1
MỤC LỤC
Trang
A: PHẦN MỞ ĐẦU 2
1. Lí do chọn đề tài 2
2. Tình hình nghiên cứu 3
3. Mục đích và nhiệm vụ của đề tài 4
4. Đối tượng phạm vi nghiên cứu 4
5. ý nghĩa 4
6. Bố cục 4
B: NỘI DUNG 5
I. Vài nét về John Meynard Keynes 5
II. Quan điểm của Keynes về lí thuyết tiền tệ và giá cả 5
III. Đánh giá chung về quan điểm của Keynes 9
1. Đóng góp 9
2. Hạn chế 9
3. Nguyên nhân đưa đến những hạn chế của Keynes 10
IV. SỰ VẬN DỤNG LÍ THUYẾT CỦA KEYNES TRONG NỀN KINH TẾ VIỆT
NAM 11
1. Tình hình kinh tế nước ta trong những năm qua 11
2. Giải pháp hoàn thành chính sách tiền tệ ở Việt Nam 20
a. Dự trữ bắt buộc 20
b. Tái chiết khấu 21
c. Hoạt động thị trường mở 22
d. Lãi suất 23
e. Hạn mức tín dụng 24
C: KẾT LUẬN 26
D: TÀI LIỆU THAM KHẢO 27
Hơn nữa một sự thật mà ai trong chúng ta cũng đều nhìn thấy. Với sự thành công
trong việc chặn đứng lạm phát phi mã năm 1989 nhờ áp dụng công cụ lãi suất ngân
hàng (đưa lãi suất huy động tiền gửi tiết kiệm lên cao vượt tốc độ lạm phát), đã cho
thấy tầm quan trọng của việc sử dụng các công cụ của chính sách tiền tệ trong điều tiết 3
kinh tế vĩ mô nhằm đạt các mục tiêu ngắn hạn ổn định thị trường. Trong nền kinh tế
tăng trưởng nhanh của nước ta luôn thường trực nguy cơ tái lạm phát cao, do đó một
công cụ điều tiết vĩ mô hiệu nghiệm như chính sách tiền tệ được tận dụng trước tiên
với hiệu suất cao cũng là điều tất yếu. Tuy nhiên gần đây ở Việt nam có dấu hiệu của
sự lạm dụng các công cụ của chính sách tiền tệ trong nhiệm vụ kiềm chế lạm phát.
Điều này thể hiện sự yếu kém trong việc quản lý và sử dụng chính sách tiền tệ của nhà
nước ta. Vì vậy đứng trước nguy cơ tiềm ẩn của lạm phát, việc nghiên cứu chính sách
tiền tệ nhằm kiểm soát lạm phát là vô cùng cần thiết.
Chính vì lẽ đó em đã chọn đề tài "Quan điểm của Keynes về lí thuyêt tiền tệ và
giá cả và ý nghĩa, sự vận dụng của lí thuyêt đó đối với riêng Việt Nam ta".
2.TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU
Do Keynes là một nhà kinh tế lỗi lạc nên đã có vô số các tác gia với những
phương pháp phân tích, đánh giá và vận dụng các lí thuyết của ông nói chung và lí
thuyết về tiền tệ- giá cả nói riêng trong sản xuất- kinh doanh và cả trong nền kinh tế
nhà nước (kinh tế vĩ mô). Tuy nhiên với phạm vi bài tiểu luận em không thể phân tích
đánh giá một cách đầy đủ, sâu sắc nhất và vẫn tồn tại không ít những thiếu xót mong
các thầy, các cô và các bạn đọc góp ý bổ sung.
3.MỤC ĐÍCH VÀ NHIỆM VỤ CỦA ĐỀ TÀI
Tìm hiểu phân tích lí thuyết về tiền tệ và giá cả của Keynes để biết được đặc
trưng, hạn chế cũng như là tầm quan trọng mức độ ảnh hưởng của chính sách tiền tệ
giá cả tác động tới nền kinh tế nói chung và nền kinh tế đổi mới, hội nhập mở cửa của
việt nam nói riêng. Từ đó đưa ra các biện pháp, chính sách nhằm hạn chế khủng
hoảng, lạm phát đưa nền kinh tế phát triển bền vững.
hóa và được chăm sóc đầy đủ. Bố ông là John Neville Keynes, giảng dạy tại một
trường đai học ở Cambridge. Mẹ ông là Florence Ada, là một trong những người đầu
tiên tốt nghiệp trường Newham. Năm 1932, bà được bầu làm thị trưởng Cambridge và
nổi tiếng về chủ nghĩa nữ quyền. Có thể nói bố mẹ của Keynes là những công dân tiến
bộ đậm màu sắc vị tha.
J.M.Keynes là nhà kinh tế học người Anh, giáo sư trường đại học Cambridge,
một nhà hoạt động xã hội, một chuyên gia trong lĩnh vực tài chính tiền tệ, thống đốc
ngân hàng Anh, cố vấn kinh tế chính phủ Anh về ngân khố quốc gia, chủ bút tạp chí
nhà kinh tế.
Năm 1925, ông kết hôn với một nữ diễn viên chính Liu Boves Kaia của đoàn múa
bale nga, sinh được hai người con.
Tác phẩm nổi tiếng của J.m.Keynes "Lí thuyết chung về việc làm, tiền tệ và giá
cả" xuất bản năm 1936, Trong đó ông trình bày một số quan điểm cơ bản đặc biệt phê
phán các quan điểm của trường phái cổ điển, tân cổ điển và một số vấn đề lý luận, chủ
yếu là quan điểm thị trường tự điều chỉnh. Đồng thời, ông đã nêu lên quan điểm về vấn
đề khủng hoảng, thất nghiệp và vai trò điều tiết của nhà nước.
Ông được các học giả phương tây coi là người có tính sáng tạo, Là nhà kinh tế có
ảnh hưởng rất lớn đối với kinh tế học phương tây hiên đại và chính sách kinh tế của
các chính phủ.
II. QUAN ĐIỂM CỦA KEYNES VỀ LÍ THUYẾT TIỀN TỆ VÀ GIÁ CẢ
Vào những năm 30 của thế kỉ 20 khủng hoảng và thất nghiệp ở các nước tư bản
phương tây sảy ra thường xuyên và ngày càng nghiêm trọng, đặc biệt là cuộc đại
khủng hoảng 1929-1933 đã chứng tỏ lí thuyết của trường phái cổ điển và tân cổ điển bị
mất sức thuyết phục làm tan rã tư tưởng tự do kinh tế.
Sự phát triển của lực lượng sản xuất mang tính xã hội cao đòi hỏi sự can thiệp
của nhà nước vào nền kinh tế, tình trạng độc quyền ra đời và bắt đầu bành trướng thế
lực
Theo ông cần phải tăng thuế đối với người lao động để điều tiết bớt một phần tiết kiệm
từ thu nhập của họ và giảm thuế đối với các nhà kinh doanh, sản xuất. Từ chính sách
đó có thể điều tiết sản xuất, khuyến khích tiêu dùng cá nhân. Qua đó mở rộng các hình 7
thức tạo việc làm để nâng cao thu nhập, tăng sức mua, tăng cầu hiệu quả, phát triển
thêm ngành nghề mới. Đồng thời tăng chi tiêu chính phủ hay tăng đầu tư công cộng để
kích cầu có hiệu quả.
Thứ hai: về công cụ tiền tệ và lưu thông tiền tệ. Theo Keynes, cần tăng thêm
khối lượng lớn tiền tệ vào trong lĩnh vực lưu thông. Làm tăng cung tư bản cho vay để
giảm lãi suất. Khuyễn khích các nhà tư bản đầu tư vay vốn mở rộng sản xuất, tăng
thêm khối lượng việc làm.Ông chủ trương chủ động bơm thêm tiền vào lưu thông thực
hiện "Lạm phát có mức độ". Ông cho rằng đây là biện pháp hưu hiệu để kích thích thị
trường mà không có nguy hiểm gì. Khi nền kinh tế đạt tới mức cân bằng với sản lượng
và việc làm cao thì lam phát sẽ tự động dừng lại. Đồng thời với nó là khuyến khích đẩy
nhanh chu kì chu chuyển của tiền tệ trong quá trình sản xuất cũng như là lưu thông. Và
thực hiện thanh toán không dùng tiền mặt, qua các công cụ tài chính và phát hành công
trái nhằm hạn chế số lượng tiền mặt đi vào lưu thông trên thị trường mà tập trung, dồn
nén nó lại trong lĩnh vực sản xuất tạo giá trị thặng dư hay lợi nhuận lớn cho các nhà
doanh nghiệp, hay cụ thể hơn là khuyến khích sản xuất phát triển mạnh.
=> Từ những điều trên Keynes cho rằng nhà nước cần dùng hệ thống tài chính,
tín dụng, tiền tệ để kích thích lòng tin, tính lạc quan và tích cực đầu tư của doanh nhân.
Thứ ba: Về giá cả, tiền công. Một sự khác biệt rõ rệt nhất và cũng là quan điểm
sai lệch nhất của Keynes so với các trường phái cổ điển và tân cổ điển đó là ông coi
giá cả và tiền công (hay còn gọi là giá cả của sức lao động) luôn luôn ổn định hay
cứng nhắc. Để làm rõ điều đó ta đi đến ba lập luận sau. Một: đấy là vấn đề hợp đồng
lao động. Các nhà sản xuất hay chủ doanh nghiệp để giữ được lao động làm việc cho
mình giữa họ đã hình thành những bản hợp đồng lao động dài hạn. Chính vì thế mà
lương theo hợp đồng lao động không thể điều chỉnh đột ngột. Trong trường hợp có
2. HẠN CHẾ
Trong một thời gian dài lí thuyết Keynes được vận dụng rộng rãi tuy nhiên nó
cũng thể hiện một số hạn chế:
- Mục đích của lí thuyết Keynes là chống khủng hoảng và thất nghiệp song thực
tế trong những năm thực hiện lí thuyết này thì cứ bốn năm lại có một lần chấn động
kinh tế.
- Nạn thất nghiệp không những không được khắc phục mà còn có xu hướng gia
tăng. Tư tưởng "lạm phát có điều tiết" của Keynes góp phần làm tăng sự trầm trọng
của lạm phát, một căn bệnh nan giải của nền kinh tế hiện đại.
- Công cụ lãi xuất, tiền tệ điều tiết đầu tư không có hiệu quả và nhiều khi còn tác
động ngược lại. 9
- Nắm nhu cầu xã hội đòi hỏi sự can thiệp của nhà nước vào kinh tế, Keynes đưa
ra lí thuyết chủ nghĩa tư bản được điều tiết. Song khi đánh giá cao vai trò của nhà nước
ông lại bỏ qua vai trò của tư tưởng tự do của bàn tay vô hình, của cân bằng tổng quát.
- Lí luận "Tăng cầu hiệu quả" của keynes còn phiến diện. Song nguy hại hơn là
kích thích lối sống hưởng thụ và đặc biệt hơn là kích chiến tranh, quân sự hóa nền kinh
tế. Điều này lại càng thúc đẩy mạnh bởi Keynes quá đề cao vai trò của nhà nước trong
việc can thiệp vào đời sống kinh tế.
=> Điều đó làm gia tăng xu hướng xu hướng phê phán lí thuyết của ông.
3. NGUYÊN NHÂN ĐƯA ĐẾN NHỮNG HẠN CHẾ CỦA KEYNES
Ngay từ đầu trong cách tiếp cận vấn đề của Keynes, ông đã xuất phát và đi thẳng
vào quan điểm giá cả, tiền lương ổn định, cứng nhắc, không có sự biến động. Theo
quan điểm của Keynes, các chính sách tiền tệ và tài khóa có thể thay thế cho giá cả
tiền lương linh hoạt, kích thích nền kinh tế trong thời kì suy thoái, làm giảm tổng cầu
trong thời gian khủng hoảng kinh tế, nhằm ngăn chặn các xu hướng lạm phát. Những
người thuộc trường phái Keynes tin tưởng rằng: chính phủ có thể tác động đến hoạt
động kinh tế thực sự, bằng cách thi hành các chính sách tiền tệ hay tài khóa nhằm thay
Những nhà chính sách có ảnh hưởng lớn nhất trong giai đoạn đầu đều là những người
được đào tạo trong thời kế hoạch hóa, do đó họ tìm thấy ở kinh tế học trường phái
Keynes một chỗ dựa khá thân quen và dễ chịu cho những gợi ý chính sách của mình.
Thứ hai nền kinh tế Việt Nam được đặc trưng bởi vai trò chi phối của nhà nước ngay
từ những ngày đầu chuyển đổi( Và cho đến tận bây giờ), đã trở thành "một mảnh đất
màu mỡ" cho các loại chính sách can thiệp, xuất hiện và tồn tại vững chắc. Hai nhân tố
trên tự hỗ trợ và tự tái tạo lẫn nhau.
Trong nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung trước đây nhà nước ta quy định giá cả
thu mua nông sản của nông dân, giá cả đối với tất cả các loại hàng hóa, vật tư nguyên
liệu, nhiên liệu là đầu vào của sản xuất nên giá cả của hàng hóa luôn luôn cứng nhắc
không biến đổi, và quản lí, phân phối các loại hàng hóa này thông qua một hệ thống
các cơ quan cung ứng vật tư của nhà nước. Giá cả hàng hóa nói chung đều do nhà
nước quy định và phân phối bằng tem phiếu và thông qua hệ thống mậu dịch quốc
doanh và hợp tác xã mua bán gọi là thị trường có tổ chức. Cơ chế giá cả đó đã làm cho
nền kinh tế mang tính hiện vật, hạn chế tác dụng của các quy luật kinh tế thị trường và
làm giảm hiệu quả kinh tê, dẫn tới tất yếu nền kinh tế giai đoạn này trì trệ, kém phát
triển. Chính vì vậy nhà nước thi hành chính sách một giá kinh doanh, cuộc cải cách giá
cả được thực hiện căn bản trong những năm 1987-1990: cụ thể là:
+ Xóa bỏ cơ chế định giá nông sản bán theo nghĩa vụ đối với nông dân. Nông dân
sau khi hình thành nghĩa vụ về thuế, có quyền tự do bán sản phẩm trên thị trường. 11
Năm 1987-1988, nhà nước dùng vật tư đổi lấy nông sản hoặc mua bằng tiền mặt theo
khung giá do Trung ương chỉ đạo (giá mua nông sản đã được tăng lên). Đến năm 1988
nhà nước quy định khung giá cho toàn bộ cơ chế và giá mua bán nông sản đã do thị
trường quyết định.
+ Điều chỉnh giá bán lẻ hàng tiêu dùng và dịch vụ những năm 1986-1988 được
thực hiện theo chính sách hai giá: giá cung cấp những mặt hàng tiêu dùng thiết yếu
theo quy định của nhà nước. Có phân biệt nhóm các hàng tiêu dùng quan trọng theo
vì chính sách "bù giá vào lương", nhưng do nguồn viện trợ và vay nợ nước ngoài giảm
xuống nên nhà nước lại càng tăng cường việc in và phát hành thêm tiền làm cho khối
lượng tiền mặt đi vào lưu thông tăng đột biến lên tới mức 61%. Chính sách đó đã dẫn
tới tình trạng lạm phát nghiêm trọng, trong thời kì đó lạm phát đã lên tới mức 3 con số
(890%).
-Về hệ thống ngân hàng và lưu thông tiền tệ:
Ngân hàng nhà nước để thực hiện cung ứng tiền tệ và cân đối cung cầu tiền tệ đã
vận dụng và từng bước hoàn thiện hàng loạt các công cụ như: Dự trữ bắt buộc, tái
chiết khấu, hoạt động thị trường mở, lãi suất, hạn mức tín dụng …Nhờ vào hoạt động
của ngân hàng mà nước ta đã chặn đứng được cuộ siêu lạm phát ba con số thời kì
1987-1989 và cuộc khủng hoảng tiền tệ năm 1997 diễn ra ở châu á.
Sau đây ta đi phân tích và xem xét hiện trạng của việc sử dụng các công cụ của
chính sách tiền tệ ở nước ta trong những năm qua trong hệ thống các ngân hàng:
Thứ nhất về chính sách tài chính tín dụng:
Ngân hàng nhà nước đã quy định "Ngân hàng nhà nước quy định tỷ lệ dự trữ bắt
buộc ít nhất ở mức 10% và nhiều nhất ở mức 35% trên toàn bộ tiền gửi ở các tổ chức
tín dụng. Trong thời gian đầu, tuy pháp lệnh ngân hàng đã quy định như trên nhưng
thực tế trong một thời gian dài, tỷ lệ 10% được ổn định một cách cố định, mặc dù
chính sách tín dụng từ năm 1989 đến nay đã trải qua nhiều thời kỳ khác nhau theo chủ
trương lúc thì thắt chặt, lúc thì nới lỏng (nhằm kiểm soát lạm phát). Nghĩa là việc thực
hiện đưa tiền vào lưu thông điều khiển khối lượng tiền lưu thông luôn được thực hiện
theo những dự kiến nhất định, bằng những công cụ khác nhau. Nhưng công cụ dự trữ
bắt buộc vẫn được thực hiện với một tỷ lệ cố định.
Đầu năm 1994, Ngân hàng trung ương đã có quy định bổ sung : tỷ lệ dự trữ bắt
buộc đối với loại tiền gửi không kỳ hạn là 13%, đối với loại tiền gửi là 7% nhưng cũng
là để thi hành cho một thời gian dài. Sự ổn định như vậy đã nói lên rằng, ở nước ta vào
thời kỳ này mới bước đầu sử dụng công cụ này , nên chưa có khả năng điều khiển nó
một cách linh hoạt theo tình hình tiền tệ luôn biến động trong lưu thông, nên chưa thực
hiện đầy đủ vai trò điều khiển khối lượng tiền lưu thông hạn chế bội số tín dụng của
hàng thương mại không đủ vốn. Trong thời gian qua do chưa có những công cụ nghiệp
vụ để thực hiện công cụ lãi suất tái chiết khấu nên ngân hàng nhà nước Việt Nam đã
sử dụng hình thức cho vay cầm cố. Hình thức này được thực hiện bằng cách, các ngân
hàng thương mại và các tổ chức tín dụng đem một số loại giấy tờ có giá trị đến ngân 14
hàng trung ương làm vật thế chấp để vay tiền. Loại tín dụng này nhằm giải quyết khó
khăn tài chính tạm thời cho các ngân hang thương mại. Hình thức mua lại các dự án
đầu tư tái cấp vốn theo hình thức cho vay thế chấp một thời gian dài là công cụ thay
thế cho thương phiếu và kỳ phiếu . Những hạn chế của công cụ tái chiết khấu ở nước
ta trong thời gian qua đó là tất yếu trong thời kỳ đầu chuyển sang kinh tế thị trường .
Tuy nhiên cùng với các công cụ khác của chính sách tiền tệ công cụ tái chiết khấu
(chưa hoàn thiện) đã góp phần đưa tỷ lệ lạm phát ở nước ta từ mức 3 con số ở các năm
trước xuống mức 1 con số ở năm 1993.
Thứ ba: về hoạt động thị trường mở
Đây là một trong những công cụ quan trọng được ngân hàng thương mại các
nước sử dụng để điều hành có hiệu quả chính sách tiền tệ. Thậm chí một số ngân hàng
coi đây là công cụ sắc bén nhất trong các hoạt động của mình.
Nhưng ở Việt Nam, nền kinh tế vận hành theo cơ chế kế hoạch hoá tập trung bao
cấp gồm suốt 4 thập kỷ qua, phù hợp với cơ chế đó ngân hàng nhà nước Việt Nam
không thể sử dụng các công cụ gián tiếp (dự trữ bắt buộc, thị trường mở, lãi suất tái
chiết khấu) để điều hành chính sách tiền tệ. Công cụ đó chỉ có thể và trên thực tế bước
đầu đã phát huy tác dụng khi hệ thống ngân hàng Việt Nam đã thực sự đổi mới. Luật
ngân hàng nhà nước Việt Nam quy định "ngân hàng nhà nước thực hiện nghiệp vụ thị
trường mở thông qua việc mua bán tín phiếu kho bạc, chứng chỉ tiền gửi, tín phiếu
ngân hàng nhà nước và các loại giấy tờ có giá ngắn hạn khác trên thị trường tiền tệ để
thực hiện chính sách tiền tệ quốc gia. Quy định trên về mặt phương diện pháp lý luật
ngân hàng nhà nước Việt Nam đã mở ra cho công cụ thị trường mở một lối đi khá
thông thoáng, không bị ức chế bới khía cạnh nào. Thực tế lại cho thấy vốn nằm trong
- Mọi nguồn vốn mà ngân hàng huy động để cho vay đều được hưởng lãi, mọi
khoản vốn ngân hàng cho vay đều phải thu lãi.
- Chênh lệch giữa lãi suất cho vay và lãi suất tiền gửi bình quân 0,6% tháng.
- Trong cơ cấu lãi suất tiền gửi và cho vay phải bao gồm lãi suất cơ bản (lãi suất
thực dương) và chỉ số trượt giá của thị trường xã hội.
Cụ thể từ giữa tháng 3-1989 đã đưa lãi suất tiền gửi tiết kiệm lên cao hơn chỉ số
lạm phát hàng tháng. Tháng 1 và tháng 2 năm 1989 chỉ số giá chỉ tăng hơn 7,4% và
4,2% nhưng lãi suất tiền gửi tiết kiệm có kỳ hạn 3 tháng và không có kỳ hạn đã được
mạnh dạn đưa lên 12% và 9% mỗi tháng . Biện pháp lãi suất thực dương này lần đầu
tiên được thực thi đã phá vỡ sự trì trệ của các kênh thu hút tiền thừa trong dân và khắc
phục căn bản sự tê liệt của chính sách lãi suất cần ổn định từ năm 1985 đến quý I năm
1989. Số dư tiền tiết kiệm tăng lên nhanh chóng ngay tháng đầu, quý đầu. áp dụng
chính sách này ngay lần đầu đã giảm lạm phát một cách nhanh chóng (cũng bất lợi và 16
khó khăn đó là chỉ 3 tháng sau đã trở thành thiểu phát. Tháng 6/1992. Ngân hàng nhà
nước đã điều chỉnh lãi suất theo hướng :
- Đảm bảo lãi suất dương, tức là lãi suất cho vay không thấp hơn lãi suất huy
động bình quân.
- Ngân hàng nhà nước chỉ quy định mức lãi suất cho vay tối đa và mức lãi suất
tiền gửi tối thiểu, còn mức lãi suất cụ thể sẽ do các ngân hàng thương mại quyết định.
- Xoá bỏ cơ chế nhiều mức lãi suất phân biệt theo thành phần kinh tế cũng như
theo các loại hình doanh nghiệp , thực hiện chính sách lãi suất bình đẳng đối với tất cả
các thành phần kinh tế .
Đây là bước cải tiến cơ bản theo hướng từng bước tự do hoá lãi suất. Trong
những năm tiếp theo biện pháp chủ yếu để kiểm soát cung ứng tiền tệ (qua đó kiểm
soát được lạm phát) là nâng cao lãi suất bằng biện pháp hành chính lên mức cao, thực
hiện thắt chặt tín dụng cấp cho khu vực kinh tế quốc doanh và ngân sách nhà nước.
Ngoài ra nhà nước không ngừng đưa ra các chính sách khác áp dung cho lãi xuất tiền
lạm phát thấp như hiện nay cần giảm tỷ lệ dự trữ bắt buộc. Bởi vì nhu cầu vốn của nền
kinh tế khá lớn, nhưng khả năng huy động vốn hạn chế, cho nên việc giảm tỷ lệ dự trữ
bắt buộc trong giai đoạn này sẽ hỗ trợ thêm nguồn vốn cho các tổ chức tín dụng cho
vay nền kinh tế. Mặt khác sự gia tăng tổng phương tiện thanh toán ở mức kiểm soát
được, và tỷ lệ lạm phát cũng có thể kiểm soát được sao cho phù hợp với sự tăng trưởng
kinh tế. Do vậy hạ thấp tỉ lệ dự trữ bắt buộc có thể chấp nhận và phù hợp trong thời kỳ
này.
Một mặt khi quy định tỷ lệ dự trữ bắt buộc cần chú ý tới quy mô hoạt động của
các tổ chức tín dụng hiện nay sao cho hợp lý. Còn về đối tượng thi hành quy chế dự
trữ bắt buộc cần bổ sung thêm ngân hàng hợp tác xã quỹ tín dụng nhân dân và hợp tác
xã tín dụng để phù hợp với quy định nội dung luật ngân hàng nhà nước. Trong giai
đoạn hiện nay, các ngân hàng thương mại gặp khó khăn trong việc huy động vốn đối
với loại tiền gửi từ 12 tháng trở lên (chiếm 15% so với tổng nguồn vốn huy động).
Chính vì vậy nếu muốn huy động được loại tiền gửi này các ngânhangf thương mại
phải nâng mức lãi suất tiền gửi (huy động vốn) lên cao sát lãi suất tiền cho vay. Do đó
nếu quy định loại tiền gửi này cũng phải chịu tỷ lệ dự trữ bắt buộc thì sẽ gây khó khăn
cho các ngân hàng thương mại trong hoạt động kinh doanh cũng như không khuyến
khích được huy động vốn trung và dài hạn để cho vay và đầu tư phát triển . Vì vậy
trong giai đoạn hiện nay chưa nên quy định dự trữ bắt buộc đối với loại tiền gửi có kỳ
hạn từ 12 tháng trở lên mà chỉ tạm thời quy định dự trữ bắt buộc đối với tiền gửi huy
động dưới 12 tháng. Việc quy định trên sẽ khuyến khích các ngân hàng thương mại 18
bằng các nghiệp vụ của mình (phát hành trái phiếu ngân hàng thương mại phát hành
kỳ phiếu v.v) thu hút nguồn vốn cho mục tiêu đầu tư và phát triển .
b. Tái chiết khấu.
Để thực hiện được công cụ tái chiết khấu có hiệu quả đòi hỏi phải có các công cụ
truyền thống của nó là kỳ phiếu và thương phiếu. Thương phiếu là giấy chứng minh
cho hành vi mua chịu bán chịu hàng hoá , hành vi này gọi là tín dụng thương mại.
thức đấu thầu thông qua hoạt động của ngân hàng nhà nước thương mại và án ngân
hàng thương mại trong đó tăng cường vai trò của ngân hàng nhà nước thương mại
trong việc phát hành tiền để mua trái phiếu chính phủ và sau đó thực hiện mua bán lại
trái phiếu chính phủ với các ngân hàng thương mại, với các tổ chức kinh tế theo tín
hiệu thị trường .
Một mặt :
- Cần ban hành chính thức các quy chế hoạt động thị trường mở phù hợp với luật.
- Thành lập ban chỉ đạo thị trường mở để tiến hành mua bán thử
- Làm việc với bộ tài chính phát hành các tín phiếu kho bạc có kỳ hạn dưới 12
tháng để tạo công cụ cho thị trường mở. Đồng thời làm việc với Bộ tài chính để
chuyển số nợ hiện nay của Bộ tài chính vay ngân hàng thương mại thành các trái phiếu
chính phủ để ngân hàng nhà nước sử dụng công cụ này cho hoạt động thị trường mở.
- Ngân hàng nhà nước phát hành tín phiếu ngân hàng nhà nước thường xuyên,
định kỳ với thời hạn ngắn.
- Hoàn thiện hệ thống thanh toán bù trừ để các ngân hàng tiến hành các giao dịch
ngắn, phát triển nghiệp vụ vay mượn thúc đẩy thị trường liên ngân hàng phát triển là
cơ sở để phát triển nghiệp vụ thị trường mở.
Song để nghiệp vụ thị trường mở phát huy hiệu quả vốn có của nó trong việc điều
hành chính sách tiền tệ, thì bên cạnh việc khẩn trương tạo ra các điều kiện như trên
cho thị trường mở có thể hoạt động, cần thiết phải đổi mới đồng thời các công cụ
chính sách tiền tệ như công cụ tái chiết khấu, dự trữ bắt buộc, lãi suất các điều kiện
cần thiết cho sự phát triển của thị trường liên ngân hàng để ngân hàng nhà nước có
thể điều hành một cách đồng bộ, có sự phối hợp chặt chẽ giữa các công cụ, qua đó có
thể nâng cao năng lực điều hành của ngân hàng nha nước nhằm thực hiện có hiệu quả
mục tiêu chính sách tiền tệ trong từng thời kỳ.
d. Lãi xuất
Trong những năm gần đây, chính sách lãi suất của ngân hàng nhà nước đã được
sử dụng như một công cụ quan trọng góp phần tăng trưởng kinh tế và kiểm soát lạm
phát. Bằng các biện pháp điều hành linh hoạt theo chỉ đạo của chính phủ ngân hàng
e. Hạn mức tín dụng:
Trong nền kinh tế thị trường, hoạt động tín dụng đóng vai trò điều tiết thường
xuyên đối với việc giải quyết mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và lạm phát. Dựa 21
vào việc mở rộng tín dụng người ta có thể đạt đến sự mở rộng sản xuất kinh doanh và
đầu tư xây dựng cơ bản. Ngược lại thu hẹp tín dụng là một trong những cách thức
quan trọng để hạn chế sự tăng trưởng kinh tế quá nhanh và sự gia tăng của lạm phát.
Vì vậy công cụ hạn mức tín dụng có ý nghĩa quan trọng và việc xác định hạn mức tín
dụng là rất cần thiết để thực hiện mục tiêu chống lạm phát, bình ổn kinh tế.
22
C: KẾT LUẬN
Nhờ sự vận dụng một cách linh hoạt và khéo léo các lí thuyết của Keynes nhất là
lí thuyết về tiền tệ mà nước ta đã vực dậy một cách nhanh chóng sau mỗi đợt khủng
hoảng( Nhất là cuộc khủng hoảng tiền tệ thế giới với mức siêu lạm phát ba con số thời
kì 1987-1989). Đưa nền kinh tế không ngừng phát triển đi lên. Tuy nhiên cũng do
nhiều lí do khác tác động tới mà việc vận dung lí thuyết của Keynes không triệt để đã
càng làm cho nền kinh tế ngày càng lún sâu vào các cuộc khủng hoảng nhất là lạm
phát. Để làm được như lí thuyết mà Keynes đã đưa ra tức cần duy trì "Lạm phát có
kiểm soát" để "Kích cầu có hiệu quả" là cả một vấn đề lớn đặt ra cho nền kinh tế còn