TIỂU LUẬN: Vai trò của công nghiệp hoá, hiện đại hoá trong sự vận động và phát triển của đời sống xã hội doc - Pdf 11


TIỂU LUẬN:

Vai trò của công nghiệp hoá, hiện
đại hoá trong sự vận động và
phát triển của đời sống xã hội
Lời mở đầu Trong thời đại ngày nay, thời đại mà khoa học đã thực sự trở thành lực lượng
sản xuất trực tiếp, với sự phát triển mạnh mẽ của nhiều ngành khoa họcvà công
nghệ hiện đại, với hàm lượng chất xám ngày càng chiếm tỷ lệ cao trong mỗi sản
phẩm làm ra, con người càng tỏ rõ vai trò quyết định của nó trong tiến trình phát
triển của xã hội, của lịch sử nhân loại. Biện chứng của sự phát triển trong trời đại
ngày nay đang đòi hỏi con người phải bộc lộ đầy đủ hơn nữa “ sức mạnh bản chất
người ” của mình một cách hiện thực và sinh động hơn, phong phú và đa dạng
hơn, văn hoá và trí tuệ hơn với những cá tính độc đáo và những phẩm chất năng
động, sáng tạo của con người hiện đại. Do vậy, trong thời đại ngày nay, khi nói
con người là nguồn lực quan trọng nhất của sự phát triển xã hội,đặc biệt là sự

II-Nguồn nhân lực trong sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước
1-Vai trò của công nghiệp hoá, hiện đại hoá trong sự vận động và phát triển của
đời sống xã hội
2-Vai trò của nguồn nhân lực
3-Thực trạng nguồn nhân lực của nước ta hiện nay
4-Giáo dục đào tạo nguồn nhân lực trong sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đạI hoá
ở nước ta
5-Những thành tích đã đạt được của việc giáo dục đào tạo nguồn nhân lực
6-Xây dựng môi trường xã hội tạo điều kiện để phát huy yếu tố con người

III-Kết luận
I-Lý luận về con người.

1-Các quan niệm khác nhau về con người.
Chúng ta đều biết, với học thuyết duy vật về lịch sử của mình, các nhà sáng
lập chủ nghĩa Mác đã khẳng định tiến trình phát triển lịch sử của xã hội loài người
là quá trình lịch sử-tự nhiên, là sự thay thế lẫn nhau của các hình thái kinh tế-xã
hội, hình thái kinh tế-xã hội cũ được thay thế bởi hình thái kinh tế-xã hội mới cao

triển những quan niệm về con người đã có trong các học thuyết triết học trước đây
để đi tới quan niệm về con người hiện thực, con người hoạt động thực tiễn cải tạo
tự nhiên và xã hội. Với tư cách là con người hiện thực, con người vừa là sản phẩm
của tự nhiên và xã hội, đồng thời vừa là chủ thể cảo tạo tự nhiên và xã hội. Hay
nói cách khác, chủ nghĩa Mác xem xét con người như một thực thể sinh học-xã
hội.

2-Con người là một thực thể sinh học-xã hội.
Con người là sản phẩm của tự nhiên, là kết quả của sự tiến hoá lâu dàI của
giới hữu sinh. Con người tự nhiên là con người sinh học mang bản tính sinh vật.
Cái sinh học trong con người quy định sự hình thành những hiện tượng và quá
trình tâm lý trong con người là điều kiện quyết định sự tồn tại của con người. Song
con người không phải là động vật thuần tuý như các động vật khác mà là một động
vật có tính chất xã hội với tất cả nội dung văn hoá lịch sử của nó. Con người là sản
phẩm của xã hội, là con người xã hội, mang bản tính xã hội. Con người chỉ có thể
tồn tại được mộtkhi con người tiến hành lao động sản xuất ra của cải vật chất thoả
mãn nhu cầu sinh học của mình. Lao động sản xuất là yếu tố quyết định hình thành
con người và ý thức.
Chính lao động đã quy định bản chất xã hội của con người, quy định cáI xã
hội của con người và xã hội lại quy định sự hình thành cá nhân và nhân cách. Vì
con người là sản phẩm của tự nhiên và xã hội cùng các quy luật biến đổi của
chúng.
Với tư cách là con người xã hội, con người sản xuất ra của cải vật chất, tác
động vào tự nhiên để cải tạo tự nhiên, con người là chủ thể cải tạo tự nhiên. Con
người là sản phẩm của tự nhiên, con người chỉ có thể thống trị tự nhiên nếu biết
tuân theo và nắm bắt các quy luật của bản thân giới tự nhiên.
Con người không những là sản phẩm của xã hội mà còn là chủ thể cải tạo xã
II-Nguồn nhân lực trong sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước.

1-Vai trò của công nghiệp hoá, hiện đại hoá trong sự vận động và phát triển của
đời sống xã hội.
Từ xưa và cho đến tận bây giờ, Việt Nam vẫn là một nước nông nghiệp lạc
hậu và chậm phát triển. Để mau chóng thoát khỏi tình trạng đó chúng ta không có
con đường nào khác ngoài con đường công nghiệp hoá hiện đại hoá. Công nghiệp
hoá hiện đại hoá xã hội theo định hướng xã hội chủ nghĩa vì mục tiêu “ dân giàu,
nước mạnh, xã hội công bằng, văn minh ”, mà còn là “ một cuộc cách mạng toàn
diện và sâu sắc trong tất cả các lĩnh vựcvủa đời sống xã hội ”. Phát triển con người
Việt Nam hiện đại đó chính là động lực là mục tiêu nhân văn là cơ sở lâu bền tạo
đà cho bước phát triển tiếp theo của sự nghiệp công nghiệp hoá hiện đại hoá, mà
chúng ta đang thực hiện. Cái yếu tố đó mọi người dễ dàng nhận biết song để bảo
đảm thực hiện cho có hiệu quả và không mắc phải sai lầm thì lại không dễ dàng
bởi vì từ chỗ thấy được tính tất yéu không cẩn thận dễ xảy ra duy ý chí như đã
từng xảy ra trước đây hoặc trái lại nếu chỉ thấy khó khăn bất lợi thiếu điều kiện mà
không quyết tâm thực hiện sẽ tụt hậu xa so với thế hiới hoặc bằng mọi cách mọi
biện pháp giải quyết khó khăn đó bấ kể lợi hay hại sẽ dẫn đến hậu quả khó lường
trước được. Chính vì vậy cần nắm vững những quan điểm cơ bản về công nghiệp
hoá và hiện đại hoá.
Đối với nước ta đang trong trời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội thì việc xây
dựng cơ sở vật chất kỹ thuật cho nền sản xuất lớn hiện đại là một nhiệm vụ to lớn
và một yêu cầu khách quan bởi vì cơ sỏ vật chất kỹ thuật của nền sản xuất hiện đại
đòi hỏi phải dựa trên trình độ kỹ thuật công nghệ ngày càng cao hơn, hiện đại hơn,
điều đó không chỉ dừng lại ở chỗ những yếu tố của cơ sở sản xuất được cơ khí hoá
mà trình độ công nghệ phải tiên tiến và thường xuyên được đổi mới. Công nghiệp
hoá và hiện đại hoá chính là con đường và bước đi tất yếu để tạo ra cơ sở vật chất
kỹ thuật trong nền sản xuất hiện đại.

có một cơ chế quản lý mơí, một môi trường xã hội mới để đáp ứng nhu cầu, lợi ích
và các mối quan hệ xã hội ngày càng phát triển của con người và công nghiệp hoá,
hiện đại hoá là bước đi tất nhiên và mang tính khách quan để tạo ra một nền sản
xuất hiện đại vì một cộng đồng ngày mai. Công nghiệp hoá, hiện đại hoá không chỉ xuất phát từ yếu tố con người mà do
con người tạo nên và chỉ khi nào có nguồn nhân lực mới thành công bởi như đã
phấn tích ở trên con người là chủ thể của mọi hoạt động sản xuất vật chất hiện đại,
trang bị kỹ thuật và công nghệ tiên tiến cho ngành kinh tế quốc dân chỉ có thể thực
hiện được trên cơ sở đội ngũ người lao động, các cán bộ đầu ngành, chính sách
phát triển của Đảng và Nhà nước.
Tóm lại, việc đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá là bước đi tất yếu trong
đó phát huy nguồn lực con người là yếu tố cơ bản cho sự phát triển nhanh bền
vững của nền kinh tế đất nước đồng thời gắn tăng trưởng kinh tế với việc cải thiện
đời sống nhân dân.

2-Vai trò của việc phát triển nguồn nhân lực trong sự nghiệp công nghiệp hoá,
hiện đại hoá đất nước.
Đối với đất nước ta khi chiến lược phát triển đất được xác định là “đẩy mạnh
công nghiệp hoá hiện đại hoá đất nước” theo định hướng xã hội chủ nghĩa nhằm
mục tiêu “dân giàu nước mạnh xã hội công bằng minh”, thì vấn đề xác định dúng
và huy động có hiệu quả những nguồn lực vốn có và có thể tạo ra trong tiến trình
phát triển càng trở nên quan trọng.
Khi xác định chiến lược phát triển đất nước trong giai đoạn hiện nay, Đảng
ta đã chỉ rõ những nguồn lực làm cơ sở cho việc thực hiện thành công sự nghiệp
công nghiệp hoá hiện đại hoá đất nước là : nguồn lực con người Việt Nam, nguồn
lực tự nhiên (tài nguyên thiện nhiên , vị trí địa lý), cơ sở vật chất tiềm lực khoa
học-kĩ thuật vốn có các nguồn lực ngoài nước và kinh nghiệm quản lý.
Lịch sử phát triển chân chính của xã hội loài người là lịch sử phát triển của

kĩ năng của người lao động rất rõ rệt. Lao động có tay nghề cao, công nhân kỹ
thuật thiếu do đầu tư cho giáo dục đào tạo chưa đủ, cơ cấu đào tạo chưa hợp lý,
thiếu cơ sở định hướng, không xuất phát từ nhu cầu thị trường lao động. Chất
lượng nguồn nhân lực nhìn chung đã được cảI thiện nhiều nhưng cung về chất
lượng vẫn không thể đáp ứng được cầu về mặt thể lực, trí lực và trình độ chuyên
môn kỹ thuật của lực lượng lao động, nguồn nhân lực của Việt Nam.
Chất lượng thì như vậy, lại kết hợp thêm việc phân bổ, sử dụng nguồn nhân
lực bất cập, thiếu đồng bộ càng làm tăng thêm mâu thuẫn về cung cầu nguồn nhân
lực cả về số lượng và chất lượng. ở các vùng miền núi, vùng sâu vùng xa thừa lao động giản đơn nhưng lại thiếu nghiêm trọng lao động có trình độ, gây rất nhiều
khó khăn cho việc phát triển về nhiều mặt ở các vùng này. Những nơi cần thì
không có, còn những nơi đã có nhiều rồi như ở các thành phố lớn thì lại ngày
càng nhiều thêm gây ra một sự lãng phí rất lớn cho xã hội.
Điểm mạnh của nước ta là số người biết chữ cao so với nhiều nước trong
khu vực hay các nước đang phát triển khác. Nguồn nhân lực nước ta có động lực
hạc tập tốt, thông minh, tự tin cao, khéo léo, có thể thành giỏi nếu được giáo dục
đào tạo tốt. Điểm yếu của nước ta về nguồn nhân lực chủ yếu là tri thức, nghiệp
vụ kinh doanh, tiếp thị, buôn bán, quản lý và tri thức khoa học kỹ thuật cập nhật.
Những hạn chế đó của nguồn nhân lực nước ta trong cơ chế thị trường và xu thế
hội nhập phát triển rất cần được khắc phục càng sớm càng tốt bằng mọi biện
pháp, khả năng vốn có của nước ta.
Đó là thực trạng về nguồn nhân lực của nước ta hiện nay.

3-Giáo dục đào tạo nguồn nhân lực con người trong sự nghiệp công nghiệp hoá
hiện đại hoá ở nước ta.
Do một trong ba mặt thể hiện vai trò sáng tạo ra lịch sử của quần chúng nhân
dân là: hoạtđộng sản xuất ra của cải vật chất vật chất của quần chúng nhân dân,
trực tiếp là nhân dân lao động, là cơ sở tồn tại và phát triển của xã hội. Do nội

nhờ tăng cường hình thức đào tạo ngắn hạn.
Phải khắc phục sự mất cân đối trong cơ cấu ngành học, bậc học của giáo dục
đào tạo. Giáo dục mầm non có tầm quan trọng đặc biệt đứng từ góc độ chuẩn bị
nền tảng cả về thể lực và trí lực cho nguồn nhân lực. Giáo dục phổ thông, đặc biệt
là giáo dục học, theo kinh nghiệm của các nước đang phát triển, là một trong
những yếu tố quan trọng nhất quyết định các cơ hội và tăng trưởng kinh tế. Giáo
dục đào tạo chuyên môn nghiệp vụ kỹ thuật ngoài ý nghĩa với tăng trưởng kinh tế
còn đặc biệt quan trọng trong việc phát triển đón bắt, giảm nguy cơ tụt hậu. Tuy
nhiên, những bất cập giữa các loại ngành đào tạo, giữa các bậc học đã gây khó
khăn không ít cho sự phát triển. Một số ngành thì được học sinh, sinh viên theo
học. Nếu không có sự đIều chỉnh kịp thời, Việt Nam sẽ nhanh chóng gặp phải khó
khăn về đội ngũ kỹ sư, công nhân kỹ thuật như ở nhiều nước Asean, nhất là của
Thái Lan.
Giáo dục đào tạo ở thành phố, đồng bằng có điều kiện phát triển hơn ở nông
thôn, vùng sâu kiện phát triển hơn ở nông thôn, vùng núi, vùng sâu vùng xa.Vì vậy, vấn đề khoảng cách phát triển giữa các vùng, miền, giữa thành thị và nông
thôn, vấn đề thực hiện công bằng xã hội cũng trở nên phức tạp hơn. Muốn nâng
cao trình độ của nguồn nhân lực ở các vùng nông thôn, vùng sâu, vùng xa, miền
núi, chính sách cấp học bổng, giảm học phí, ưu tiên các học sinh nghèo vượt khó
là điều kiện cơ bản đầu tiên tạo cơ hội được giáo dục đào tạo nguồn nhân lực.
Yếu tố quan trọng nhất quyết định chất lượng nguồn nhân lực có đáp ứng
được yêu cầu phát triển hay không đó là đổi mới mục tiêu, nội dung, chương trình
và phương pháp giáo dục đào tạo. Việc hội nhập và cạnh tranh kinh tế đòi hỏi
hàng hoá phải đạt tiêu chuẩn quốc tế để tăng thêm khả năng cạnh tranh trên thị
trường thế giới, từ đó nảy sinh yêu cầu về trình độ công nghệ và trình độ sử dụng
các công nghệ đó cũng ngày càng phải được nâng cao. Ngoài giáo dục đào tạo
văn hoá, chuyên môn, nghiệp vụ về mặt lý thuyết, cần chú ý đén khâu thực hành,
ứng dụng, giáo dục kỹ thuật, tác phong lao động công nghiệp, rèn luyện kỹ năng

quy định các doanh nghiệp phải có trách nhiệm đào tạo lại không chỉ số người
còn làm việc mà cả với đố người sẽ bị sa thải do không còn phù hợp với công
việc ở doanh nghiệp, để số người này vẫn còn cơ hội tìm việc làm mới.

5- Những thành tích đã đạt được của việc giáo dục đào tạo nguồn nhân lực
Cuộc cách mạng khoa học và công nghệ hiện nay đã tác động và làm biến
đổi mạnh mẽ lao động xã hội theo hướng tăng tỷ trọng của lao động trí tuệ, giảm
bớt các hoạt động chân tay, làm cho lao động trí tuệ trở thành hoạt động cơ bản
của con người. Việc ứng dụng ngày càng rộng rãi tri thức vào sản xuất và tổ chức
lao động đã làm cho tri thức nhanh chóng trở thành yếu tố sản xuất quan trọng
nhất, thành nguồn lực kinh tế cơ bản và chủ yếu. Vai trò của các yếu tố sản xuất
truyền thống như đất đai, tài nguyên thiên nhiên, vốn…dẫu không mất đi song đã
trở thành thứ yếu. Các nghiên cứu trắc lượng gần đây cho thấy chỉ một phần nhỏ
của sự tăng trưởng có thể giải thích bởi đầu tư vào vốn, còn phần quan trọng của
tăng trưởng gắn liền với chất lượng lao động.
Trong những năm chúng ta tiến hành công cuộc đổi mới, người dân được tự
do kinh doanh những lĩnh vực pháp luật không cấm; trong sinh hoạt tư tưởng,
người dân cũng được tự do thảo luận hơn rất nhiều nhiều so với trước; dân chủ ở
cơ sở được thể chế hoá đã có tác dụng tích cực; sự thảo luận và đối thoại trong
Quốc hội thẳng thắn, công khai; sự khiếu kiện của dân được giải quyết kịp thời
hơn; nhân dân được tham gia trực tiếp vào những vấn đề trọng đại của đất nước. Điều này chứng tỏ nguồn nhân lực của nước ta có trình độ ngày càng được khẳng
định và được trọng dụng.
Những thành tích của giáo dục đào tạo nói chung và giáo dục đào tạo nguồn
nhân lực nói riêng là to lớn nhờ đó mà mặc dù một số chỉ tiêu khác như thu nhập
bình quân đầu người chưa cao nhưng Việt Nam vẫn có chỉ số HDI tương đối cao,
được xếp vào các nước có trình độ phát triển trung bình. Tuy nhiên, so với những
yêu cầu phát triển kinh tế xã hội thì giáo dục đào tạo của nước ta hiện nay còn

dựng và phát triển nền văn hoá Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc.
Các tài liệu tham khảo:

-Triết học Mác-Lê nin-Nhà xuất bản chính trị quốc gia
-Địa lý kinh tế Việt Nam
-Kinh tế chính trị
-Tạp trí những vấn đề kinh tế thế giới, số 1/1999
-Tạp chí cộng sản, số 21,15
-Triết học số 3(115)


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status