Không gian văn hóa làng Vạn Phúc - Pdf 25



1
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
VIỆN VIỆT NAM HỌC VÀ KHOA HỌC PHÁT TRIỂN

BÙI THỊ HƯƠNG
KHÔNG GIAN VĂN HÓA
LÀNG VẠN PHÚC LUẬN VĂN THẠC SĨ
Chuyªn ngµnh: ViÖt Nam häc
Hµ Néi - 2012ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS. Lâm Thị Mỹ Dung
Hà Nội-2012
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 3
CHƯƠNG 1. QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH KHÔNG GIAN VĂN HÓA LÀNG VẠN
PHÚC 13
1.1 . Một số vấn đề về không gian văn hóa làng: Khái niệm, nội dung và tiêu chí
xác định 10 13
1.2. Yếu tố địa lý, sinh thái tự nhiên và sinh thái nhân văn cấu thành không gian văn
hóa làng Vạn Phúc 13
1.3 Điều kiện lịch sử 18
1.4 Điều kiện xã hội 21
CHƯƠNG 2: KHÔNG GIAN VĂN HÓA LÀNG VẠN PHÚC
NHỮNG ĐẶC TRƯNG CHÍNH 28
2.1 Khía cạnh vật thể của không gian văn hóa 28
2.1.1 Tổ chức không gian sống 28
2.2 Khía cạnh phi vật thể của không gian văn hóa 66
2.2.1 Phong tục tập quán 66
2.2.2. Lễ thức cá nhân 67
2.2.3 Lễ thức cộng đồng 73

gian văn hóa Thăng Long – Hà Nội. 4
Về kinh tế, Vạn Phúc cũng là dạng làng đặc biệt – làng nghề thủ công
thăng trầm cùng đất nước.
Nền kinh tế công nghệp hóa – hiện đại hóa và quá trình đô thị hóa đã
khiến cho không gian văn hóa làng Vạn Phúc biến đổi nhanh chóng, nhiều
yếu tố vật thể và phi vật thể bị mai một đi trước khi chúng ta kịp ghi nhận và
nghiên cứu.
Trước sự chuyển mình của nền kinh tế xã hội, việc nghiên cứu, tìm hiểu
về không gian văn hóa làng Vạn Phúc là một yêu cầu cấp thiết vừa đáp ứng cả
về khoa học, cả về thực tế.
2. Ý nghĩa khoa học và tính thực tiễn
- Việc bảo tồn, tôn tạo và phát huy giá trị văn hóa làng như một
không gian hoàn chỉnh đòi hỏi phải có sự nghiên cứu toàn diện. Nghiên cứu
không gian văn hóa làng sẽ góp phần tìm hiểu những đặc trưng văn hóa của
làng, hiện diện lên bức tranh văn hóa của làng là một nhu cầu thiết yếu.
- Việc nghiên cứu làng ngày càng nhiều, cộng với nhu cầu thăm quan,
du lịch, mua sắm sản phẩm lụa ngày càng tăng. Vấn đề đặt ra là làm thế nào
để có những giải pháp phát triển bền vững cho địa phương; đây là một đòi hỏi
cần giải quyết.
- Ngày nay trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa và đô thị
hóa đang diễn ra mạnh mẽ. Những yếu tố truyền thống đang bị tác động và
mai một từng ngày. Việc nghiên cứu về làng Vạn Phúc đòi hỏi phải khẩn
trương. Đây là tính khoa học và thực tiễn của đề tài.
3. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
* Về không gian văn hóa nói chung:
Nghiên cứu vùng văn hóa là một hướng nghiên cứu vừa truyền thống,
vừa hiện đại.
6
sử hình thành và phát triển làng Keo và nghiên cứu không gian văn hóa làng
dưới các góc độ đời sống kinh tế xã hội và sinh hoạt văn hóa.
PGS Nguyễn Hải Kế với công trình “Một làng Việt cổ truyền ở Đồng
Bằng Bắc Bộ” đã tiếp cận nghiên cứu làng Dục Tú, Hà Nội bằng phương
pháp định lượng và phương pháp so sánh hệ thống trong một khung thời gian
nhất định đã phát hiện ra nhiều vấn đề về sở hữu ruộng đất, kết cấu kinh tế, tổ
chức dân cư, về văn hóa tín ngưỡng…
Qua nghiên cứu những tác phẩm trên, chúng tôi đã kế thừa phương
pháp nghiên cứu văn hóa của một làng, một vùng, một xứ thông qua các đặc
trưng văn hóa và nghiên cứu văn hóa dưới cái nhìn địa – lịch sử.
* Về không gian văn hóa làng Vạn Phúc:
Các công trình nghiên cứu về làng Vạn Phúc dưới các khía cạnh:
Nghiên cứu về lịch sử đấu tranh cách mạng của làng Vạn Phúc: Hai
cuốn “Lịch sử đấu tranh cách mạng của Đảng bộ và nhân dân Vạn Phúc” (tập
1 và 2), ghi lại lịch sử đấu tranh cách mạng của địa phương trong giai đoạn
1939 – 1954. Báo Hà Sơn Bình ngày 20-6-1987 có bài viết “Vạn Phúc an toàn
khu của cơ quan báo Đảng” viết về Vạn Phúc – cơ sở cách mạng, an toàn khu
của báo Đảng trong thời kỳ kháng chiến. Bài viết của các tác giả Anh Đức,
Minh Tâm: “Vạn Phúc – ATK – làng du lịch” giới thiệu làng Vạn Phúc trong
những ngày kháng chiến chống Pháp và những tiềm năng của làng lụa để phát
triển du lịch. Bài viết của tác giả Nguyễn Kiên in trên báo Sài Gòn giải phóng
ngày 2/9/1985: “Những ngày thu cách mạng ở làng dệt lụa Vạn Phúc” là
những hồi ức về không khí tổng khởi nghĩa mùa thu năm 1945 tại Vạn Phúc.
Ngoài ra địa phương còn sưu tầm và xuất bản cuốn “Vạn Phúc xưa và
nay” năm 2001, sách là những bài viết, trang thơ, hồi ký, dòng bút tích…viết
về tổng thể các vấn đề của làng Vạn Phúc: chính trị, văn hóa, lịch sử đấu

8
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: tập hợp những yếu tố địa lý, sinh thái nhân
văn, lịch sử, con người – tạo thành không gian văn hóa và những yếu tố tác
động tới biến đổi không gian văn hóa.
- Phạm vi nghiên cứu: Không gian văn hóa làng Vạn Phúc – quá trình
hình thành và biến đổi. Luận văn nghiên cứu trong phạm vi làng Vạn Phúc
trước khi sát nhập thêm các khối dân cư: khối 6, khối 7, khối 8, khối 9 và khối
10, thuộc phường Yết Kiêu trước đây.
5. Mục đích nghiên cứu và phương pháp nghiên cứu
a. Mục đích nghiên cứu
- Nghiên cứu không gian văn hóa làng để thấy được những nét đặc
trưng văn hóa trên không gian sinh tồn mà từ bao đời nay, các thế hệ người
Vạn Phúc luôn sống kế tiếp nhau.
- Nghiên cứu những nét đặc trưng văn hóa truyền thống, yếu tố đổi
mới, biến đổi văn hóa của làng Vạn Phúc. Qua đó, có những giải pháp nhằm
bảo tồn, phát huy những giá trị truyền thống tốt đẹp.
- Xác định được tổ hợp các yếu tố vật thể và phi vật thể tạo thành
không gian văn hóa làng Vạn Phúc. Ngoài ra, luận văn còn cố gắng hoạch
định phạm vi vật thể và phi vật thể của không gian văn hóa làng Vạn Phúc.
b. Phương pháp nghiên cứu
Trong quá trình tiến hành nghiên cứu bước đầu để thu thập tài liệu,
phương pháp sử dụng là phương pháp điền dã, phỏng vấn, điều tra xã hội học.
Để tiến hành nghiên cứu, phương pháp khu vực học được sử dụng –
một phương pháp nghiên cứu mới đang được sử dụng rộng rãi. Phương pháp
khu vực học được áp dụng đó là lấy không gian xã hội, văn hóa, bao gồm các
lĩnh vực hoạt động của con người và quan hệ tương tác giữa con người và
điều kiện tự nhiên làm đối tượng để nghiên cứu.

- Từ góc độ lịch sử: văn hóa được hiểu là sự trao truyền, kế thừa văn
hóa giữa các thế hệ.
- Từ góc độ giá trị chuẩn mực: văn hóa chính là lối sống, là giá trị của
một cộng đồng người.
- Từ góc độ nhân học: Văn hóa là sản phẩm hoạt động tinh thần của con
người, phân biệt người với động vật…
Văn hóa theo định nghĩa của GS. Viện Sĩ Trần Ngọc Thêm: “Văn hóa
là một hệ thống hữu cơ các giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo
và tích lũy qua quá trình hoạt động thực tiễn, trong sự tương tác của con
người với môi trường tự nhiên và xã hội”.
Xung quanh khái niệm văn hóa còn có khái niệm văn hóa vật thể và
văn hóa phi vật thể hay còn gọi là văn hóa vật chất và văn hóa tinh thần. Theo
sách Culturologia
1
của G.V. Drach thì văn hóa tinh thần “thuộc về văn hóa
tinh thần có hệ tư tưởng, khoa học, đạo đức, giao tiếp tinh thần, sáng tạo
nghệ thuật và tôn giáo”[tr 124 - 125] và “văn hóa tinh thần là hoạt động
hướng đến sự phát triển tinh thần của con người và xã hội, sáng tạo tư tưởng,
tri thức, các giá trị tinh thần – các kiểu ý thức xã hội” [tr 180]. Văn hóa vật
chất, ông cũng cho rằng: “Công cụ lao động, phương tiện sản xuất, quần áo,
đời sống, nhà ở, phương tiện giao thông – tất cả những gì được gọi là phương

1
G.V. Drach, 2003, Văn hóa học, tr 120 - 124 11
tiện nhân tạo để cư trú của con người và là quá trình và kết quả của hoạt động
vật chất của con người”[tr 120].
Như vậy, văn hóa vật thể là một bộ phận của văn hóa thể hiện đời sống

Theo ý nghĩa trừu tượng, có thể hiểu không gian văn hóa như một
“trường”, để chỉ một hiện tượng hay một tổ hợp các hiện tượng (một nền văn
hóa của tộc người, quốc gia hay khu vực) có khả năng tiếp nhận và lan tỏa
(ảnh hưởng), tạo cho nền văn hóa đó một không gian (trường) văn hóa rộng
hẹp khác nhau.
Để xác định không gian văn hóa của một làng, một địa phương, một
vùng cụ thể, ta phải xét các yếu tố đặc trưng liên quan. Đó là các yếu tố:
- Tính trội văn hóa: Dân gian Việt Nam luôn có cảm nhận về tính
trội trong tính cách con người, trong các sản vật thiên nhiên, trong nếp sống
văn hóa giữa làng này với làng kia, vùng kia tạo nên những đặc trưng văn hóa
riêng của một địa phương đó.
3
- Về tên gọi “xứ”: là một vùng đất có những tương đồng nhất định
phương diện phong thổ, khí hậu, dân cư và sinh hoạt văn hóa
4
. Mỗi xứ có
những nét văn hóa tiêu biểu.
- Vùng văn hóa: là một vùng lãnh thổ có những tương đồng về mặt
hoàn cảnh tự nhiên, dân cư sinh sống ở đó từ lâu đã có những mối quan hệ
nguồn gốc và lịch sử, có những tương đồng về trình độ phát triển kinh tế - xã
hội, giữa họ đã diễn ra những giao lưu, ảnh hưởng văn hóa qua lại, nên trong
vùng đã hình thành những đặc trưng chung, thể hiện trong văn hóa vật chất và
văn hóa tinh thần của cư dân, có thể phân biệt với vùng văn hóa khác.
5

2
Ngô Đức Thịnh (2005), Văn hóa vùng và phân vùng văn hóa ở Việt Nam, Nhà xuất bản
Trẻ, Tr 6
3


những kinh nghiệm sống hình thành qua lịch sử của các cộng đồng.
Làng, có thể nói là cộng đồng văn hóa rất riêng, nhưng cũng rất chung
trong khuôn khổ của lề thói theo phương thức sản xuất châu Á. Cái riêng của
từng làng thì thể hiện tương đối rõ ở từng tập tục riêng, lễ hội riêng, cách thức
ứng xử riêng. Nhưng từng cái riêng ấy lại đều có một "mẫu số chung" làm
nên khuôn thước văn hóa làng.
1.2. Yếu tố địa lý, sinh thái tự nhiên và sinh thái nhân văn cấu
thành không gian văn hóa làng Vạn Phúc
Vạn Phúc có vị trí địa lý thuận lợi cho việc giao lưu thương mại, phát
triển kinh tế khi nằm tiếp giáp với quốc lộ 6 - cửa ngõ trực tiếp nối quận Hà
Đông với thủ đô Hà Nội và có tuyến đường tỉnh ĐT 430 (TL 72 cũ) chạy qua. 14
Với vị trí thuận lợi như vậy, Vạn Phúc có nhiều điều kiện thuận lợi để phát
triển ngành thủ công truyền thống.
Về đặc điểm địa hình, Vạn Phúc nằm ở trung tâm của đồng bằng Bắc
Bộ nên địa hình ở đây mang đặc điểm của địa hình vùng đồng bằng: địa hình
tương đối bằng phẳng, thấp dần từ Đông sang Tây và từ Bắc xuống Nam. Địa
hình của làng được chia thành hai vùng: Vùng cao gồm các khu dân cư và các
cánh đồng Mân, Sen, Bồ Các, Tháp I, Tháp II và Dộc Chuôm. Vùng thấp gồm
cánh đồng Bún và cánh đồng Bồ nằm ở phía Tây Nam của làng.
Về thủy văn, làng giáp sông Nhuệ và sông đào La Khê nên việc tưới
nước cho đồng ruộng do hai con sông này cung cấp. Sông ngòi là đường giao
thông quan trọng để Vạn Phúc luân chuyển hàng hóa, phát triển nghề dệt cổ
truyền. Làng nằm bên bờ sông Nhuệ do đó chịu ảnh hưởng trực tiếp từ chế độ
thủy văn của dòng sông này.
Bảng 1.1: Mực nước lớn nhất trên sông Nhuệ (qua Hà Đông)
Năm
1978 1983 1984 1985 1994

17,1 20,1 23,7 27,1

28,6

28,8 28,2

27,1

21,6 21,1 17,6 23,1
Độ ẩm (%) 83 85,0 87,0 87,0 84,0

83,0

83,0 85,0

83,0

83,0 81,0 81,0 83,8
Ba Vì
Nhiệt độ (
0
C) 14,5

17,1 19,9 23,6 27,0

28,6

28,6 28,0

26,9


84,0

82,0 86,0

85,0

84,0 81,0 80,8 84,6
Hà Nội
Nhiệt độ (
0
C) 16,4

17,0 20,2 23,7 27,3

28,8

28,9 28,2

27,2

24,6 21,4 18,2 23,5
Độ ẩm (%) 83,0

85,0 87,0 87,0 84,0

84,0

84,0 86,0


17

Bảng 1.3: Hiện trạng dân số Vạn Phúc
Stt

Chỉ tiêu
Đv
tính
Năm
2001

2002

2003

2004

2005

2006

2007

2009 2010 2011
1 Dân số trung bình Người

5.579

5.613


195
157
2.2
Tăng cơ học
Người
42
1
32
36
14
46
5
77
26
18
3
Tỷ lệ gia tăng
%
2,42
1,14
2,87
1,47
1,51
1,81
1,42
2,73
2,12
1,65
3.1


1330

1350

1400

1460 1505 1560
4.3

Dân số trong độ tuổi lao động Người

1.903

1.905

1.908

3.495

3.488

3.557

3.590

3683 3704 3714
4.4

Tổng số cặp kết hôn cặp 70 70 79 112 132 130 100 115 123 118
4.5

người
/ km2

3.874

3.910

3.944

6.548

6.649

6.771

6.868

6.967 7.102 7.189

Nguồn: UBND phường Vạn Phúc 18
Như vậy, Vạn Phúc có nguồn nhân lực khá dồi dào là điều kiện thuận
lợi để phát triển kinh tế xã hội, song nó cũng là một sức ép đáng kể lên địa
phương trong việc bố trí việc làm đáp ứng nhu cầu việc làm trong tương lai.
Tính cách con người: Là một xã ở gần tỉnh lỵ lại giao lưu trao đổi hàng
hóa với nhiều nơi, nhân dân Vạn Phúc có điều kiện tiếp thu và xây dựng cho
mình những nét hay nét đẹp trong cốt cách con người. Mặt khác, địa phương
có lịch sử lập cư gồm những người khảng khái không chịu khuất phục cường

thế kỷ XVII, XVIII, XIX bên cạnh các làng thủ công nghiệp chuyên nghiệp
đã có từ trước, xuất hiện thêm ngày một nhiều các làng, phường thủ công
nghiệp trong đó có Vạn Phúc.
7Từ lúc mới hình thành, làng Vạn Phúc là một làng nông nghiệp kết hợp
với nghề trồng dâu nuôi tằm, dệt lụa, văn hóa làng có đặc trưng là văn hóa
nông nghiệp. Thời kỳ phát đạt của nghề dệt là những năm 1930 – 1940, sau
khi sản phẩm của làng mang dự hội chợ Mác -xây được chính phủ Pháp tặng
huy chương bội tinh và một số người được tặng chức danh Bá hộ, nghề dệt
thịnh đạt, buôn bán phát triển, văn hóa làng là sự kết hợp văn hóa nông
nghiệp với văn hóa thương mại.
Tính chất của không gian văn hóa làng Vạn Phúc: Không gian văn hóa
làng mang đậm yếu tố của văn hóa làng nghề. Không gian văn hóa làng Vạn
Phúc mang tính chất mở, luôn tiếp thu, học hỏi những yếu tố, nền văn hóa tiên
tiến ở trong và ngoài nước một cách có sàng lọc. Không gian văn hóa làng
Vạn Phúc so với không gian văn hóa của những làng nghề lân cận như La Cả,
La Phù…mang những đặc trưng chung của làng nghề Bắc Bộ, đó là: 1. Các
làng nghề tồn tại ở nông thôn, gắn bó chặt chẽ với nông nghiệp; 2. Công nghệ
kỹ thuật sản xuất sản phẩm trong các làng nghề truyền thống thường là thô sơ,
sử dụng kỹ thuật thủ công là chủ yếu, ngày nay do việc áp dụng công nghệ kỹ
thuật vào sản xuất, máy móc đã thay thế bàn tay thủ công của con người. 3.
Phương pháp dạy nghề chủ yếu được thực hiện theo phương thức truyền

7

Nguyễn Quang Ngọc: Một số vấn đề làng xã Việt Nam, NXB Đại học quốc gia Hà Nội,
2009, tr 112.



21
sức ủng hộ phong trào. Nghĩa cử ủng hộ phong trào Tây Sơn ấy của dân làng
gây mối phản cảm đối với triều đình Nguyễn nên không có sắc phong.
1.4 Điều kiện xã hội
a) Phân tầng xã hội
Nền sản xuất tiểu thủ công nghiệp và quỹ ruộng đất của làng Vạn Phúc
có ảnh hưởng nhất định đến phân tầng xã hội trong làng. Do ruộng đất ít,
nghề dệt lại phát triển mạnh, nên ở Vạn Phúc không có địa chủ. Đây là nét
khác biệt giữa làng Vạn Phúc với các làng dệt khác trong khu vực, ví dụ làng
Kiến Hưng thời kỳ này có 11 địa chủ. Trong làng có 16 hộ tiểu chủ là khá giả
nhất làng, mỗi nhà có từ 4 đến 5 mẫu ruộng, có 5 – 6 khung dệt và thuê mướn
khoảng chục thợ làm việc. Là một làng dệt thủ công truyền thống nên tầng lớp
đông đảo nhất trong làng là thợ thủ công. Đây là lực lượng sản xuất chính của
làng, chiếm tới 85% số dân, chi phối hầu hết các mối quan hệ trong làng.
Ngoài các tầng lớp trên, Vạn Phúc còn có một số ít quan lại nặng đầu
óc phong kiến, thủ cựu. Tuy nhiên số này đã về hưu, kinh tế không thuộc loại
giàu có, không duy trì được uy thế chính trị.
Như vậy, trong cơ cấu tầng lớp xã hội ở làng Vạn Phúc thì tầng lớp thợ
thủ công là đông đảo nhất. Quan niệm về thứ bậc trong xã hội ở làng Vạn
Phúc trước 1945 có sự khác biệt so với những làng nông nghiệp khác ở đồng
bằng Bắc Bộ. Các làng nông nghiệp thì vai trò của hai tầng lớp sĩ và nông
được đề cao. Nhưng ở làng Vạn Phúc, có uy tín trong làng lại là những gia
đình Bá Hộ
8
, gia đình buôn bán lớn (tầng lớp tiểu chủ). Thứ bậc “Sĩ, nông,
công thương” trong quan niệm truyền thống chi phối quan hệ làng xã hàng
ngàn năm bị phá vỡ. Tầng lớp công thương được đề cao. Những người giàu
có không chỉ tính bằng số lượng ruộng đất, thóc gạo hay trâu bò mà tính bằng


phối hầu hết các mối quan hệ trong làng. Những gia đình làm nghề dệt tập
hợp nhau lại thành một tổ chức gọi là Phường cửi. 23
Tổ chức phường cửi ra đời là do sự cần thiết phải liên hiệp và giúp đỡ
lẫn nhau giữa những người sản xuất cá thể. Tổ chức phường dệt còn bảo vệ
nghề nghiệp chuyên môn của làng, tạo những điều kiện thuận lợi cho người
lao động trong tổ chức phường dệt, bằng cách cạnh tranh với bên ngoài, giúp
đỡ bạn nghề khi gặp khó khăn.
Phường dệt của làng Vạn Phúc có những luật lệ như sau:
- Thành viên của phường cửi phải là những người dệt giỏi (thường là
ông chủ nhà hoặc con trai cả có tuổi từ 35 – 40 tuổi trở lên).
- Tôn trọng và kính nể những người tài giỏi, nhất là những người được
phong chức Bá hộ.
- Đoàn kết tương trợ lẫn nhau những lúc gặp khó khăn.
- Tuyệt đối giữ bí mật nghề nghiệp không tiết lộ cho các làng khác.
Vấn đề giữ bí mật còn được quy định cụ thể như sau:
- Con gái chỉ được truyền bí quyết nghề nghiệp khi lấy chồng làng.
- Nếu con gái lấy chồng, nhất quyết không được truyền bí quyết nghề.
Nếu họ muốn làm nghề để sinh sống phải quay về làng làm cùng với gia đình.
- Nếu một trong những thành viên của phường cửi để lộ bí mật nghề
nghiệp ra bên ngoài thì sẽ bị đuổi ra khỏi làng và không bao giờ được sản
xuất những mặt hàng do phường cửi quy định.
- Không được dựng máy dệt để bán cho người làng khác.
Bên cạnh đó, phường cửi còn quy định những gia đình nào làm nghề
dệt mà chưa phải là hội viên của phường thì không được đem hàng đi bán mà
phải nhờ hội viên của phường cửi đi bán hộ. Đây là một hình thức kiểm tra
ban đầu; hàng làm ra không đẹp thì không ai bán hộ cho, việc làm này nhằm
giữ uy tín cho làng nghề. Như vậy, ngoài chức năng quản lý, phường dệt còn

giáp. Họ Nguyễn lớn nhất có 3 giáp.

Trích đoạn Lễ thức cá nhân Phương hướng bảo tồn giá trị
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status