ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
VIỆN VIỆT NAM HỌC & KHOA HỌC PHÁT TRIỂN
======================== HÀ THỊ LOAN
KHÔNG GIAN VĂN HOÁ LÀNG TAM Á LUậN VĂN THạC Sỹ
Ngành Việt Nam học Hà Nội – 2014 ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
VIỆN VIỆT NAM HỌC & KHOA HỌC PHÁT TRIỂN
========================
của luận văn chưa từng được công bố trong bất kì công trình nghiên cứu
khoa học nào. Hà Nội, ngày 10 tháng 05 năm 2014
TÁC GIẢ Hà Thị Loan
LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành chương trình cao học và viết luận văn này, tôi nhận được sự
hướng dẫn, giúp đỡ và góp ý nhiệt tình của quý Thầy Cô ở Viện Việt Nam học và
Khoa học phát triển – Đại học Quốc gia Hà Nội.
Trước hết, tôi xin bày tỏ lòng cảm ơn tới tất cả các Thầy Cô đã giảng dạy các
chuyên đề cao học cho lớp Việt Nam học khóa 8 niên khóa 2012 – 2014, cùng toàn
thể các cán bộ, giảng viên Viện Việt Nam học và Khoa học phát triển đã tận tình
giảng dạy và giúp đỡ tôi hoàn thành khóa học thạc sỹ này trong suốt quá trình học
tập vừa qua.
Thứ hai, Tôi xin gửi lời biết ơn sâu sắc đến PGS.TS Nguyễn Thị Huế đã
: Giáo sư, Tiến sĩ
NXB
: Nhà xuất bản
TS
: Tiến sĩ
Ths
: Thạc sĩ
1
MỤC LỤC
A. MỞ ĐẦU 4
1. Lý do chọn đề tài 4
2. Lịch sử vấn đề 6
3. Mục đích nghiên cứu 10
4. Nhiệm vụ của luận văn 11
Tiểu kết chƣơng 2 61
Chƣơng 3: NHỮNG YẾU TỐ VĂN HÓA VẬT THỂ, PHI VẬT THỂ
VÀ PHƢƠNG HƢỚNG BẢO TỒN, PHÁT TRIỂN KHÔNG GIAN
VĂN HÓA LÀNG TAM Á 62
3.1. Di sản văn hóa vật thể của làng Tam Á 62
3.1.1. Lăng và tẩm thờ Sĩ Nhiếp 62
3.1.2. Đình Tam Á 68
3.1.3. Chùa Tam Á 69
3.1.4. Ẩm thực Tam Á 70
3.1.5. Nhà ở 72
3.1.6. Mặc 75
3.1.7. Đi lại và vận chuyển 77
3.2. Một số di sản văn hóa phi vật thể 77
3.2.1. Lễ hội làng Tam Á 77
3.2.2. Phong tục, tôn giáo và tín ngưỡng 82
3.2.3. Văn học dân gian làng Tam Á 90
3.2.4. Dân ca 93
3.3. Phƣơng hƣớng bảo tồn, phát triển không gian văn hóa làng Tam Á 96
Tiểu kết chƣơng 3 98
C. KẾT LUẬN 100
D. TÀI LIỆU THAM KHẢO 102
E. PHỤ LỤC 107
3
DANH MỤC BẢNG BIỂU
Bảng 2.1. Tô thuế áp dụng cho làng xã ở Bắc Hà thời Tự Đức. 35
Bảng 2.2. Bảng thống kê các hộ gia đình làm nghề phụ ở làng Tam Á 44
Bảng 2.3. Số lượng hội viên các đoàn thể chính trị xã hội của thôn Tam Á
năm 2014 50
đồng gia tộc – làng xã. Con người (hiện tại) đặt trong mối quan hệ với tổ
tiên (quá khứ) và con cháu (tương lai). Họ gắn chặt thế giới bên này với thế
giới bên kia. Đó là mạch nguồn của thuần phong mĩ tục lâu đời, đồng thời
cũng là cơ sở cho nhiều giá trị tinh thần về tình yêu quê hương đất nước,
trọng đạo nghĩa và lối sống cần cù, chịu khó, giản dị. Tinh thần sâu rễ bền
gốc ấy đã cố kết các thành viên trong gia đình, dòng họ, trong làng lại với
nhau và họ cùng nhau tự giác tôn trọng lệ làng, phép nước tạo nên sức
mạnh giúp Tam Á trụ vững, vượt qua những thử thách của thiên tai địch
hoạ và chiến tranh. Những nét văn hoá tốt đẹp này cần được nghiên cứu,
bảo tồn và phát triển.
Đặc biệt, nơi đây có đền thờ Sĩ Nhiếp - người có công rất lớn trong
việc truyền việc học vào nước ta và được nhân dân coi là vị Tiên Nho ghi
tên vào Văn Tế tiên hiền với các tôn hiệu và mỹ tự cao quý: “Sĩ Vương đem
5
thi thư đến hoá tục nước ta, đem lễ nhạc đến cảm hoá lòng người, văn hiến
của cả nước bắt đầu từ đây”. Thông qua lòng biết ơn đối với công lao của
Sĩ Vương, người dân nơi đây đã có những tín ngưỡng sinh hoạt văn hoá
phong phú như lễ hội (7/1 Âm lịch), các tục lệ liên quan đến việc thờ cúng
Ngài. Vì thế, nét văn hoá đặc sắc này cũng cần được nghiên cứu để mọi
người biết đến văn hoá của làng Tam Á nói riêng và văn hoá vùng Kinh
Bắc nói chung.
Ngày nay, Tam Á đang trên con đường phát triển kinh tế nông thôn
mới theo hướng CNH, HĐH. Diện mạo của làng quê này ngày càng thay
đổi rõ rệt. Song sự thay đổi đó không làm mất đi những giá trị văn hoá
truyền thống mà những giá trị ấy ngày càng được bảo lưu và phát triển trên
cơ sở kế thừa những giá trị văn hoá truyền thống và tiếp thu tinh hoa văn
hoá của nhân loại. Bởi thế, nghiên cứu Không gian văn hoá làng Tam Á để
thấy được xu hướng phát triển, vận động không ngừng của người dân nơi
đây đồng thời thấy được những yếu tố văn hoá truyền thống vẫn còn rõ nét
làng Việt cổ truyền ở Bắc bộ, do nhà xuất bản Khoa học Xã hội xuất bản,
tác giả nghiên cứu cơ cấu tổ chức làng xã cổ truyền ở Bắc Bộ. Ảnh hưởng
của cơ cấu đó trong sự hình thành, phát triển nền kinh tế tiểu nông nghiệp,
sự ra đời của phường hội, chế độ công điền, công thổ và sự phân hoá giai
cấp ở nông thôn Bắc Bộ Việt Nam trong lịch sử.
Năm 1992, tác giả Phan Đại Doãn cho ra đời cuốn sách Làng xã Việt
Nam - Một số vấn đề kinh tế, văn hoá, xã hội, nhà xuất bản Khoa học xã
hội. Cuốn sách này nói về kinh tế - xã hội làng Việt Nam trải qua những
thời đại lịch sử. Vấn đề ruộng đất, kinh tế tiểu nông, hàng hoá nông thôn
truyền thống. Cơ cấu xã hội học của làng. Những nét chính về văn hoá
truyền thống, tôn giáo của làng xã Việt Nam.
7
Năm 1992, các tác giả Dương Kinh Quốc, Nguyễn Cảnh Minh, Đào
Tố Uyên cho ra đời cuốn sách với nhan đề Nông dân và nông thôn Việt
Nam thời cận đại, Nhà xuất bản Khoa học xã hội. Cuốn sách nghiên cứu về
việc sử dụng đất nông nghiệp và phương thức canh tác phân bố ruộng đất,
công cuộc khẩn hoang thời cận đại Việt Nam. Một số nghề thủ công, dân
số ở vùng nông thôn Việt Nam trong thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX.
Năm 1993, các tác giả Phan Huy Lê, Từ Chi, Nguyễn Đức Nghinh
nhan đề The traditional village in Vietnam, Nhà xuất bản Thế giới. Đây là
tuyển tập các bài viết về đặc điểm văn hoá truyền thống của làng thôn Việt
Nam: Cơ cấu tổ chức chế độ ruộng đất, thị trường, quan hệ xã hội, sinh
hoạt văn hoá…
Năm 2005, hai tác giả Nhất Thanh, Vũ Văn Khiếu cho ra đời cuốn
sách với mhan đề Phong tục làng xóm Việt Nam : Đất lề quê thói, Nhà xuất
bản Phương Đông. Cuốn sách nghiên cứu đời sống văn hoá phong tục tập
quán làng xóm của người Việt Nam như: Sinh con; tục xăm mình; nhuộm
răng; đồ uống; thuốc thang; y phục
Năm 2006, cuốn sách Làng Việt Nam đa nguyên và chặt của các tác
hoá dân tộc xuất bản, cuốn sách nói về truyền thống và phong tục, làng
nghề dệt nổi tiếng Đại Mão, những trang sử cách mạng và câu đối, thơ ca,
sáng tác về quê hương.
Cũng trong năm 1997, nhà xuất bản Hội Nhà văn cho xuất bản cuốn
sách Văn hoá Luy Lâu và Kinh Dương Vương của Đặng Văn Lung, Trần
Gia Linh, Nguyễn Thị Huế. Cuốn sách nghiên cứu về văn hoá Luy Lâu và
9
Kinh Dương Vương, Họ Hồng Bàng trong lịch sử, về tổ tiên Vua Hùng và
Lạc Long Quân - Âu Cơ. Đồng thời giới thiệu những câu chuyện tham
khảo về nguồn gốc dân tộc.
Năm 1997, tác giả Trần Đình Luyện với công trình Văn hiến Kinh
Bắc, do Sở Văn hoá Thông tin Bắc Ninh xuất bản, cuốn sách giới thiệu một
số di tích lịch sử văn hoá, làng quê tiêu biểu và các danh nhân khoa bảng
của tỉnh Bắc Ninh.
Năm 1999, hai tác giả Huy Cờ và Trần Đình Luyện Danh nhân Kinh
Bắc do nhà xuất bản Văn hoá dân tộc xuất bản, cuốn sách giới thiệu về các
vị nhanh nhân nổi tiếng của xứ Kinh Bắc.
Năm 2001, Nguyễn Duy Hợp cho ra đời cuốn sách Phong thổ Mão
Điền do nhà xuất bản Văn hoá dân tộc xuất bản. Cuốn sách nói về những
nét đẹp văn hoá của Mão Điền (Bắc Ninh) qua mảnh đất, con người, truyền
thống văn hoá, phong tục tập quán làm nên bản sắc làng quê Việt Nam.
Năm 2004, Vương Xuân Tình với công trình Tập quán ăn uống của
người Việt vùng Kinh Bắc do Hội Khoa học Xã hội xuất bản. Cuốn sách nói
về tập quán ăn uống của người Việt vùng Kinh Bắc, xem xét món ăn và kỹ
thuật chế biến và nhìn nhận thế ứng xử của một cộng đồng dân cư trong ăn
uống, kể từ kiếm tìm nguồn lương thực đến đặc điểm chế biến, cung cách
thụ hưởng món ăn và vị thế con người qua ăn uống.
Năm 2007, Nguyễn Sĩ với nhan đề Quá trình công nghiệp hoá, hiện
đại hoá nông nghiệp nông thôn tỉnh Bắc Ninh từ năm 1986 đến nay: thực
- Góp phần bảo tồn, gìn giữ và phát triển những giá trị văn hoá
truyền thống trong quá trình CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn ở làng
Tam Á hiện nay.
11
- Cung cấp những thông tin, số liệu cơ bản về làng Tam Á: về dân
số, diện tích, nghề nghiệp, đặc điểm cư trú, các dòng họ, về số lượng đền
miếu, đình, chùa; về các vị thần, thành hoàng, các vị khoa bảng và danh
nhân thời cổ; về các số liệu về văn hoá giáo dục, xã hội; về quá trình hình
thành làng và xuất xứ tên gọi của làng.
4. Nhiệm vụ của luận văn
- Xác định rõ khái niệm văn hóa làng và làng văn hóa, khái niệm
không gian văn hóa và không gian văn hóa làng làm cơ sở lý luận chung
cho việc nghiên cứu đề tài.
- Khảo sát, nghiên cứu không gian văn hóa làng Tam Á thông qua
các thành tố cấu thành (trong điều kiện cho phép có thể sẽ có so sánh với
không gian văn hóa các làng phụ cận trong khu vực), chỉ ra những nét đặc
trưng của không gian văn hóa làng Tam Á.
- Đề xuất phương hướng và giải pháp nhằm phát triển và bảo tồn
không gian văn hóa làng Tam Á, hướng tới công cuộc vận động xây dựng
làng văn hóa hiện nay.
5. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
Luận văn xác định đối tượng và phạm vi nghiên cứu là làng Tam Á,
xã Gia Đông, huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh.
6. Phƣơng pháp nghiên cứu
Luận văn áp dụng một số phương pháp nghiên cứu sau đây: Phương
pháp nghiên cứu khu vực học, phương pháp điều tra, điền dã, phương pháp
phỏng vấn sâu, phương pháp tổng hợp và phân tích tư liệu,…
7. Đóng góp của đề tài
- Chỉ ra một cách hệ thống, toàn diện về không gian văn hóa làng Tam Á.
vật chất và tinh thần do con người sáng tạo ra. Theo khái niệm này, có thể
thấy văn hóa bao gồm cả vật chất và tinh thần, cả kinh tế lẫn xã hội.
Thứ hai, trong bản tuyên bố chung tại Hội nghị quốc tế ở Mêhicô do
UNESCO chủ trì họp từ 26/7 đến 6/8 năm 1982, người ta chấp nhận một
quan niệm về văn hóa như sau: "Trong ý nghĩa rộng nhất, văn hóa là tổng
thể những nét riêng biệt về tinh thần và vật chất, trí tuệ và xúc cảm quyết
định tính cách của một xã hội hay của một nhóm người trong xã hội. Văn
hóa bao gồm nghệ thuật và văn chương, những lối sống, những quyền cơ
bản của con người, những hệ thống các giá trị, những tập tục và tín
ngưỡng" [58]. Theo Tổng giám đốc UNESCO F.May-ơ (Federico Mayor
Zaagoza) cũng có quan niệm về văn hóa nêu ra trong một bài viết của ông
như sau: "Văn hóa là tổng thể sống động của các hoạt động sáng tạo trong
quá khứ và trong hiện tại. Qua các thế kỷ, hoạt động sáng tạo ấy đã hình
thành nên một hệ thống các giá trị, các truyền thống và thị hiếu - những
yếu tố xác định đặc tính riêng của mỗi dân tộc" [7].
14
Thứ ba, ở Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh có quan niệm về văn
hóa như sau: "Vì lẽ sinh tồn cũng như mục đích của cuộc sống, loài người
mới sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa
học, tôn giáo, văn học, nghệ thuật, những công cụ cho sinh hoạt hàng ngày
về mặc, ăn, ở và các phương thức sử dụng - Toàn bộ những sáng tạo và
phát minh đó tức là văn hóa" [32; tr. 431]
Dưới góc độ tiếp cận xem lao động sáng tạo là cội nguồn, khởi điểm
của văn hóa hướng về các giá trị nhân bản nhằm hoàn thiện con người, nhà
nghiên cứu Hoàng Vinh đã có quan niệm xác đáng rằng: "Văn hóa là toàn
bộ sáng tạo của con người, tích lũy lại trong quá trình hoạt động thực tiễn
xã hội, được đúc kết thành hệ giá trị và chuẩn mực xã hội, biểu hiện thông
qua vốn di sản văn hóa và hệ ứng xử văn hóa của cộng đồng người. Hệ giá
trị xã hội là một thành tố cốt lõi làm nên bản sắc riêng của một cộng đồng
đồng thời hình thành trong họ ý thức về bản sắc và sự kế tục, qua đó khích
lệ thêm sự tôn trọng đối với đa dạng văn hóa và tính sáng tạo của con
người ”. [61; tr.3]. Theo khái niệm này ta có thể hiểu văn hóa phi vật thể là
sự gắn bó chặt chẽ về đời sống tinh thần trong mỗi cộng đồng. Nó được lưu
truyền, tái tạo để tạo nên bản sắc của mỗi cộng đồng và sự đa dạng văn hóa
trên thế giới.
Chúng ta tiếp thu quan điểm văn hóa phi vật thể của UNESSCO, tại
Điều 1 của Luật di sản văn hóa năm 2001 (sửa đổi, bổ sung năm 2009): “Di
sản văn hóa phi vật thể là sản phẩm tinh thần gắn với mỗi cộng đồng hoặc
cá nhân, vật thể và không gian văn hóa liên quan, có giá trị lịch sử, văn
hóa, khoa học, thể hiện sâu sắc của cộng đồng, không ngừng được tái tạo
và được lưu truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác bằng truyền miệng,
truyền nghề, diễn trình và các hình thức khác” [44; tr.18]. Ở khái niệm này
16
không liệt kê các hình thức của di sản văn hóa phi vật thể nhưng đến Nghị
định số 98/2010/NĐ-CP của Chính phủ ban hành ngày 21/9/2010 quy định
chi tiết một số điều của Luật đã được sửa đổi và bổ sung, cụ thể hóa các hình
thức biểu hiện của di sản văn hóa phi vật thể: Tiếng nói chữ viết; Ngữ văn dân
gian; Nghệ thuật trình diễn dân gian; Tập quán xã hội và tín ngưỡng; Lễ hội
truyền thống; Nghề thủ công truyền thống; tri thức dân gian.
1.1.3. Khái niệm không gian văn hóa
Theo quan điểm của GS.TS. Ngô Đức Thịnh, không gian văn hóa
được hiểu theo hai nghĩa: Cụ thể và trừu tượng.
Theo nghĩa cụ thể: “Không gian văn hóa là không gian địa lý xác
định, mà ở đó một hiện tượng hay một tổ hợp hiện tượng văn hóa nảy sinh,
tồn tại, biến đổi và chúng liên kết với nhau như một hệ thống. Trong đời
sống xã hội của con người, ít khi một hiện tượng văn hóa nảy sinh, tồn tại
và biến đổi một cách độc lập, mà chúng thường liên kết với nhau thành
những tổ hợp. Có thể hiểu tổ hợp văn hóa như một hệ thống lớn nhỏ khác
Theo GS. Phan Đại Doãn: “Làng là một cộng đồng dân cư tự nhiên
được tập hợp theo quan hệ huyết thống, quan hệ địa vực, quan hệ nghề
nghiệp…” [10; tr 18-19.]
Theo Bùi Xuân Đính: “Làng là đơn vị tụ cư truyền thống của người
nông dân Việt, có địa vực riêng, cơ cấu tổ chức, cơ sở hạ tầng, các tục lệ
(về cheo cưới, tang ma, khao vọng) thờ cúng riêng, tâm lý tính cách riêng
và cả “thổ ngữ” (tiếng làng) riêng, hoàn chỉnh và tương đối ổn định trong
quá trình lịch sử” [14; tr. 97].
Theo Từ điển văn hóa cổ truyền Việt Nam, làng là tiếng cổ của Việt
Nam dùng để chỉ đơn vị tụ cư của người Việt có từ lâu đời. Xã là từ Hán -
Việt dùng để chỉ đơn vị hành chính thấp nhất ở nông thôn Việt Nam [36; tr.
18
368-706]. Xã của người Việt có thể bao gồm từ một đến vài làng. Trong
trường hợp xã là một làng thì phần lớn tên xã trùng với tên làng. Trong
trường hợp xã bao gồm nhiều làng thì trong ngôn ngữ hành chính làng
được gọi là thôn. Trong ngôn ngữ dân gian và trong cuộc sống đời thường
từ làng được sử dụng phổ biến hơn cả với nhiều hàm nghĩa tình cảm, phi
hành chính "làng ta", "làng mình", "người làng", "sống ở làng, sang ở
nước", "một miếng giữa làng” Vì làng có nguồn gốc bản địa sâu xa và
bền vững nên trong lịch sử, xã có thể bị thu hẹp hay phình to ra tùy theo
các quyết định hành chính, nhưng làng là đơn vị khá ổn định không dễ thay
đổi. Bởi vì, theo nhà nghiên cứu Hà Văn Tấn: "Làng là một đơn vị cộng cư
có một vùng đất chung của cư dân nông nghiệp, một hình thức tổ chức xã
hội nông nghiệp tiểu nông tự cấp tự túc, mặt khác là mẫu hình xã hội phù
hợp, là cơ chế thích ứng với sản xuất tiểu nông, với gia đình - tông tộc gia
trưởng, đảm bảo sự cân bằng và bền vững của xã hội nông nghiệp ấy. Làng
được hình thành, được tổ chức chủ yếu dựa vào hai nguyên lý cội nguồn và
cùng chỗ. Một mặt, làng có sức sống mãnh liệt; mặt khác, xét về cấu trúc,
làng là một cấu trúc động, không có bất biến. Sự biến đổi của làng là do sự
làng văn hóa là:
"Một làng (thôn, bản, ấp) được công nhận là làng văn hóa cần phải
phấn đấu thực hiện các tiêu chuẩn sau:
a) Có đời sống kinh tế ổn định và từng bước phát triển.
b) Có đời sống tinh thần lành mạnh, phong phú.
c) Có môi trường cảnh quan sạch đẹp.
d) Thực hiện tốt pháp luật và các chủ trương, chính sách của Đảng
và Nhà nước" [18; tr. 66].
20
1.1.3.2. Văn hóa làng
Văn hóa làng, hàm chứa nhiều nội dung rất phong phú và đa dạng,
tạo nên bức tranh đa sắc của văn hóa dân tộc. Có thể coi văn hóa dân tộc Việt
Nam là một đại lượng lớn được tạo nên bởi văn hóa làng - những đại lượng
nhỏ. "Văn hóa làng xã Việt Nam có vị trí quan trọng trong diễn trình lịch
sử phát triển của văn hóa dân tộc. Nó luôn luôn bảo tồn, giữ gìn bản sắc
văn hóa dân tộc, nuôi dưỡng sức sống trường tồn của văn hóa dân tộc"
[15; tr. 7].
Văn hóa làng Việt Nam qua hàng ngàn năm phát triển với các bản
sắc có giá trị thực sự là một nền văn hóa của nhân dân và trở thành bộ phận
ổn định nhất của văn hóa dân tộc.
Vậy, văn hóa làng là gì? Theo nhà nghiên cứu Hoàng Anh Nhân
trong công trình Văn hóa làng và làng văn hóa thì "Văn hóa làng có thể
hiểu một cách khái quát nhất là bản sắc riêng của làng, là toàn bộ cuộc
sống của làng với những đặc điểm mang tính truyền thống từ ăn, ở, đi lại,
mọi hoạt động, cách tổ chức, những quy ước, lối ứng xử, những phong tục,
tập quán, tôn giáo, tín ngưỡng cho đến cả tâm lý của mọi thành viên trong
làng với những đặc trưng riêng của nó" [41; tr. 16].
Xét tổng thể ở nước ta không có sự đối lập văn hóa giữa làng với
làng, giữa làng với nước. Mặc dù, giữa làng này với làng khác có nhiều nét