ XOÀI: VỊ TRÍ ĐỊA LÝ, ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN
VÀ QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH
1.1 Không gian xứ Mô Xoài
1.1.1 Định vị xứ Mô Xoài
Địa danh “Mô Xoài”xuất hiện sớm nhất trong Phủ biên tạp lục
của Lê Quý Đôn vào giữa thế kỷ XVIII Nhưng, sự kiện sớm nhất
nhắc đến tên Mô Xoài diễn ra vào năm 1658. Theo Gia Định thành
thông chí, vua Chân Lạp xâm phạm biên giới Đàng Trong, chúa
Nguyễn sai: “3 ngàn quân đi trong 2 tuần đến thành Mô Xoài của
nước Cao Miên, phá thành và bắt vua Nặc Ong Chăn giải về Quảng
Bình”.
Vào thế kỷ XVII, địa danh Mô Xoài tồn tại phổ biến, là vùng đất
địa đầu phía bắc của Nam Bộ, Trịnh Hoài Đức cho biết rất rõ: “Lúc
ấy địa đầu của Gia Định là Mô Xoài và Đồng Nai (nay là trấn Biên
Hòa [chú thích của Trịnh Hoài Đức]) tại hai xứ ấy đã có dân của
nước ta đến cùng với dân Cao Miên khai khẩn ruộng đất”.
Kết hợp nhiều nguồn tư liệu có thể xác định được vị trí chính
tiên, sau đó chính quyền chúa Nguyễn, triều Nguyễn thay tên địa
danh này thành Hưng Phúc là từ Hán Việt mặc dù tên địa danh Mô
Xoài vẫn còn trong ký ức dân gian. Sau đó cả tên Hưng Phúc và Mô
Xoài biến mất dần trong tâm trí dân gian và địa danh Bà Rịa thay thế
cho vùng đất trước kia có tên Mô Xoài – Hưng Phúc.
1.1.2.2 Ý nghĩa địa danh Mô Xoài
Tác giả luận văn làm công việc khảo cứu từ Mô Xoài trong các
thư tịch Hán Nôm. Qua việc tiến hành khảo sát 10 văn bản Hán Nôm
của 8 đơn vị tư liệu có chứa địa danh Mô Xoài sẽ tìm hiểu cách ký tự
địa danh này.
Vào thế kỷ XIX, nhà bác học người Nam Bộ là Trương Vĩnh Ký
ghi chép rõ ràng và thống nhất vùng đất này là “Mô Xoài”bằng chữ
quốc ngữ. Tác phẩm Petit cours de géographie de la basse –
Cochinchine xuất bản năm 1875, Trương Vĩnh Ký ghi chú huyện
Phước An thuộc phủ Phước Tuy là “Mô Xoài”; tác phẩm Cours
8
D`histoire Annamite, a l`usage, des écoles de la basse – Cochichine
xuất bản 1877 cũng được ông cho biết: “Its s`étaient groupés à Mô
Xoài (Baria) et à Đồng Nai (province de Biên Hòa)”. Sự thống nhất
trong tên gọi Mô Xoài còn được Trương Vĩnh Ký đề cập khi nói về
cuộc khởi nghĩa Lê Văn Khôi trong Souvenirs historiques sur Saigon
et ses environs như sau: “Biên – hòa, Bà – rịa et Mô – xoài de l`autre,
se soumirent au chef des insurges” (Biên Hòa, Bà Rịa, và Mô Xoài
thuộc miền Đông đều quy thuận kẻ cầm đầu nổi loạn [Lê Văn
Khôi]).
Tóm lại, Mô Xoài là tên dân gian quen thuộc của nhân dân vùng
này. Thế kỷ XIX địa danh Mô Xoài còn phổ biến trong dân gian và
chính những học giả nổi tiếng sống ở thời kỳ này họ đã chép lại từ
“Mô Xoài” bằng chữ Quốc ngữ là cách gọi quen thuộc của người dân
Bộ, có vai trò quan trọng vì nằm trên hệ thống sông nối vào trung
tâm Nam Bộ và có nhiều cửa biển quan trọng thuận lợi về giao
thương.
1.3 Quá trình hình thành xứ Mô Xoài
1.3.1 Mô Xoài trước thế kỷ XVII
Trước thế kỷ XVII, trên mảnh đất Mô Xoài đã có sự tồn tại của
cộng đồng cư dân bản địa. Giai đoạn này có thể chia thành hai thời
kỳ, thời kỳ trước thế kỷ VII khi nhà nước Phù Nam còn tồn tại và sau
thế kỷ VII nhà nước Phù Nam bị Chân Lạp xâm chiếm.
1.3.2 Mô Xoài trong quá trình mở đất của các chúa Nguyễn ở
thế kỷ XVII
1.3.2.1 Hoạt động khai phá đất đai
Sau khi kết hôn với vua Chân Lạp là Chey Chetta II, công chúa
Ngọc Vạn con chúa Nguyễn Phúc Nguyên đã đem theo nhiều người
Việt đến ở kinh đô Chân Lạp, trong đó có nhiều người làm quan
trong triều Chân Lạp. Ngoài ra còn nhiều người khác tham gia các
hoạt động sản xuất thủ công, thương nghiệp.
Con đường của người Việt vào Mô Xoài là đường thủy. Giao
thông đường thủy thuận lợi hơn đường bộ, bởi vì vùng Thuận Quảng
là các đồng bằng nhỏ hẹp tựa lưng vào cao nguyên, hướng ra biển và
cách nhau bằng các đèo. Do địa hình, cảnh quan đặc trưng của khu
vực Thuận Quảng nên có rất nhiều hải cảng, và người ta đi lại chủ
yếu bằng đường thủy.
Năm 1658, vua Chân Lạp là Nặc Ông Chân (Ponnhea Chan)
xâm lấn lãnh thổ phía nam Đàng Trong, chúa Nguyễn đã cử quân đội
đến Mô Xoài rồi bắt vua Chân Lạp về Quảng Bình. Sự việc này đánh
dấu: “Chân Lạp bắt đầu thần thuộc chúa Nguyễn, và phải để người
Việt đến làm ăn trên đất mình”.
10
Câu nói của Nguyễn Cư Trinh tâu với chúa Nguyễn Phúc Khoát
đã thể hiện đầy đủ vị thế, vai trò và tầm vóc lớn lao của xứ Mô Xoài.
Chỉ có thể khai phá rồi sáp nhập Mô Xoài vào Đàng Trong thì từ đây
mới có thể khai phá được vùng Đồng Nai rồi tiến vào trung tâm Nam
Bộ là vùng Sài Gòn. Kế “tằm thực” của các chúa Nguyễn chính là
11
thiết lập một cơ sở hoàn bị với cư dân, làng mạc đông đảo rồi từ tiền
đồn Mô Xoài tiến vào khai phá Nam Bộ như con tằm ăn lá dâu cứ từ
từ, từng bước một và loang dần ra cả Nam Bộ.
Mô Xoài là tiền đồn, là vị trí chiến lược là chỗ trú chân, là điểm
giao chuyển của người Việt để tiến vào Nam Bộ. Từ Mô Xoài, cộng
đồng cư dân Việt Nam mở dần địa bàn khai phá, men theo các con
sông để tiến dần vào vùng đồng bằng sông Cửu Long. Có được Mô
Xoài là thế đứng chân vững chắc cho mọi hoạt động khai phá Nam
Bộ sau này.
Mô Xoài là điểm cổ họng để chúa Nguyễn đưa quân đội vào
Nam Bộ tiến hành bảo vệ người khai hoang, thực thi chủ quyền và
can thiệp vào tình hình Chân Lạp khi cần thiết.
1.3.3 Quá trình thiết lập đơn vị hành chính ở Mô Xoài từ cuối
thế kỷ XVII đến thế kỷ XIX
1.3.3.1 Tổ chức hành chính ở Mô Xoài từ cuối thế kỷ XVII đến
nửa đầu XIX
Từ cuối thế kỷ XVII đến nửa đầu XIX có thể chia diễn biến tổ
chức hành chính ở vùng Mô Xoài thành hai thời kỳ: thời kỳ thứ nhất
từ cuối thế kỷ XVII đến cuối XVIII, đây là thời kỳ chúa Nguyễn và
Nguyễn Ánh ở Nam Bộ; thời kỳ thứ hai bắt đầu khi nhà Nguyễn
thành lập đến thời điểm thực dân Pháp xâm lược miền Đông Nam
Kỳ.
Giữa thế kỷ XVII, người Việt đã tập trung nhiều ở Mô Xoài
Phú Thượng thuộc phạm vi gần trung tâm xứ Mô Xoài. Các làng
thuộc tổng Phước Hưng Hạ và Phước Hưng Thượng nằm cách xa
trung tâm Mô Xoài.
1.3.3.2 Tổ chức hành chính ở Mô Xoài nửa cuối thể kỷ XIX
Khi Pháp xâm lược xong miền Đông Nam Bộ, tổ chức hành
chính ở vùng Mô Xoài bị thay đổi và phân tách. Năm 1862, Pháp
chiếm xong miền Đông Nam Bộ, thời gian đầu, các đơn vị hành
chính của triều Nguyễn ở vùng Mô Xoài vẫn được giữ với tên huyện
Phước An và 4 tổng như thời điểm năm 1832. Nhưng đến năm 1865,
chính quyền thực dân thành lập các sở tham biện, lúc này huyện
Phước An bị đổi thành Sở tham biện Bà Rịa; đến năm 1892 đơn vị
hành chính huyện Phước An trước kia bị đổi thành Hạt Bà Rịa [86,
tr. 93-94]. Và đến năm cuối cùng của thế kỷ XIX, thực dân Pháp
thành lập tỉnh Bà Rịa tương đương với địa giới huyện Phước An thời
Nguyễn, khu vực Vũng Tàu trở thành thành phố Cap Saint Jacques.
Vùng Mô Xoài trước kia đã bị đổi thành đơn vị hành chính tên
là tỉnh Bà Rịa. Khi thực dân Pháp đặt tên cho đơn vị hành chính
Phước An đã không lấy tên Mô Xoài mà thay vào đó là tên Bà Rịa.
13
Lúc này, tên Mô Xoài đã phai nhạt dần trong ký ức dân gian, chính
quyền thực dân cổ vũ cho tên gọi Bà Rịa vì tin vào truyền thuyết bà
Nguyễn Thị Rịa là người lập ra vùng đất này và không hề biết về quá
khứ tên gọi Mô Xoài. Bắt đầu từ thế kỷ XX, tên Mô Xoài đã bị loãng
trong ký ức dân gian để rồi không còn ai nhớ đến tên gọi ban đầu của
vùng đất này nữa.
Vào cuối thế kỷ XIX, trung tâm hành chính của tỉnh Bà Rịa nằm
ở làng Phước Lễ. Không phải ngẫu nhiên người Pháp đã chọn Phước
Lễ là tỉnh lỵ, lựa chọn này có tính chất kế thừa từ trung tâm của đạo
Mô Xoài ở thế kỷ XVIII rồi huyện lỵ của huyện Phước An ở thế kỷ
đông đảo, đẩy mạnh quá trình khai phá đất đai thì chúa Nguyễn đã
đưa lực lượng quân sự vào đây để bảo vệ quá trình khai phá, canh
phòng biên viễn và có thể đưa quân sang Chân Lạp can thiệp khi cần
thiết, đây là yếu tố “đủ” để Mô Xoài thành tiền đồn, bàn đạp của quá
trình nam tiến.
Đến cuối thế kỷ XVII, chúa Nguyễn bắt đầu quá trình thiết lập
đơn vị hành chính ở Mô Xoài. Trong thế kỷ XVIII, các đơn vị hành
chính tiếp tục được hoàn thiện dần. Đến khi nhà Nguyễn thành lập
trong tình hình chung của Nam Bộ, các đơn vị hành chính ở Mô Xoài
cũng được thiết lập hoàn bị, quy củ. Từ nửa cuối thế kỷ XIX, các
đơn vị hành chính ở xứ Mô Xoài liên tiếp có sự thay đổi, phân tách.
Chương 2
ĐỜI SỐNG KINH TẾ XỨ MÔ XOÀI
2.1 Nông nghiệp
2.1.1 Tình hình kinh tế nông nghiệp
Cư dân ở Mô Xoài canh tác ruộng theo hai vụ: “Hai tổng An
Phú và Phước Hưng, huyện Phước An đều có ruộng sớm và ruộng
muộn”. Ruộng sớm được bắt đầu gieo hạt vào tháng 5 âm lịch đến
tháng 6 bắt đầu cấy, đến tháng 9 thu hoạch; ruộng muộn tháng 6 mới
gieo hạt, tháng 7 tiến hành cấy và tháng 11 thu hoạch.
Ngoài ruộng lúa, cư dân ở Mô Xoài còn trồng ngô, đậu phộng,
dứa hấu.
Những thế hệ đã từng sinh sống ở trung tâm Mô Xoài có quá
trình lao động lâu dài, gian khổ, không biết mệt mỏi từ thế kỷ XVII
để đến đầu thế kỷ XIX đã để lại trên 350 mẫu ruộng tươi tốt cho thế
hệ sau.
2.1.2 Tình hình sở hữu ruộng đất
2.1.2.1 Quy mô sở hữu
15
Xoài. Trong khung cảnh thiên nhiên đa dạng với nhiều con sông lại
giáp với những cánh rừng lớn đã tạo thuận lợi cho ngành kinh tế này
phát triển. Cùng với nông nghiệp, khai thác thủy-hải sản và lâm sản
đã phát triển từ rất sớm và tạo nên sự đa dạng trong đời sống kinh tế
ở Mô Xoài.
16
Nghề cá ở Mô Xoài phát triển nhất ở hai làng ven biển là Phước
Tỉnh và Phước Hải. Trung tâm Mô Xoài là Long Hương, Phước Lễ
chỉ phát triển nghề đánh bắt cá ở nước lợ hoặc cùng lắm là ra vịnh
Gành Rái ở cửa sông Mô Xoài, tức là chỉ tiến hành hoạt động đánh
bắt ven bờ. Còn Phước Tỉnh và Phước Hải đã phát triển nghề đánh
bắt cá xa bờ do gần ngư trường lớn ở Biển Đông là Trường Sa.
Phước Tỉnh là làng chài nổi tiếng nằm ở cửa Lấp (Tắc Khái). Tại
Phước Tỉnh dân tụ cư để làm nghề chài lưới: “Dân miền biển nhóm
đến đây làm nghề chài lưới câu cá”. Nghề khai thác thủy-hải sản ở
Phước Tỉnh trở thành nghề chuyên nghiệp: “dân ở đây chuyên nghề
chài lưới”. Như vậy, vùng cửa Lấp là một trung tâm khai thác thủy-
hải sản lớn ở xứ Mô Xoài.
Đi men theo đường ven biển về phía bắc sẽ đến làng chài Phước
Hải, đây cũng là trung tâm lớn của hoạt động khai thác thủy-hải sản:
“người ta sử dụng cho nghề đánh bắt cá là lưới rung và lưới rê, điều
này cho thấy cách khai thác nguồn lợi thiên nhiên của họ. Làng này
quan trọng và độc đáo bởi thiên nhiên phú cho ngành công nghiệp
đánh bắt hải sản đem lại thu nhập tương đối lớn hàng năm”.
Bên cạnh khai thác nguồn lợi từ biển, cư dân Mô Xoài còn đẩy
mạnh khai thác lâm sản. Mô Xoài là nơi có rất nhiều cánh rừng, ngay
cả dọc con đường Thiên lý lên trung tâm Mô Xoài: “hai bên đều là
chân rừng, nhiều cọp beo, nếu ít người thì không dám đi”. Rừng là
cảnh quan phổ biến và có diện tích rất lớn ở Mô Xoài thế kỷ XIX.
của Nguyễn Cư Trinh về vùng Mô Xoài: “để cho quân dân hoàn tụ”
chính là sự hoàn bị về kinh tế với sự đa dạng và đầy đủ để phục vụ
quá trình khai phá.
Vì địa thế “cổ họng” của Mô Xoài, nên chính quyền đã thiết lập
sở thu thuế đường thủy ở Phước Lễ và các trạm thu thuế trên các
nguồn để thu nguồn lợi thương mại; Mô Xoài là nơi thu nguồn lợi
lớn về thương mại dưới thời nhà Nguyễn.
Chương 3
ĐỜI SỐNG XÃ HỘI VÀ VĂN HÓA XỨ MÔ XOÀI
3.1 Dân cư
3.1.1 Dân số
Dân số trung tâm Mô Xoài từ thế kỷ XVII đến nay có sự biến
đổi đa dạng. Dân số liên tục tăng đặc biệt từ cuối thế kỷ XIX. Những
biến đổi của dân số cho thấy quá trình phát triển liên tục, đa dạng
18
trong các hoạt động kinh tế - xã hội ở xứ Mô Xoài. Trung tâm Mô
Xoài hiện nay đang có xu hướng giảm dân số.
3.1.2 Dòng họ
Qua tư liệu địa bạ, có thể thấy phần nào về diện mạo của các
dòng họ trên đất Mô Xoài nửa đầu thế kỷ XIX. Nửa đầu thế kỷ XIX,
trung tâm Mô Xoài có nhiều dòng họ cùng khai phá đất đai, phát
triển sản xuất. Điều này vừa tạo nên bức tranh đa dạng trong phát
triển nông nghiệp nhưng cũng phản ánh vai trò khác nhau của từng
dòng họ.
3.1.3 Tộc người
Trước thế kỷ XVII, nhiều tộc người thiểu số đã cư trú ở Nam
Bộ, như Xtiêng, Mạ, Kơho, M`nông, trong đó nhiều nhất là người
Mạ và Xtiêng. Những tộc người này đã sinh sống lâu đời trên đất
chung có sự thích ứng mới và hình thành hệ thống tín ngưỡng đa
dạng, riêng biệt. Có thể chia tín ngưỡng cộng đồng cổ truyền của cư
dân Mô Xoài thành 4 hình thức chính.
Hình thức thứ nhất là thờ thần Thành hoàng
Hình thức thứ hai là thờ nữ thần. Thờ nữ thần đã có truyền thống
lâu dài ở cả châu thổ Bắc Bộ và vương quốc Champa ở miền Trung
Hình thức thứ ba là thờ thần hổ. Trong công cuộc mở đất, khai
phá Nam Bộ, những cư dân ở Mô Xoài thường xuyên phải chống lại
thú dữ đặc biệt là cọp.
Thứ tư là tín ngưỡng thờ Cá Ông, Cá Ông còn được gọi là Ông
Nam Hải, đây là tín ngưỡng truyền thống của dân đi biển để cầu
mong sự tốt lành và phù trợ của thần thánh. Tín ngưỡng này phổ biến
từ duyên hải Nam Trung Bộ đến Hà Tiên.
3.2.2 Tôn giáo
Bên cạnh đời sống tín ngưỡng dân gian đa dạng, tôn giáo cũng
nhanh chóng phát triển ở xứ Mô Xoài. Ở trung tâm xứ Mô Xoài có
hai tôn giáo chính là Phật giáo và Công giáo, bên cạnh đó là hệ tư
tưởng Nho giáo. Phật giáo đến Mô Xoài sớm nhất vì phù hợp với
tâm lý, tâm linh của những người đi mở đất. Sau đó Thiên Chúa giáo
cũng nảy nở ở Mô Xoài. Chỉ đến khi thiết lập các đơn vị hành chính
thì nhà nước mới sử dụng công cụ Nho giáo để đẩy mạnh giáo hóa
về giáo lý và phát triển thi cử.
3.3 Lễ hội
3.3.1 Đặc điểm lễ hội ở Mô Xoài
Có thể nhận thấy một số sự khác nhau giữa tên gọi đội hình tế ở
xứ Mô Xoài so với vùng châu thổ Bắc Bộ. Về cơ bản, các lễ hội ở
20
châu thổ Bắc Bộ chỉ có 1 vị chủ tế quỳ lạy bái thần khi tố chức tế,
trong khi đó ở vùng Mô Xoài có 2 người chịu trách nhiệm bái thần là
gắn liền với sự kiện 1658 khi quân chúa Nguyễn tấn công Chân Lạp
để bảo vệ lưu dân. Lũy Mô Xoài còn gọi là lũy Phước Tứ nằm phía