Lịch sử văn hóa dòng họ võ tá huyện thạch hà, tỉnh hà tĩnh, từ thế kỉ XVI đến năm 2013 - Pdf 33

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH

LÊ THỊ HẰNG

LỊCH SỬ - VĂN HÓA DÒNG HỌ VÕ TÁ
HUYỆN THẠCH HÀ, TỈNH HÀ TĨNH,
TỪ THẾ KỈ XVI ĐẾN NĂM 2013

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC LỊCH SỬ

NGHỆ AN - 2015


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH

LÊ THỊ HẰNG

LỊCH SỬ - VĂN HÓA DÒNG HỌ VÕ TÁ
HUYỆN THẠCH HÀ, TỈNH HÀ TĨNH,
TỪ THẾ KỈ XVI ĐẾN NĂM 2013

Chuyên ngành: Lịch sử Việt Nam
Mã số: 60.22.03.13

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC LỊCH SỬ

Người hướng dẫn khoa học:
TS. DƯƠNG THỊ THANH HẢI


2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề.........................................................................8
3. Đối tượng, nhiệm vụ, phạm vi nghiên cứu..............................................11
4. Nguồn tư liệu và phương pháp nghiên cứu.............................................12
5. Đóng góp của đề tài.................................................................................14
6. Bố cục đề tài............................................................................................14
B. NỘI DUNG.............................................................................................15
Chương 1 KHÁI QUÁT VÙNG ĐẤT THẠCH HÀ - HÀ TĨNH...............15
1.1. Khái quát về vùng đất Hà Tĩnh...........................................................15
1.1.1. Điều kiện tự nhiên.........................................................................15
1.1.2. Điều kiện kinh tế - xã hội..............................................................18
1.1.3. Truyền thống lịch sử - văn hóa......................................................20
1.2. Thạch Hà - đất và người.......................................................................26
1.2.1. Vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên......................................................26
1.2.2. Địa danh Thạch Hà qua các thời kì...............................................30
1.2.3. Truyền thống lịch sử, văn hóa.......................................................31
Tiểu kết chương 1........................................................................................37
Chương 2 LỊCH SỬ PHÁT TRIỂN CỦA DÒNG HỌ VÕ TÁ Ở HUYỆN
THẠCH HÀ, TỈNH HÀ TĨNH TỪ THẾ KỈ XVI ĐẾN NĂM 2013..........38
2.1. Đôi nét về dòng họ Vũ - Võ ở Việt Nam.............................................38
2.1.1. Sơ lược tiểu sử Vũ Hồn.................................................................38
2.1.2. Họ Vũ làng Mộ Trạch...................................................................42
2.2. Nguồn gốc dòng họ Võ Tá ở Thạch Hà - Hà Tĩnh...............................44
2.3. Quá trình định cư, phát triển cuả dòng họ ở Thạch Hà - Hà Tĩnh........50
2.3.1. Từ thế kỉ XVI đến thế kỉ XVIII.....................................................50
2.3.2. Từ thế kỉ XIX đến năm 2013.........................................................67
Tiểu kết chương 2........................................................................................74
Chương 3 ĐÓNG GÓP CỦA DÒNG HỌ VÕ TÁ ĐỐI VỚI QUÊ HƯƠNG
VÀ LỊCH SỬ DÂN TỘC............................................................................75
3.1. Đóng góp về lĩnh vực quân sự - chính trị.............................................75
3.2. Đóng góp về lĩnh vực kinh tế - xã hội..................................................96

“thiên về ghi chép sự hưng vong tan hợp của các triều đại vua quan chính
thống, đi vào những mặt chung nhiều hơn mặt riêng, nhưng đời sống nhân
dân và nhiều mặt quan trọng khác… bị bỏ trống” [63; 11]. Bởi vậy, nghiên
cứu về dòng họ góp phần bổ sung thêm, làm sáng rõ thêm cho lịch sử dân tộc
về kinh tế, văn hóa, về tiểu sử của các nhân vật lịch sử, về các triều đại phong
kiến, về quân sự, về lịch sử dân tộc học, về xác minh những vấn đề địa lý hoc,
xác minh niên đại và những bí mật lịch sử.
Lịch sử của dân tộc đã đi vào quá khứ nhưng văn hóa của các dòng họ
vẫn trường tồn. Mỗi dòng họ đều có sự đóng góp nhất định cho quê hương đất


7
nước. Bởi vậy, việc nghiên cứu đánh giá đúng vai trò cũng như sự đóng góp
của các dòng họ là việc làm cần thiết. Từ đó, chúng ta thấy được những hạn
chế và tích cực của văn hóa dòng họ, văn hóa làng xã, góp phần định hướng
trong công cuộc xây dựng nền văn hóa đậm đà bản sắc dân tộc.
Trong xã hội hiện nay, cuộc sống ngày càng hiện đại, sự giao lưu tiếp xúc
văn hóa diễn ra mạnh mẽ, vấn đề giáo dục ý thức gìn giữ bảo tồn và phát huy
những giá trị văn hóa lịch sử cho thế hệ trẻ là vô cùng quan trọng. Việc nghiên
cứu tìm hiểu về dòng họ giúp thế hệ trẻ hiểu được những đóng góp của các dòng
họ đối với quê hương đất nước, khơi dậy niềm tự hào dân tôc, lòng biết ơn tôn
kính với các bậc tiền nhân, đồng thời giáo dục lòng yêu nước, phát huy truyền
thống tốt đẹp của cha ông đã để lại. Từ đó, thúc đẩy sự đoàn kết cũng như niềm
đam mê nghiên cứu lịch sử nước nhà cho các thế hệ trẻ hôm nay.
Đối với vùng đất xứ Nghệ nói chung, Hà Tĩnh nói riêng, từ xa xưa vốn
đã là “phên dậu” phía nam của đất nước, trong tiến trình lịch sử đã chứng kiến
biết bao biến cố cũng như sự mở cõi đi về phương nam, trong đó có sự di cư
của các dòng họ. Bởi vậy, vùng đất Nghệ Tĩnh có rất nhiều dòng họ từ phía
bắc di cư vào đây cư trú. Họ đã sinh sống tạo dựng nên các dòng họ cựu tộc ở
đây như họ Nguyễn Cảnh ở huyện Đô Lương, họ Nguyễn ở Tiên Điền (Nghi

Cuốn “Văn hóa dòng tộc dân gian” của Ngô Bạch là tác phẩm viết về
những đặc điểm, giá trị, ý nghĩa của văn hóa dòng họ đối với làng xã, với quê
hương đất nước. Tác giả cũng khái quát một số dòng họ lớn như: họ Đặng, họ
Hoàng, họ Nguyễn, họ Đỗ, họ Trịnh, họ Lê… Đó là những dòng họ có truyền
thống văn hóa, phổ biến ở Việt Nam, trong đó có họ Vũ. Thế nhưng, tác giả
chỉ dừng lại ở việc tổng quát các dòng họ chứ không tìm hiểu cụ thể về một
dòng họ nào.
Bài viết “Tìm hiểu lịch sử võ cử ở nước ta” của tác giả Nguyễn Thúy
Nga, in trong tạp chí Hán Nôm số 2 năm 2003 đã trình bày khái quát về lịch


9
sử võ cử của nước ta thời phong kiến, từ khởi thủy đến khi kết thúc. Trong đó,
tác giả liệt kê số khoa thi võ cùng số lượng người thi đỗ của từng khoa thi qua
các triều đại chứ không đưa ra danh sách cụ thể những người thi đỗ.
Cuốn “Nghệ An kí” của Bùi Dương Lịch là một tác phẩm viết về vùng
đất Nghệ An và Hà Tĩnh. Tác giả đã đề cập đến những đặc điểm về thiên
nhiên, địa lý, cương vực của vùng đất này trong đó có đề cập đến những con
người nơi đây. Họ Võ Tá được biết đến là một dòng họ nổi tiếng với những
nhân vật xuất sắc như Võ Tá Liễn, Võ Tá Sắt…, tác giả đã giành nhiều trang
viết về những chiến tích của các ông trong việc bảo vệ quê hương, xã tắc với
những trận đánh ghi đậm dấu ấn cá nhân. Tuy nhiên, Bùi Dương Lịch chỉ
dừng lại ở việc khái quát sơ lược về dòng họ Võ Tá chứ không đi sâu vào tìm
hiểu cụ thể về họ.
Cuốn “Hà Tĩnh nhân vật chí” của Nguyễn Hoằng Ân lưu tại thư viện
tỉnh Hà Tĩnh là một tác phẩm viết về những nhân vật nổi tiếng, điển hình trên
mảnh đất Hà Tĩnh, trong đó họ Võ Tá được nói đến với nhiều nhân vật như
Võ Tá Đoan, Võ Tá Lí… có công dẹp loạn giặc Bồng, giặc Tế, bảo vệ đất
nước. Tuy vậy, tác giả chỉ nêu khái quát những chiến tích mà các ông đã đạt
được chứ không tìm hiểu cụ thể về từng người hay về dòng họ Võ Tá.

rõ truyền thống khoa bảng của tỉnh Hà Tĩnh dưới thời phong kiến, đồng thời
tác giả đã thống kê những người Hà Tĩnh đỗ đạt qua các khoa thi. Đặc biệt,
ngoài những người đỗ khoa bảng văn học, tác giả còn đưa ra danh sách những
người đỗ Tạo sĩ (Tiến sĩ võ), trong đó có danh sách 15 người họ Võ Tá đỗ
Tạo sĩ thế kỉ XVII - XVIII. Mặc dù, tài liệu bước đầu đã có sự tiếp cận dòng
họ Võ Tá ở khía cạnh khoa bảng giáo dục song vẫn còn hạn chế.
Công trình “Tộc phả họ Vũ (Võ) (thế kỉ IX- XIX)” do Ban liên lạc họ Vũ
(Võ) cung cấp là một công trình nghiên cứu về sự phát triển họ Vũ (Võ) ở
Việt Nam. Công trình chủ yếu nói về sự hình thành và phát triển họ Vũ ở tỉnh


11
Hải Dương, với ngũ chi bát phát họ Vũ (Võ) khác nhau; khẳng định họ Vũ là
một dòng họ lớn có bề dày truyền thống khoa bảng và là gốc tích của một số
dòng họ Vũ (Võ) khác đang sinh sống trên mọi miền đất nước. Bên cạnh đó,
công trình đã tổng hợp được danh sách khoa bảng những người họ Vũ (Võ)
qua các triều đại phong kiến Việt Nam; danh sách những người họ Vũ (Võ)
đỗ Tạo sĩ, trong đó họ Võ Tá có 16 người; làm rõ thêm một số vấn đề về thủy
tổ Vũ Hồn và nói rõ làng Mộ Trạch là quê hương của họ Vũ (Võ) ở Việt
Nam. Công trình còn đưa ra bản “Vũ tộc ngọc phả” phần chữ Hán và phần
dịch nghĩa có nội dung cơ bản giống với bản dịch nghĩa “Vũ tộc ngọc phổ”
lưu giữ tại họ Võ Tá huyện Thạch Hà, tỉnh Hà Tĩnh. Tuy nhiên, công trình chỉ
mới tiếp cận họ Vũ ở tỉnh Hải Dương là chủ yếu, còn phổ họ Võ Tá chưa tiếp
cận vì thế công trình chưa đề cập đến quá trình hình thành, phát triển của
dòng họ Võ Tá huyện Thạch Hà, tỉnh Hà Tĩnh.
Như vậy, những công trình nghiên cứu trên đã có đề cập đến dòng họ
Võ Tá ở những khía cạnh khác nhau, song chưa có công trình nào nghiên cứu
một cách đầy đủ và toàn diện về dòng họ Võ Tá huyện Thạch Hà, tỉnh Hà
Tĩnh. Do đó, vấn đề này cần được nghiên cứu để làm rõ hơn những vấn đề về
dòng họ Võ Tá.

- Nguồn tư liệu gốc:
Để thực hiện đề tài này, tôi sử dụng gia phả của dòng họ Võ Tá (gia
phả họ Võ Tá, gia phả dòng họ Vũ Tá - Hà Hoàng huyện Thạch Hà - tỉnh Hà
Tĩnh), các câu đối ở nhà thờ dòng họ.
- Nguồn tài liệu nghiên cứu:
Các tài liệu nghiên cứu tôi sử dụng tham khảo cho đề tài như: Nghệ An
kí, Yên Hội thôn chí của Bùi Dương Lịch; Về văn hóa xứ Nghệ của Ninh Viết
Giao, Gia phả khảo luận và thực hành của Dã Lan Nguyễn Đức Dụ; Danh


13
tướng Việt Nam tập 3 của Nguyễn Khắc Thuần; Các nhà khoa bảng Hà Tĩnh
của Thái Kim Đỉnh; Chúa Trịnh của Phạm Khang…, các bộ chính sử như
Khâm định Việt Sử thông giám cương mục, Đại Nam nhất thống chí… Bên
cạnh đó còn có một số ấn phẩm của ban liên lạc dòng họ Võ ở các tỉnh.
Ngoài ra, tôi còn tham khảo thêm những tác phẩm viết về dòng họ như:
Văn hóa dòng họ của Văn Hạnh; một số luận văn nghiên cứu về lịch sử văn
hóa dòng họ như luận văn cao học của chị Nguyễn Thị Thùy Dương, luận án
tiến sĩ của Võ Hồng Hải. Kỉ yếu thội thảo “Văn hóa các dòng họ ở Nghệ An
với sự nghiệp thực hiện chiến lược con người Việt Nam đầu thế kỉ XXI” năm
1997. Đồng thời, tôi cũng sử dụng những tài liệu để tra cứu như: Từ điển địa
danh lịch sử văn hóa Việt Nam của Nguyễn Văn Tân, Từ điển nhân vật lịch
sử Việt Nam của Đinh Xuân Lâm và Trương Hữu Quýnh…
- Nguồn tài liệu điền dã:
Để bổ sung tài liệu cho đề tài, tôi còn tìm hiểu, khảo sát thực tế tại nhà
thờ dòng họ Võ Tá ở huyện Thạch Hà, tỉnh Hà Tĩnh, khu lăng mộ Võ Tá Sắt
ở xã Thạch Liên, miếu Quan Quận ở xã Thạch Hạ. Đồng thời, tôi cũng gặp gỡ
trao đổi và phỏng vấn với những người trong họ Võ như tộc trưởng đại tôn
Võ Tá Thành, thư kí dòng họ Võ Tá Thịnh.
4.2. Phương pháp nghiên cứu

được bố cục thành ba chương sau:
Chương 1: Khái quát vùng đất Thạch Hà - Hà Tĩnh.
Chương 2: Lịch sử phát triển của dòng họ Võ Tá ở huyện Thạch Hà,
tỉnh Hà Tĩnh từ thế kỉ XVI đến năm 2013.
Chương 3: Đóng góp của dòng họ Võ Tá đối với quê hương và lịch sử
dân tộc.


15
B. NỘI DUNG
Chương 1
KHÁI QUÁT VÙNG ĐẤT THẠCH HÀ - HÀ TĨNH
1.1. Khái quát về vùng đất Hà Tĩnh
1.1.1. Điều kiện tự nhiên
Vị trí địa lý
Hà Tĩnh là một tỉnh nằm ở dải đất miền Trung của Việt Nam, thuộc
vùng Bắc Trung Bộ, trải dài từ 17°54’ đến 18°50’ vĩ Bắc và từ 103°48’ đến
108°00’ kinh Đông. Phía bắc giáp tỉnh Nghệ An vốn từ xưa đã cùng chung
trong “xứ Nghệ”, phía nam giáp tỉnh Quảng Bình được phân giới bởi dãy
Hoành Sơn từ Trường Sơn đổ ra biển, phía tây giáp hai tỉnh của nước bạn Lào
là Borikhamxay và Khammuane, tựa lưng vào dãy Trường Sơn sừng sững mà
vươn mình về phía đông, nơi có biển Đông trải rộng mênh mông, tạo nên một
hình thể thoai thoải theo chiều dốc từ tây sang đông. Trong lịch sử dân tộc,
dưới sự trị vì đất nước của vương triều Nguyễn, vị trí địa lý của các tỉnh thành
trong nước cũng như tỉnh Hà Tĩnh được ghi chép khá cụ thể. Tỉnh Hà Tĩnh
được gọi là đạo Hà Tĩnh, thuộc khu vực sao Dực, sao Chẩn, về tinh thứ sao
Thuần Vĩ “đông tây cách nhau 55 dặm, nam bắc cách nhau 165 dặm, phía
đông đến biển 18 dặm, phía tây đến địa giới huyện Hương Sơn tỉnh Nghệ An
37 dặm, phía nam đến sơn phận Hoành Sơn quan (đèo Ngang) thuộc huyện
Bình Chính tỉnh Quảng Bình 133 dặm, phía bắc đến địa giới huyện Can Lộc

sững như một bức thành trấn giữ ở phía tây. Miền tây Hà Tĩnh có các vùng núi
Vũ Quang (Hương Khê), Đại Hàm (Hương Sơn) là miền đất gắn liền với lịch
sử đấu tranh chống ngoại xâm trong tỉnh qua nhiều thời kì. Từ Trường Sơn đồi
núi nối tiếp chạy dài, vây thành cụm, chắn ngang hoặc chia cắt miền đồng
bằng, tạo thành những thung lũng hẹp, xen kẽ nhau, đây đó hiện ra một vài dãy
núi nhỏ như Thiên Nhẫn (Hương Sơn), Long Mã (Đức Thọ), Trà Sơn (Can
Lộc), Hồng Lĩnh (Nghi Xuân), Nam Giới (Thạch Hà), Thiên Cầm (Cẩm


17
Xuyên), Cao Võng (Kỳ Anh) tạo nên những nét chấm phá hùng vĩ cho phong
cảnh toàn vùng.
Đồng bằng Hà Tĩnh hẹp chiếm khoảng 20% diện tích toàn tỉnh nằm rải
rác theo các thung lũng và xen kẽ giữa các cụm đồi. Biển đóng vai trò quan
trọng trong sự hình thành của đồng bằng nên đất ở đây thường nghèo, ít phù
sa sông. Dải đồng bằng quan trọng nhất của tỉnh nằm dọc theo lưu vực sông
La, từ miền hạ Đức Thọ kéo qua Can Lộc tới giáp miền biển Thạch Hà, Cẩm
Xuyên, rộng chừng 1000 km². Ngoài ra, trong tỉnh còn có một số vùng đất
bằng phẳng hẹp dọc theo thung lũng các sông Ngàn Sâu (Hương Khê), Ngàn
Phố (Hương Sơn) và những vùng đồng bằng nhỏ bị đứt quãng dọc theo bờ
biển các huyện Nghi Xuân, Kỳ Anh. Đồng bằng Hà Tĩnh tuy hẹp, bị cắt xén
và đất đai chóng xói mòn do nằm trên độ dốc lớn, nhưng với truyền thống cần
cù, chịu khó trong lao động và trí thông minh của con người nên đó vẫn là
vựa thóc chính đáp ứng cuộc sống của nhân dân nơi đây.
Hà Tĩnh có mạng lưới sông ngòi khá dày đặc. Tổng chiều dài các con
sông khoảng 400km. Hai con sông Ngàn Sâu và Ngàn Phố cùng với các
nhánh của nó trải ra khắp miền Hương Sơn và Hương Khê, đến ngã ba Tam
Soa dưới chân núi Tùng (Linh Cảm), thì hợp dòng thành sông La chảy qua
Đức Thọ, rồi nhập vào sông Lam ở Đức Quang (Đức Thọ). Từ đó sông Lam
chạy dọc theo hai tỉnh Nghệ An - Hà Tĩnh, rồi đổ ra cửa Hội (Nghi Xuân).

mạnh gây nên hiện tượng thời tiết khô và nóng nhiều ngày. Nhiệt độ vào mùa
hè có thể lên tới 40°C, cá biệt có nơi như Hương Sơn, Hương Khê nhiệt độ
trên 40°C. Nhưng sau những ngày hạn hán kéo dài, khoảng cuối tháng 7 đến
đầu tháng 10, bão có thể ấp đến đem theo mưa lớn và nước lũ gây thiệt hại
cho sản xuất và đời sống con người ở đây.
1.1.2. Điều kiện kinh tế - xã hội
Sự đa dạng về địa hình là một thuận lợi cho sự phát triển kinh tế ở Hà
Tĩnh. Đó sự hình thành cơ cấu kinh tế nông - lâm - ngư nghiệp.


19
Hà Tĩnh là một trong những tỉnh ở miền Trung có diện tích rừng tương
đối lớn (trên 300 000 ha rừng và đất rừng). Rừng núi là kho của cải vô giá đối
với Hà Tĩnh. Trong rừng có nhiều loại gỗ quý như lim, gụ, sến, táu… Rừng
còn cung cấp hàng trăm loại lâm sản quý, nhiều loài chim thú quý khác có giá
trị nhiều mặt. Xung quanh rừng dọc theo miền bán sơn địa ở Kỳ Anh, Cẩm
Xuyên, Đức Thọ, Can Lộc, Hương Sơn… có những đồng cỏ trải rộng mênh
mông, thuận lợi cho việc phát triển ngành chăn nuôi và cho phép tỉnh hình
thành nên những lâm trường.
Nếu như vùng đồi núi có thế mạnh về chăn nuôi gia súc, phát triển lâm
nghiệp thì các đồng bằng có thế mạnh hình thành vùng chuyên canh cây công
nghiệp hàng năm và các vùng lúa thâm canh. Những đồng bằng ở Hà Tĩnh tuy
bị cắt xẻ thành những mảnh nhỏ nối tiếp nhau chạy sát bờ biển nhưng nằm xen
kẽ với những con sông đổ ra biển nên đồng bằng ở đây thường được bồi đắp.
Việc chuyên canh cây lúa và các loại hoa màu vì thế phát triển khá thuận lợi.
Mặc dù tỉnh không có những bãi cá lớn, nổi tiếng nhưng Hà Tĩnh vẫn
có khả năng phát triển ngành đánh bắt, khai thác và nuôi trồng thủy hải sản,
du lịch biển dựa trên những thế mạnh của tỉnh. Hiện nay, ngành nuôi trồng
thủy, hải sản nước lợ, nước mặn phát triển khá mạnh và đang làm thay đổi
khá rõ nét cơ cấu kinh tế vùng nông thôn ven biển.

sự khắc nghiệt của thiên nhiên, mức sống của người dân còn thấp. Mặc dù
chiến tranh đã lùi xa nhưng hậu quả để lại vẫn còn, cơ sở hạ tầng một số vùng
còn nghèo, việc thu hút đầu tư còn hạn chế… nên kinh tế của tỉnh còn thấp so
với cả nước.
1.1.3. Truyền thống lịch sử - văn hóa
Từ lúc khai sơn lập quốc, vùng đất Hà Tĩnh ngày nay thuộc vào lãnh
thổ của nước Văn Lang. Sách Đại Việt sử kí toàn thư chép rằng thuở ấy Hùng
Vương lên ngôi, chia nước làm 15 bộ, Hà Tĩnh thuộc bộ Cửu Đức. Đến thời
nhà Hán (Bắc thuộc), vùng đất Hà Tĩnh thuộc huyện Hàm Hoan thuộc quận
Cửu Chân, sau là quận Nhật Nam. Bước sang thời nhà Ngô (thời kì độc lập tự


21
chủ), Hà Tĩnh thuộc Cửu Đức. Thời nhà Đinh - Tiền Lê: vùng Nghệ An, Hà
Tĩnh gọi là Hoan Châu, vùng địa đầu phía nam của nước Đại Cồ Việt, tiếp
giáp với nước Chiêm Thành và nước Ai Lao. Thời Lý - Trần, từ năm 1030,
bắt đầu gọi là châu Nghệ An. Thời Hậu Lê, vùng đất Nghệ An - Hà Tĩnh ngày
nay gọi là xứ Nghệ An, phần đất thuộc tỉnh Hà Tĩnh ngày nay là đất thuộc 2
phủ Đức Quang (sau này là Đức Thọ) và phủ Hà Hoa. Phủ Hà Hoa lúc ấy
gồm 2 huyện: Thạch Hà và Kỳ Hoa (tức là Kỳ Anh và Hoa Xuyên sau này).
Thời Tây Sơn, vùng đất Nghệ An - Hà Tĩnh được gọi là Nghĩa An trấn. Năm
Gia Long nguyên niên (1802), vùng đất ấy đặt làm Nghệ An trấn. Năm 1831,
vua Minh Mạng chia trấn Nghệ An làm 2 tỉnh: Nghệ An phía bắc sông Lam,
Hà Tĩnh phía nam sông Lam. Năm Tự Đức thứ 6 đổi tỉnh Hà Tĩnh làm đạo,
hợp vào Nghệ An làm An Tĩnh, sau đặt lại như trước.
Thời Pháp thuộc, tỉnh Hà Tĩnh thuộc xứ Trung Kỳ nằm trong Liên bang
Đông Dương. Đến năm 1975 “hợp nhất hai tỉnh Hà Tĩnh và Nghệ An thành
tỉnh Nghệ Tĩnh” [4; 288], sau đó lại tách ra làm hai tỉnh vào năm 1991. Khi
tách, Hà Tĩnh có 9 đơn vị hành chính gồm thị xã Hà Tĩnh và 8 huyện trong đó
có huyện Thạch Hà. Như vậy, qua bao lần đổi thay về tổ chức hành chính

con cháu nhà Trần là Trần Quý Khoáng làm vua, tập hợp lực lượng đánh quân
Minh nhiều trận quyết liệt. Tiếp đó là cuộc khởi nghĩa vào năm 1419 của binh
lính huyện Nha Nghi (Nghi Xuân) do Phan Liêu chỉ huy, bắt bọn quan lại nhà
Minh, đánh úp thành Nghệ An, sau đó lấy đất Ngọc Ma (miền thượng Hương
Sơn và Hương Khê ngày nay) làm căn cứ. Từ năm 1425 cùng với vùng Đỗ
Gia (Hương Sơn) được chọn làm một trong những căn cứ chiến lược quan
trọng của nghĩa quân Lam Sơn. Dãy núi Thiên Nhẫn là đại bản doanh của Lê
Lợi và nhân dân Hà Tĩnh là chỗ dựa vững chắc của nghĩa quân Lam Sơn
chống giặc Minh. Những tên đất như Lục Niên, Cửa Khuất, Tiêu Hoa… gắn


23
liền với tên những người con anh hùng của Hà Tĩnh như Nguyễn Tuấn Thiện,
Nguyễn Biên, Bùi Bị… mãi mãi lưu danh với núi sông.
Bước sang thế kỉ XVIII, chế độ phong kiến Việt Nam đi vào giai đoạn
khủng hoảng suy vong, phong trào Tây Sơn từ một cuộc khởi nghĩa nông dân
đã nhanh chóng phát triển thành một cuộc đấu tranh dân tộc hoàn thành oanh
liệt sứ mạng chống thù trong giặc ngoài. Cả hai lần nghĩa quân Tây Sơn hành
quân ra Bắc vào năm 1786 và năm 1788, nhân dân lao động Hà Tĩnh với tinh
thần yêu nước đã đứng hẳn về phía Tây Sơn, kéo theo cả một số đông sĩ phu
quan lại như Nguyễn Thiếp, Phan Huy Ích… cũng ủng hộ quân Tây Sơn.
Thế kỉ XIX, nhân dân Hà Tĩnh tiếp tục cùng nhân dân cả nước kháng
chiến chống thực dân Pháp xâm lược, điển hình là khởi nghĩa Hương Khê
(1885 - 1896) do cụ Phan Đình Phùng và Cao Thắng lãnh đạo. Cuộc khởi
nghĩa đặt căn cứ chính ở Vũ Quang - Hương Khê, hoạt động kéo dài trên 10
năm, giành được nhiều thắng lợi to lớn và giữ vai trò là một phong trào trung
tâm, trở thành cuộc khởi nghĩa tiêu biểu nhất cho phong trào Cần Vương
chống Pháp của cả nước.
Từ sau khi Đảng Cộng sảnViệt Nam ra đời, dưới sự lãnh đạo của Đảng,
truyền thống yêu nước của nhân dân Hà Tĩnh ngày càng phát triển mạnh mẽ

hiến ở hai sườn đông và tây của núi Hồng Lĩnh ấy đã tạo nên một “Hồng Sơn
văn phái” với những tác phẩm tiêu biểu như “Hoa tiên” của Nguyễn Huy Tự,
“Mai Đình mộng kí” của Nguyễn Huy Hổ, truyện Kiều của Nguyễn Du.
Ngoài ra còn có dòng họ Đinh Nho, Nguyễn Khắc ở huyện Hương Sơn; dòng
họ Phan Huy ở làng Thu Hoạch và các làng Uy Viễn, Đông Thái, Yên Hội,
Trung Lễ, Bùi Xá, Trung Lương.… đều nổi danh về truyền thống khoa bảng
văn chương. Những trước tác của họ là vốn di sản quý giá làm phong phú
thêm kho tàng văn hóa quê hương và dân tộc.


25
Thiên nhiên hùng vĩ và thơ mộng, Hà Tĩnh là đất “giang sơn tụ khí”
thời nào Hà Tĩnh cũng có người đỗ đạt cao. Những người thi đỗ thời phong
kiến ở xứ Nghệ được gọi là “ông đồ Nghệ” hay “thầy đồ Nghệ”.Thế nhưng,
“trong số các thầy đồ: thầy đồ Bắc, thầy đồ Nam, thầy đồ Thanh, thầy đồ
Quảng…, thì hình như thầy đồ Nghệ được bà con các nơi hâm mộ hơn cả.
Thời Pháp thuộc đã thế, trước kia khi mà chế độ khoa cử đang thịnh hành,
càng thế” [19; 18]. Cái chất đồ Nghệ ấy đã trở thành một đức tính quý báu có
tính truyền thống in sâu trong tâm thức mỗi người con xứ Nghệ. Theo sách
Các nhà khoa bảng Việt Nam 1075 – 1919 thì Hà Tĩnh có 142 vị đỗ đại khoa.
Vị Trạng nguyên khai khoa của tỉnh là Đào Tiêu, người Yên Hồ, huyện Đức
Thọ, đỗ Thái học sinh năm Ất Hợi, niên hiệu Bào Phù thứ 3 (1275) đời Trần
Thánh Tông; người đỗ cuối cùng là Hà Văn Đại, người xã Tiên Điền, huyện
Nghi Xuân, đỗ phó bảng khoa Kỷ Mùi, niên hiệu Khải Định thứ 4 (1919)
triều Nguyễn.
Hà Tĩnh cũng là quê hương của làn điệu dân ca ví dặm. Nơi đây có
nhiều làng văn nghệ nổi tiếng như làng hát ca trù Cổ Đạm, chèo Kiều Xuân
Liên, hát ví phường vải Trường Lưu, hò ví dặm Đan Du, Phong Phú… Các
làng truyền thống với giọng hò nổi tiếng quanh núi Hồng Lĩnh, ven dòng sông
Lam, sông La, sông Ngàn Sâu, Ngàn Phố đã để lại nhiều thơ văn và trước tác.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status