Download miễn phí Thân phận Thiên Sứ trong tác phẩm cùng tên của Phạm Thị Hoài
Nếu như Hon là hình ảnh hoá thân trọn vẹn của thiên sứ (cả ngoại hình và đặc điểm tính cách, hành động) thì Hoài là hoá thân một phần của thiên sứ. Hoài không mang vẻ đẹp ngoại diện toát lên hào quang thu hút, ở Hoài có sự hiện diện của tâm hồn trinh khiết, trắng trong.
Nhân vật là một người khao khát yêu thương và nhìn cuộc sống bằng đôi mắt yêu thương. Từ ô cửa sổ- điểm qua sát thế giới của mình, nhân vật chia loài người làm hai loại, hocmon A- kẻ biết yêu thương và hocmon Z- kẻ không biết yêu. Tiêu chí phân loại trong bảng phân loại của nhân vật không phải là những vẻ ngoại diện, định chức xã hội mà chính là lòng yêu thương của cuộc sống.
http://s1.liketly.com/flash/edoc/jh2i1fkjb33wa7b577g9lou48iyvfkz6-swf-2013-10-12-than_phan_thien_su_trong_tac_pham_cung_ten_cua_pha.ifvnX0rJDb.swf /tai-lieu/de-tai-ung-dung-tren-liketly-40325/Để tải bản DOC Đầy Đủ xin Trả lời bài viết này, Mods sẽ gửi Link download cho bạn sớm nhất qua hòm tin nhắn.Tóm tắt nội dung:
THÂN PHẬN THIÊN SỨ TRONG TÁC PHẨM CÙNG TÊN CỦA PHẠM THỊ HOÀI
Thế Thị Thùy Dương
Khoa Ngữ Văn – Đại học Sư phạm Huế
tui vẫn thường tâm niệm rằng các nghệ sĩ, đặc biệt là những nhà văn là những người may mắn (theo một cách nào đó) vì luôn nhạy cảm nhận ra được sứ mệnh của mình, điều còn lại là có đủ kiên nhẫn và dũng cảm theo đuổi nó hay không?
Phạm Thị Hoài có sứ mạng trở thành một nhà văn, một người đổi gió cho văn học. Nhà văn ngay từ những sáng tác ban đầu đã thể hiện là một cây bút cá tính mạnh mẽ, luôn có ý thức cách tân văn học một cách triệt để và quyết liệt.
Thiên sứ là tiểu thuyết đầu tay của nhà văn, ngay từ buổi đầu mới ra đời đã tạo sóng gió. Cũng giống như các tác phẩm gây hấn khác như Nỗi buồn chiến tranh của Bảo Ninh, Ăn mày dĩ vãng của Chu Lai, Bến không chồng của Dương Hướng, Tướng về hưu của Nguyễn Huy Thiệp … Thiên sứ đã khuấy động văn đàn. Những dư luận trái chiều xuất hiện trong một khoảng thời gian dài. Và càng về sau, những ý kiến, nhận định đều gần như thống nhất, khẳng định đây là một trong những tiểu thuyết có giá trị của văn học hiện đại sau 75, thể hiện một lối văn mở đường cho một khuynh hướng tiểu thuyết trong văn học mới.
Thiên sứ được dịch sang tiếng Anh, Pháp, Tây Ban Nha, Ý, Đức và Phần Lan. Năm 1993, bản dịch Thiên sứ bằng tiếng Đức đã đoạt giải “Tiểu thuyết nước ngoài hay nhất” của tổ chức Frankfurt Literaturpreis trao tặng hàng năm cho tiểu thuyết xuất bản tại Đức. Riêng bản dịch tiếng Anh thì đoạt giải Dinny O'Hearn cho thể loại văn học dịch vào năm 2000. Những đánh giá trong và ngoài nước đã cho thấy Thiên sứ là một tác phẩm có giá trị lớn, một bước tiến của tiểu thuyết Việt Nam trên con đường giao lưu, tiếp biến với văn học thế giới.
Hiện nay đã có nhiều những công trình nghiên cứu, những bài viết tiếp cận tác phẩm này từ nhiều khía cạnh khác khau. Trong khuôn khổ bài viết này, chúng tui chỉ bàn về nhân vật thiên sứ trong tác phẩm qua đó lí giải rõ hơn về quan niệm về con người, cái đẹp của nhà văn.
1. "Thiên sứ" trong mẫu gốc.
Thiên sứ (anges) hay còn gọi là thiên thần là một trong những mẫu gốc có ý nghĩa quan trọng trong biểu tượng văn hoá nhân loại, đặc biệt là trong văn hoá phương Tây.
Thiên sứ được xem là "sinh linh môi giới giữa thượng đế và nhân thế, được hình dung dưới nhiều dạng thức khác nhau trong văn bản Akkad, Ougarit, Kinh Thánh và trong các sách thánh khác. Họ hay là những sinh linh thuần tuý tinh thần, hay là những thân thể bằng thanh khí, không khí, song họ chỉ có thể mang hình dạng của con người (892-11). Thiên sứ thường có vẻ đẹp thánh thiện. Vẻ đẹp của thiên sứ thường được gợi lên từ khuôn mặt. Vì vậy mà biểu tượng phái sinh phổ biến của thiên sứ là gương mặt thiên sứ. Hình dáng ngoài của thiên sứ còn có nét đáng chú ý là đôi cánh trắng và vầng hào quang, thể hiện nét khác biệt của thần linh. Đôi cánh trắng còn gợi đến một biến thể hình hài khác của thiên sứ là hình dáng thiên nga.
Mẫu cổ thiên sứ tồn tại song song với quá trình phát triển ý thức nhân loại. Ngay cả khi khoa học phát triển, sản phẩm của trí tưởng tượng ban sơ này vẫn có vị trí nhất định trong đời sống văn hoá, tinh thần của con người.
Cổ mẫu thiên sứ có nhiều những ý nghĩa khác nhau, thiên sứ cứu nạn, thiên sứ truyền giải, thiến sứ huỷ diệt, sứ giả của giao ước, thiên sứ đứng chầu Thiên Chúa, cũng có một nhóm thiên sứ ác … Trong các lớp nghĩa biểu trưng đó có 3 ý nghĩa biểu trưng đáng chú ý:
Thứ nhất, Thiên sứ đóng vai trò là sứ giả của thượng đế, " thiên sứ là quân đội của chúa trời, triều đình của Ngài, nhà cửa Ngài. Họ truyền những mệnh lệnh của chúa và quan sát thế gian. "(893. 11).
Từ ý nghĩa đó, hình ảnh thiên sứ luôn gắn với hình ảnh là hiện thân của chúa trơì, thượng đế, ngọc hoàng. Thiên sứ luôn mang những tin tức tốt lành cho con người, gắn với cái thiện.
Thứ hai, Thiên sứ còn đóng vai trò bảo hộ các dân tộc, thánh quốc. Thời trung cổ, các thiên thần can thiệp khi có nguy cơ chiếnh tranh thập tự chinh. Thiên sứ cũng có ý nghĩa là cái thiện, luôn đối đầu với ác quỉ để bảo vệ con người.
Thứ ba, thiên sứ còn có ý nghĩa là sự cứu rỗi tâm hồn của con người. Thiên sứ hiện thân cho vẻ đẹp trinh khiết, trắng trong, mang lại sứ thanh tẩy tâm hồn người. "trong một dị bản muộn nhất của một ruyện cổ Ailen, mang tên là "cái chết của Cuchumlainn có mtọ đoạn:người anh hùng xuất chinh và có nguy cơ tử trận thấy hiện lên một đoàn thiên thần và họ hát cho chàng nghe một bản nhạc của thiên đường" (892,11). Sự xuất hiện của thiên sứ cùng bài hát thiên đường tượng trưng cho lễ cầu hôn, rửa tội cuối cùng của con người trước khi lìa xa trần thế.
2. Thiên sứ trong tác phẩm cùng tên của Phạm Thị Hoài.
2.1. Hon- Thiên sứ bị chối từ.
Tiểu thuyết Thiên sứ của Phạm Thị Hoài là tác phẩm được viết nhại lại kiểu tiểu thuyết chương hồi, có kết cấu truyện lồng trong truyện và mỗi chương truyện lại có nhan đề riêng. Mỗi chương là một câu chuyện kể xoay quanh những nhân vật khác nhau. Trong đó "Thiên sứ" là chương truyện thứ 3 kể về hành trình cuộc đời của bé Hon.
Hành trình của Hon trong câu chuyện kể gắn với hành trình của một thiên sứ, bao gồm 3 giai đoạn: sự chào đời kì lạ (giáng thế), hành động kì lạ - ban phát yêu thương (cứu vớt) và ra đi kì lạ (hóa thân).
Sự chào đời kì lạ của Hon gợi đến sự giáng thế của các "tướng nhà trời" trong văn hoá phương Đông: " Bé Hon ra đời, khi mẹ tui tưởng không thể sinh nở được nữa. Một nữa không hiểu sao cả dây quần áo nhà phơi bị bỏ quên qua đêm ngoài trời. Kì lạ, chỉ riêng bộ đồ lót của mẹ đẫm sương và loang lổ viết từa tựa như chàm (…) Không lâu sau, mẹ mang thai" (tr4)1 Cách kể chuyện hướng mở cho người đọc liên tưởng đến sự hoài thai giữa con người và trời đất, thiên nhiên trong các câu chuyện cổ quen thuộc ( Thánh Gióng, Chàng Cóc…).
Sự hiện diện của nhân vật gợi nhắc đến khoảnh khắc vĩnh hằng trong tâm thức của nhân loại: chúa giáng trần. "Con bé lọt lòng, không chịu cất tiếng khóc, mà mỉm cười làm thân với đủ 13 nữ hộ sinh đứng quanh bàn đẻ. Thế là 13, lúc đầu ngơ ngác, sau bật khóc như một dàn đồng ca. mẹ tôi, hoảng hốt cực độ, bắt giọng lĩnh xướng. Họ im bặt khi bố xuất hiện, và con bé lại mỉm cười với bố, khiến ông ngã phịch xuống 1 chiếc ghế"(tr5, 1) 13 nữ y tá gợi đến hình ảnh 13 tông đồ của Chúa. Nụ cười của thiên sứ Hon có ý nghĩa như là nụ cười cứu rỗi linh hồn, ban phát tình yêu thương cho nhân loại.
Lời nói và hành động của Hon kì lạ, mang ý nghĩa cứu rỗi linh hồn. Câu nói đầu tiên và cũng là duy nhất của nhân vật là "thơm nào", thể hiện khao khát được trao gửi yêu thương. Thơm trong ý niệm của loài người là " biểu tượng của sự hợp nhất là gắn kết với nhau (tr446, 11) với tư cách là giới chỉ của sự hoà hợp, của sự qui thuận, sự tôn kính của tình yêu. Trong các lí lẽ của nữ thần Ceres nó chứng thực sự hoà hợp tâm linh của con người (t...