B GIO DC V O TO
TRNG I HC VINH
NGUYN TRNG TRNG
lịch sử - văn hóa dòng họ nguyễn trọng
(xã nam trung, huyện nam đàn, tỉnh nghệ an)
từ thế kỷ xv đến 2014
LUN VN THC S KHOA HC LCH S
NGH AN - 2015
B GIO DC V O TO
TRNG I HC VINH
NGUYN TRNG TRNG
lịch sử - văn hóa dòng họ nguyễn trọng
(xã nam trung, huyện nam đàn, tỉnh nghệ an)
từ thế kỷ xv đến 2014
Chuyờn ngnh: Lch s Vit Nam
Mó s: 60.22.03.13
LUN VN THC S KHOA HC LCH S
Ngi hng dn khoa hc:
TS. NG NH THNG
4.Nguồn tài liệu và phương pháp nghiên cứu............................................10
5.Đóng góp của luận văn............................................................................12
6.Bố cục của luận văn................................................................................12
NỘI DUNG................................................................................................13
CHƯƠNG 1 NGUỒN GỐC VÀ LỊCH SỬ PHÁT TRIỂN CỦA DÒNG
HỌ NGUYỄN TRỌNG Ở XÃ NAM TRUNG, HUYỆN NAM ĐÀN, TỈNH
NGHỆ AN TỪ THẾ KỶ XV ĐẾN 2014........................................................13
1.1.Vài nét về quê hương dòng họ Nguyễn Trọng................................13
1.1.3.Những dòng họ tiêu biểu ở Nam Trung..............................27
1.2. Sự phát triển của dòng họ Nguyễn Trọng (thế kỷ XV đến năm
2014)................................................................................................................32
1.2.1. Nguồn gốc dòng họ...............................................................32
1.2.2. Sự phát triển của dòng họ Nguyễn Trọng..........................33
CHƯƠNG 2 VĂN HÓA DÒNG HỌ NGUYỄN TRỌNG Ở XÃ NAM
TRUNG, HUYỆN NAM ĐÀN, TỈNH NGHỆ AN.........................................43
2.1. Gia phong dòng họ Nguyễn Trọng.................................................43
2.2. Truyền thống hiếu học, khoa bảng.................................................51
2.3. Truyền thống trung quân ái quốc...................................................54
2.4.Các nghề truyền thống....................................................................57
2.5. Di sản văn hóa................................................................................59
2.5.1. Đình làng...............................................................................59
5
2.5.2. Nhà thờ Đại tôn họ Nguyễn Trọng [76]..............................67
2.5.3. Sự nghiệp trước tác của dòng họ Nguyễn Trọng..............70
CHƯƠNG 3 NHỮNG NHÂN VẬT TIÊU BIỂU CỦA DÒNG HỌ
NGUYỄN TRỌNG TRONG LỊCH SỬ DÂN TỘC.......................................76
3.1. Nguyễn Trọng Thường...................................................................76
3.2. Nguyễn Trọng Đang.......................................................................80
chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, tín ngưỡng đã trở thành những danh gia
vọng tộc lưu truyền hậu thế. Nhiều dòng họ trong bách tính, tuy ở chốn hương
thôn nhưng công đức tiên tổ, huyết mạch cội nguồn, tinh thần con cháu rất
được coi trọng. Sự phát triển của các dòng họ Việt Nam gắn liền với sự thịnh
suy của đất nước: Đất nước nô lệ - dòng họ lầm than; đất nước độc lập - dòng
họ mở mang phát triển; đất nước phục hưng - dòng họ rực rỡ.
Cách mạng tháng Tám năm 1945 thành công, chế độ phong kiến sụp đổ,
các dòng họ Việt Nam bước sang lối rẽ trên con đường đi lên xã hội chủ nghĩa,
thực hiện chính sách của Đảng và Nhà nước, nêu cao tính cộng đồng, tinh thần
tự quản, luôn đoàn kết phát huy truyền thống, ra sức giữ gìn, thực hiện giấy
rách giữ lấy lề, gạn đục khơi trong, xây dựng gia đình, dòng họ phồn vinh tốt
đẹp. Lịch sử dân tộc đã chứng minh rằng: Nhà nước và giai cấp có thể bị diệt
vong nhưng dòng họ thì vẫn trường tồn, văn hóa dòng họ ngày càng thêm rực
rỡ. Chính vì vậy, việc nghiên cứu lịch sử, văn hóa dòng họ có ý nghĩa hết sức
quan trọng trong việc giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc.
Đất Nghệ An trong lịch sử từng được xem là vùng đất khoa bảng với
truyền thống hiếu học và chuộng lễ nghĩa. Đặc biệt, người dân Hoan Châu từ
xưa vốn là những người chất phác, cần cù, cương trực nên thường rất khẳng
khái và có ý thức giữ gìn những vấn đề mang tính truyền thống. Xã Nam
Trung, huyện Nam Đàn ngày nay bao gồm ba làng Dương Liễu, Trung Cần,
Đông Châu xưa, vốn là nơi trù mật, phong cảnh thanh nhàn, nhân dân giàu
sang thịnh vượng, trước có dòng Lam trong mát, sau tựa dãy Thiên Nhẫn, ứng
với câu ca “nhất cận thủy, nhị cận sơn”, được coi là nơi đất lành chim đậu,
đất văn hiến lâu đời. Đây cũng chính là nơi phát tích của dòng họ Nguyễn
Trọng -nổi tiếng là “dòng họ thi thư chi lệ, dịch thế trâm anh, đức độ hiền
lương, thanh liêm trung trực, cần cù, nhân hậu, thông minh và hiếu học”.
Ở trên mảnh đất này, dòng họ Nguyễn Trọng phát triển thành nhiều chi
họ, với một truyền thống văn hóa rực rỡ, nổi tiếng với câu ca:
8
người Nam Đàn, đồng thời tác giả cũng đề cập đến dòng họ Nguyễn Trọng ở
Nam Trung với Tam thế ngũ hoàng hoa.
- Trong “Khoa bảng Nghệ An”, tác giả Đào Tam Tỉnh đã đề cập đến
thân thế, sự nghiệp của các nhân vật tiêu biểu thuộc dòng họ Nguyễn Trọng
như Nguyễn Trọng Thường, Nguyễn Trọng Đang, Nguyễn Đường...
- Trong các tác phẩm: “Các nhà khoa bảng Việt Nam” của Ngô Đức
Thọ (chủ biên); “Trạng nguyên, Tiến sĩ, Hương cống Việt Nam” (nhiều tác
giả); “Lịch triều tạp kỷ” của Cao Lãng (biên soạn), Xiển Trai (bổ sung);
“Quốc triều hương khoa lục” của Cao Xuân Dục;“Đại Việt lịch triều đăng
khoa lục” của Tạ Thúc Khải (dịch); có liệt kê đến tên tuổi, quê quán, khoa
bảng, hoạn lộ của các nhân vật tiêu biểu trong dòng họ Nguyễn Trọng.
- Các tác phẩm như “Hoàng Lê nhất thống chí” của Ngô Gia văn phái;
“Đại Nam nhất thống chí” của Quốc sử quán triều Nguyễn; “Lược sử Ngoại
giao Việt Nam qua các thời kỳ” của Nguyễn Lương Bích; “Lịch triều hiến
chương loại chí” của Phan Huy Chú; “Khảo về đồ sứ cổ men lam Huế” của
Vương Hồng Sển; “Khâm định Đại Nam hội điển sự lễ”của Nội các triều
Nguyễn… có nhắc đến các sự kiện lịch sử liên quan đến các nhân vật họ
Nguyễn Trọng trong thời gian làm quan tại triều đình.
- Các tác phẩm: “Vũ trung tùy bút” của Phạm Đình Hổ; “Lịch đại danh
hiền phổ” của Nguyễn Thượng Khôi; “Đăng khoa sưu giảng” của Trần Tiến;
“Tang thương ngẫu lục” của Phạm Đình Hổ và Nguyễn Ân… có ghi chép
những câu chuyện mang tính chất truyền miệng, thần bí của dân gian về nhân
vật Nguyễn Trọng Thường, Nguyễn Trọng Đang, Nguyễn Đường.
- Các tác phẩm như “Câu đối xứ Nghệ” của Đào Tam Tỉnh; “Nam Đàn
xưa và nay” - phần Di sản Hán Nôm huyện Nam Đàn; “Nghĩa Quận công
Tống Tất Thắng trong lòng quê hương dòng họ” của tác giả Tống Trần Tùng;
“Nghệ Tĩnh trong Tổ quốc Việt Nam” của Trần Thanh Tâm; “Hương xã Nam
3.2. Phạm vi nghiên cứu
10
- Về thời gian: Trên cơ sở tài liệu hiện có, chúng tôi tìm hiểu lịch sử
và văn hóa dòng họ Nguyễn Trọng trong khoảng thời gian từ thế kỷ XV đến
năm 2014 (bắt đầu từ nguồn gốc là cụ Thủy tổ Nguyễn Quyên cho đến hiện
nay với 25 đời).
- Về không gian: Chủ yếu, chúng tôi tìm hiểu dòng họ Nguyễn Trọng
trên địa bàn hai làng Trung Cần và Dương Liễu, nay là xã Nam Trung, huyện
Nam Đàn, tỉnh Nghệ An. Nhưng trong quá trình phát triển, dòng họ Nguyễn
Trọng ở Nam Trung có sự lan tỏa đi các nơi khác. Do đó, trong đề tài chúng
tôi có đề cập đến một số không gian có liên quan (huyện Nghi Lộc, tỉnh Nghệ
An; huyện Đức Thọ, tỉnh Hà Tĩnh).
4. Nguồn tài liệu và phương pháp nghiên cứu
4.1. Nguồn tài liệu
Để hoàn thành đề tài này, chúng tôi đã tham khảo, nghiên cứu các
nguồn tài liệu sau:
4.1.1. Tài liệu gốc
Chúng tôi tham khảo gia phả của các chi họ Nguyễn Trọng - Trung
Cần, chi họ Nguyễn Trọng – Dương Liễu, xã Nam Trung;chi họ Nguyễn
Trọng – Thanh Chương; chi họ Nguyễn Trọng – Đức La, Đức Thọ; chi họ
Nguyễn Trọng – Nghi Thạch, Nghi Lộc, chi họ Nguyễn Trọng – Kim Lũ, Hà
Đông, Hà Nội, chi họ Nguyễn Trọng ở Vân Diên, Nam Đàn… và các đạo dụ,
sắc phong, hoành phi, câu đối ở nhà thờ Đại tôn dòng họ Nguyễn Trọng ở
làng Trung Cần, xã Nam Trung.
4.1.2. Các tài liệu nghiên cứu
* Các bộ sử của các triều đại: “Lịch triều hiến chương loại chí” của
Phan Huy Chú; “Đại Việt sử ký toàn thư” của Ngô Sỹ Liên; “Đại Nam thực
- Chúng tôi sử dụng phương pháp lịch sử và phương pháp lôgic,
phương pháp so sánh để trình bày sự hình thành, phát triển và đóng góp của
dòng họ Nguyễn Trọng ở Nam Trung.
12
- Ngoài ra, chúng tôi còn sử dụng phương pháp điều tra, đối chiếu, so
sánh, phân tích để tiến hành sưu tầm tư liệu tại Viện Hán Nôm Hà Nội, thư
viện tỉnh Nghệ An, sưu tầm gia phả các dòng họ.
5. Đóng góp của luận văn
- Về mặt khoa học:Luận văn sẽ trình bày một cách hệ thống về
lịch sử 500 năm hình thành và phát triển của dòng họ Nguyễn Trọng ở
xãNam Trung, huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An. Qua đó, góp phần nghiên
cứuvà làm rõ những nét nổi bật về văn hoá truyền thống, những di sản
văn hoá; sự ảnh hưởng và những đóng góp của dòng họ Nguyễn Trọng
với cộng đồng quê hương đất nước. Đồng thời, nghiên cứu về các nhân
vật tiêu biểu của dòng họ Nguyễn Trọng và làm rõ những đóng góp của
họ trong lịch sử dân tộc.
- Về mặt thực tiễn: Luận văn sẽ góp phần bổ sung thêm nguồn tư
liệu cho công tác nghiên cứu lịch sử, văn hóa địa phương. Kết quả nghiên
cứu của luận văn là cơ sở cho việc nghiên cứu, biên soạn, giảng dạy lịch
sử địa phương trong các trường học ở trên địa bản tỉnh Nghệ An.
6. Bố cục của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, phụ lục, nội dung
chính của luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Nguồn gốc và lịch sử phát triển của dòng họ Nguyễn
Trọng ở xã Nam Trung, huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An từ thế kỷ XV đến
2014(33 trang)
Thái, Vân Diên, Xuân Hòa, Hồng Long, Kim Liên, Xuân Lâm, Nam Cát nằm
ở phía tả ngạn sông Lam. Bên hữu ngạn sông Lam có các xã: Nam Thượng,
Nam Tân, Khánh Sơn, Nam Trung, Nam Cường, Nam Phúc, Nam Kim. Đây
là các xã thuộc vùng Chín Nam.Sỡ dĩ có cách gọi đó là vì trong từng giai
đoạn lịch sử, địa giới hành chính các xã ở vùng hữu ngạn sông Lam thuộc địa
phận Nam Đàn thay đổi nên tên gọi cũng từng thay đổi.
Xưa kia đất này là trung tâm của Bộ Việt Thường khi nước ta mang tên
Văn Lang, Âu Lạc.Năm 207 trước Công Nguyên, nước Nam Việt của Triệu
Đà thôn tính Âu Lạc. Triệu Đà đã chia Âu Lạc thành 2 quận là Giao Chỉ ở
14
phía Bắc và Cửu Chân ở phía Nam, lấy vùng Tam Điệp (Ninh Bình) hiện nay
làm ranh giới của hai quận này.
Thời Hán Vũ Đế (140 - 87 Tr.CN), huyện Hàm Hoan bao gồm vùng đất
Nam Đàn ngày nay là một trong những huyện lớn thuộc quận Cửu Chân trước
đó.Hàm Hoan chính là tên gọi đầu tiên của huyện Nam Đàn.
Thời Tam Quốc (Ngụy, Thục, Ngô) huyện Cửu Đức thuộc Đông Ngô,
bao gồm các huyện Hưng Nguyên, Thanh Chương, Nam Đàn và một phần Đô
Lương, Đức Thọ ngày nay. Sau đó, nhà Ngô đã tách riêng đất Nam Đàn và
Đô Lương thành lập huyện Đô Giao, huyện lỵ đóng ở vùng Nam Xuân, Nam
Thanh ngày nay.Thế kỷ thứ VI, Cửu Đức đổi làm Đức Châu, Nam Đàn là
vùng đất thuộc huyện Đức Châu.
Nhà Đường chia Nghệ Tĩnh thành Hoan Châu và Diễn Châu. Hoan
Châu gồm có 4 huyện: Cửu Đức, Phố Dương, Việt Thường và Hoài An. Năm
Cửu Đức thứ 5, Việt Thường đổi tên là Minh Châu gồm 3 huyện: Vạn An,
Minh Hoàng và Minh Định. Nam Đàn là vùng đất của huyện Vạn An có thủ
phủ ở Sa Nam. Đây chính là nơi Mai Hắc Đế xây thành Vạn An, đặt đại bản
doanh chống lại sự đô hộ của nhà Đường (713 - 723).
Dưới thời Lê Đại Hành (981 - 1005), huyện Hàm Hoan đổi tên thành
và tổng Đặng Sơn của huyện Thanh Chương được tách ra để thành lập huyện
Lương Sơn (Đô Lương và Anh Sơn hiện nay).
Năm 1886, Đồng Khánh lên làm vua (để tránh phạm húy), chữ
“Đường” được đọc chệch thành chữ “Đàn”. Huyện Nam Đàn lúc bấy giờ có 4
tổng là Nộn Liễu, Lâm Thịnh, Hoa Lâm, Đại Đồng bao gồm 77 xã thôn.
* Điều kiện tự nhiên
Nam Đàn là vùng đất linh thiêng, tựa như một thung lũng rộng lớn với
dãy Đại Huệ ở phía Bắc, dãy Thiên Nhẫn ở phía Nam và Tây Nam cùng hàng
trăm núi non xếp trùng trùng điệp điệp, như những đàn voi, đàn ngựa rong
ruổi, che chắn và bảo vệ cho vùng đất này. Sông Lam như một con rồng xanh
biếc uốn lượn chảy quanh. Hai bên bờ Lam Giang, làng mạc sầm uất, đồng
ruộng phì nhiêu như câu hát cổ nghìn năm vọng mãi:
“Nam Đàn gió thổi phi phong
Núi non mây bá giăng mùng xung quanh
Lam Giang một dải xanh xanh
Vòng qua Nhẫn Đụn băng mình về xuôi” [26, 13].
16
Thời tiết và khí hậu của huyện Nam Đàn tương đối khắc nghiệt.Hằng
năm, mùa hanh khô kéo dài từ tháng 1 đến tháng 3 dương lịch, mùa nóng từ
tháng 4 đến tháng 8, mùa mưatừ tháng 9 đến tháng 12. Lượng mưa hàng năm
cao nhất là 2,228 mm, thấp nhất là 1,402 mm, trung bình là 1,428 mm. Bão
lụt thường xảy ra vào tháng 9 và tháng 10 dương lịch, gây úng lụt trên diện
tích rộng, có lúc kéo dài trong một thời gian dài.
Hoàng giáp Bùi Huy Bích đã miêu tả tóm tắt và khá đúng trong 4 câu
thơ chữ Hán ghi trong “Nghệ An thi tập” như sau:
“Hạ lai phong tự hỏa
Thu khứ vũ như ma
Thập nguyệt giang hoàn lạo
về ông. Trong đó có những câu:
“Hùng cứ Hoan Châu đất một phương
Vạn An thành lũy Vạn An hương
Bốn phương dậy tiếng hô Mai Đế
Trăm trận sức dư át Lý Đường”.
(Bản lưu tại đền Vua Mai, ở Nam Đàn)
Từ đầu thế kỷ X cho đến giữa thế kỷ XIX, bao sự kiện trọng đại của
lịch sử nước nhà đã in dấu ấn lên đất Nam Đàn. Đây là địa bàn đại thắng quân
Chămpa, Chân Lạp của quân và dân ta dưới thời Lý; là hành cung Nam Hoa
của Trần Trùng Quang; là đất “lập cước” và xây thành Lục Niên của Lê Lợi;
là nơi vua Quang Trung và La Sơn Phu Tử Nguyễn Thiếp chọn để xây dựng
Sùng Chính Viện...
Năm 1858, thực dân Pháp vũ trang xâm lược nước ta, mở đầu bằng đại
bác bắn vào cửa biển Đà Nẵng. Từ đó đến năm 1945, Nam Đàn là mảnh đất
bất khuất kiên cường với khởi nghĩa Giáp Tuất năm 1874, tiếp đến là những
ngày rầm rập hưởng ứng chiếu Cần Vương, là phong trào Đông Du và Duy
Tân của nhà chí sĩ kiệt xuất Phan Bội Châu.
Trong thời đại Hồ Chí Minh, Nam Đàn luôn đi tiên phong trong cuộc
đấu tranh giải phóng dân tộc. Nam Đàn đã tổ chức xây dựng các tổ chức tiền
thân của Đảng như Hội Phục Việt sau đổi thành Đảng Tân Việt và là nơi sinh
ra người Bí thư Tỉnh ủy Đảng Cộng sản đầu tiên của Nghệ An - ông Nguyễn
Tiềm người làng Dương Liễu. Nam Đàn tiến hành rầm rộ Cao trào Xô - Viết
trong 2 năm 1930 - 1931, chủ động khôi phục phong trào sau Xô - Viết (1933
- 1939). Từ đó tiến tới Tổng khởi nghĩa giành chính quyền trong Cách mạng
18
tháng Tám năm 1945. Đến thời kỳ kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ, giải
phóng miền Nam, thống nhất đất nước, Nam Đàn cùng với nhân dân cả nước
đã đóng góp sức người, sức của cho các chiến trường, góp phần làm nên
hóa, khoa học, chính trị, xã hội.
Nam Đàn là địa phương có nền văn học dân gian mang sắc thái điển
hình của xứ Nghệ với hát phường vải, hát đò đưa, ca dao, hò vè, truyện
kể.Văn học thành văn với chủ đề trung tâm là lòng yêu nước.Thời phong kiến,
các nhà Nho trở thành nhà học thuật, nhà thơ, nhà văn.Thời kỳ cận hiện đại,
họ lại là các chí sĩ hoạt động cách mạng, trong đó nổi tiếng và thành danh hơn
cả là Phan Bội Châu và Hồ Chí Minh.
Nam Đàn còn là đất của nghệ thuật kiến trúc với hệ thống thành luỹ,
lăng mộ, tháp, đình, đền phong phú đa dạng và có tính mỹ thuật cao như
thành Vạn An, thành Lục Niên, Tháp Nhạn ở Hồng Long, lăng của Kinh Bắc
Hầu - Bùi Tôn Trụ ở rú Co, lăng Tiến sĩ Võ Duy Dương ở Bến Kén, đình
Hoành Sơn, đình Trung Cần, đình Đông Châu, đền Vua Mai ở Vân Diên, đền
Xuân Hồ thờ Giáng tiên Liễu Hạnh...
1.1.2. Nam Trung - Mảnh đất giàu truyền thống
* Vị trí và diên cách địa lý
Xã Nam Trung, huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An là một xã nằm sát đê
hữu ngạn sông Lam. Từ thành phố Vinh có thể đến Nam Trung bằng quốc lộ
46 lên thị trấn Nam Đàn. Sau đó, qua cầu Nam Đàn và xuôi theo hữu ngạn
sông Lam bằng quốc lộ 15A, men theo chân núi Thiên Nhẫn, qua đền Thống
Chinh trên núi Quải Bái, qua địa phận các xã Nam Lộc, Khánh Sơn rồi rẽ trái
đi theo con đường huyện đã được rải nhựa qua núi Nam Sơn, đi theo con đê
hữu ngạn sông Lam, khoảng 10 km nữa là tới.
Một hướng khác để đến Nam Trung là từ thị trấn Đức Thọ (Hà Tĩnh)
qua cầu Thọ Tường - Đức Thọ rẽ phải, đi theo con đường huyện Đức Châu
qua Nam Cường ở phía Nam cầu Yên Xuân rồi ngược theo đê sông Lam
khoảng 3 km. Hoặc sau khi đi qua thị trấn Đức Thọ, đến Tùng Ảnh quê
20
hương Tổng Bí thư Trần Phú, qua cầu Linh Cảm rẽ phải, theo quốc lộ 15A, đi
Từ tổng Phù Long huyện Hưng Nguyên cắt sang, nay gọi là làng Quang Thái
4
21
ngọn núi cuối cùng của nhánh phía Đông của dãy Thiên Nhẫn, dừng lại ở đất
làng Dương Liễu, còn gọi với tên khác là núi “Đầu Voi”. Nam Trung là vùng
đất được ví von với nhiều hình tượng sinh động và linh thiêng, nào là “thanh
gươm yên ngựa” của núi Thiên Nhẫn, rồi là “nghìn ngựa ruổi rong”; “cánh
cung chinh chiến”, “vầng trăng thượng tuần” , “trang sách học trò”, “lò lửa
mùa hè”.... [9, 12]
Từ trên đỉnh Đông Sơn, nhìn về phía Đông và Đông Nam, ta có thể
thấy toàn bộ vùng đất thuộc các xã Nam Trung, Nam Cường, Nam Phúc…
được bao bọc bởi một số ngọn núi lớn thuộc vùng hạ lưu sông Lam. Khi nhìn
xa hơn về hướng Nam, ta thấy dãy Hồng Lĩnh chạy dài trên vùng đất Nghi
Xuân (Hà Tĩnh) - quê hương của đại thi hào Nguyễn Du và nhà doanh điền
Nguyễn Công Trứ...Chếch về hướng Đông Bắc có rú Thành, thuộc địa phận
huyện Hưng Nguyên. Đây là lỵ sở của trấn Nghệ An từ đầu thế kỷ XV đến
thế kỷ XVIII với tên gọi Lam Thành - Phù Thạch; gắn liền với cuộc kháng
chiến chống quân Minh đầu thế kỷ XV, với bao sự kiện, nhân vật lịch sử
trong các cuộc khởi nghĩa của Trần Ngỗi, Trần Quý Khoáng, Lê Lợi tổ chức
lãnh đạo (1407 - 1426). Dưới chân núi Thành còn có dấu tích của trường thi
Hương Nghệ An, nơi hàng vạn sỹ tử Nghệ An, Hà Tĩnh lều chõng, bút nghiên
về dự thi từ thế kỷ XV đến thế kỷ XVIII.
Khi nhìn về phía Tây Nam, ta thấy dãy Thiên Nhẫn với thế núi hùng vĩ,
trông như “ngàn ngựa rong ruổi”. Trong dãy Thiên Nhẫn, có núi Hoàng Tâm,
nơi Bình Định vương Lê Lợi và Bộ chỉ huy nghĩa quân Lam Sơn chọn làm đại
bản doanh khi chuyển về hoạt động trên đất Nghệ An (1424 - 1426). Dấu tích
thành Lục Niên và đại bản doanh xưa vẫn còn.Trên đường đi đến thành Lục
Trung Hưng; dòng họ Nguyễn Trọng với Tam thế ngũ Hoàng hoa thời Lê
Trung Hưng gồm Lại bộ Thượng thư Cần Quận công Tiến sĩ Nguyễn Trọng
Thường, Hàn lâm viện Thị độc Tiến sĩ Nguyễn Trọng Đang, Kim hoa điện
Học sĩ Tiến sĩ Nguyễn Đường, các Cử nhân thời Nguyễn như Nguyễn Trọng
Võ, Nguyễn Trọng Ngọc, Nguyễn Minh Khiêm, Nguyễn Trọng Lượng,
23
Nguyễn Chương Đạt; họ Nguyễn Hữu với Đình nguyên Hoàng giáp đệ nhất
danh Hữu Tham tri bộ Binh Nguyễn Hữu Lập và Hàn lâm viện Thị độc Học sĩ
Thám hoa Nguyễn Văn Giao là “Thúc điệt đăng khoa đồng triều”, Tri phủ
Hoài Nhân Phó bảng Nguyễn Tư Tái, Cử nhân Nguyễn Trọng Dực; họ Lê
Nguyên “Ngũ thế kế hoa” xứng đáng là gương mặt khoa cử thời Nguyễn, tiêu
biểu nhất là Tổng đốc Tế tửu Cử nhân Lê Nguyên Trung, Tiến sĩ Ngự sử Lê
Bá Hoan, Hồng lô Tự khanh Lê Bá Đôn,…
Thời Pháp có Nguyễn Hữu Khang người Trung Cần là Tiến sĩ Luật đầu
tiên của Việt Nam tại Pháp; Ở Mỹ có Thạc sĩ Nguyễn Hữu Thái (Rechar Thái).
Thời cận hiện đại có những danh nhân như Bí Thư tỉnh uỷ đầu tiên của
Nghệ An, Xứ uỷ Trung kỳ Nguyễn Tiềm; Uỷ viên Bộ Chính trị, Bộ trưởng Bộ
nội vụ Trần Quốc Hoàn (Nguyễn Trọng Cảnh); các chiến sĩ Xô viết như
Nguyễn Thị Phia (Cử Phia), Nguyễn Hữu Nhượng (Xứ uỷ Trung Kỳ),
Nguyễn Hữu Đang, Trần Ngọc Thiện, Trần Đình San, Hà Sâm... Những cán
bộ cao cấp của Đảng và Nhà nước như Nguyễn Hữu Dụng, Nguyễn Thị
Đông, Trần Văn Được, Lê Trọng Khoan, Nguyên Phổ, Phạm Bích, Nguyễn
Hữu Lương, Nguyễn Văn Kích, Nguyễn Hữu Hùng; Hoạ sĩ bậc thầy Nguyễn
Tư Nghiêm, Giáo sư họa sỹ Nguyễn Trọng Các; Chủ tịch UBND tỉnh Quảng
Bình Tiến sĩ Nguyễn Hữu Hoài; Hiệu trưởng trường Nguyễn Ái Quốc 5 Nguyễn Trọng Trường từng được Bác Hồ chọn vào tổ thư ký của Bác
(Trường, Kỳ, Kháng, Chiến, Nhất, Định, Thắng, Lợi), Hiệu trưởng trường
thông tin quân báo của Bộ quốc phòng Đại tá Nguyễn Trọng Kháng ...
Hiện nay, ở Nam Trung phần lớn con em đều tốt nghiệp trung học, cao
bố trí theo phương vị Ngũ hành với đình Dương Liễu làm trung tâm; có chợ
Rồng - chợ lớn nhất trong tổng Nam Hoa, nằm trên bến sông Lam, hàng hóa
thuyền bè trao đổi nhộn nhịp, náo nhiệt. Nam Trung còn có đường lũy Nam
Hoa Thượng với chiều dài hàng chục cây số, phần lớn nằm trên đất Trung
Cần và Dương Liễu. Đó vừa là lũy chiến hào, vừa là con đường giao thông
chiến lược, con đường hành quân, vận lương huyết mạch của đời xưa. Bãi Mồ
Ngô ra đời trong các cuộc chiến ác liệt giữa nghĩa quân Lam Sơn và quân
25
Minh xâm lược.Khi Lê Lợi tuyên đọc Bình Ngô Đại cáo đã khẳng định đây là
mồ chôn quân Minh trên cánh đồng Đại Trại.
Cánh đồng Đại Trại là một trong những trang trại lớn do Uy Minh
vương Lý Nhật Quang lập nên, sử triều Lý viết: “Đồng Đại Trại là cánh đồng
thẳng cánh cò bay” nó nằm giữa hai làng Trung Cần phía Nam và Dương
Liễu phía Bắc. Đây là cánh đồng rộng nhất, màu mỡ nhất vùng Nam Hoa.
Triều Trần cũng cử người trong vương tộc vào đây khai phá đất đai, lập ấp và
trở thành dòng họ cổ nhất trong số 30 họ về sinh sống ở đây, dòng họ gắn liền
với tên tuổi Điện Quận công Trần Mậu Long. Từ cuối đời Trần đến thời Trịnh
- Nguyễn phân tranh, nơi đây là chiến trường ác liệt.Vua Quang Trung
Nguyễn Huệ trên đường hành quân ra Bắc diệt quân Thanh cũng đã từng nghỉ
chân tại đây để tuyển thêm quân lính. Trải qua các thời kỳ lịch sử, các thế lực
phong kiến tranh đấu giành giật, dân cư xóm làng mở rộng, Đại Trại ngày
càng bị thu hẹp.
Nam Trung là đất giàu truyền thống. Trước hết là truyền thống hiếu
học, phát triển nghề dạy học rồi nghề y dược, nghề lý số (xem mạch đất đai,
đặt mồ, xem tướng). Nghề nông là nghề gốc của làng xã với những lợi thế về
diện tích ruộng đất lớn, nguồn nước dồi dào, có nhiều công trình thủy lợi
được hình thành từ xa xưa, nhân dân có kinh nghiệm phong phú được tích lũy
qua quá trình sinh sống, thích nghi với môi trường khắc nghiệt nơi đây. Cùng