1
Bộ giáo dục và đào tạo
Trườngưđạiưhọcưvinh
--------------
Bộ giáo dục và đào tạo
Trườngưđạiưhọcưvinh
hồ trà giang
--------------
hồ trà giang
lịch sử - văn hóa
lịch sử - văn hóa
dòng họ đặng ở nghi xuân (Hà
dòng họ đặng ở nghi xuân (Hà
tĩnh)
tĩnh)
từ từ
đầu
xv đến
đếnnay
nay
(2006)
đầuthế
thế kỷ
kỷ xv
(2006)
Chuyên ngành: Lịch sử Việt Nam
xu hớng về nguồn có sức hút ngày càng lớn. Nhiều tộc họ đã nghĩ đến việc
chấn chỉnh nền nếp tông môn và phục hồi tinh thần gia tộc trong lòng các thế
hệ con cháu. Việc này có mặt tích cực là nhiều dòng họ khôi phục lại đền thờ,
miếu mạo, lăng mộ, bi kí và một số ngành nghề; biên soạn lại gia phả, tộc phả,
gia sử và biên niên các ngày giỗ kỵ tiên nhân cùng các vấn đề ngoại phả; thu
thập tài liệu về tổ tông, tìm cách liên lạc nối kết lại mối dây quan hệ của các
chi nhánh họ từ xa cũng nh thông tin liên hệ với họ hàng ở xa (cả trong và
3
ngoài nớc); khơi dậy đợc truyền thống ông cha, đồng thời giáo dục cho con
cháu hậu duệ ý thức tộc họ; song cũng không tránh khỏi những hạn chế nh
mâu thuẫn, tranh chấp giữa các tộc họ về một số vấn đề nhạy cảm Do đó,
việc nghiên cứu về lịch sử văn hóa các dòng họ một cách nghiêm túc, khoa
học có ý nghĩa thiết thực nhằm phát huy mặt tích cực, xóa bỏ mặt tiêu cực;
dẫn dắt mỗi ngời hớng về cội nguồn; khơi dậy lòng tôn kính tổ tiên, ý thức
đoàn tụ, tình yêu thơng huyết mạch trong dòng tộc và tinh thần đoàn kết rộng
lớn trong cả cộng đồng dân tộc Việt Nam.
1.3. Nghi Xuân là mảnh đất sơn thủy hữu tình nhng cũng là vùng cồn khô
cát mặn. Nơi đây đã trở thành điểm dừng chân sinh cơ lập nghiệp của nhiều
dòng họ. Hiện nay ở Nghi Xuân có hàng chục dòng họ, trong đó có thể kể ra
một số dòng họ lớn nh họ Nguyễn ở Tiên Điền gốc từ Canh Hoạch, Thanh
Oai, Hà Đông, định c từ cuối thế kỷ XVI đầu thế kỷ XVII; họ Phan ở Phan Xá
- gốc Can Lộc; họ Lê ở Tiên Bào gốc Thanh Hóa, định c từ giữa thế kỷ
XVII; họ Ngụy ở Xuân Viên, định c từ đầu thế kỷ XV và họ Đặng ở Uy Viễn,
định c từ đầu thế kỷ XV - gốc Can Lộc Các dòng họ đã bắt tay nhau cùng
chinh phục thiên nhiên, khai hoang lập ấp, ổn định cuộc sống, xây dựng Nghi
Xuân ngày càng giàu mạnh trong thời bình, đoàn kết vững vàng trong thời
chiến.
2. Lịch sử vấn đề
Nghiên cứu về các dòng họ không còn là mảng đề tài mới nhng vẫn không
kém phần hấp dẫn, lí thú, càng đi sâu càng say mê. Thời gian gần đây, trong xu
thế gìn giữ và phát huy những giá trị văn hóa của mỗi địa phơng nói riêng, của
dân tộc nói chung, các công trình nghiên cứu về văn hóa dòng họ hay những
nhân vật nổi bật của dòng họ ngày càng tăng về số lợng lẫn chất lợng.
Cũng nh các dòng họ trên đất nớc Việt Nam, ngời họ Đặng có ý thức và
đã bằng những biện pháp thiết thực củng cố lòng tự hào tông tộc, tôn vinh
những giá trị văn hóa truyền thống dòng họ mình. Tiêu biểu là hai sự kiện:
Mộtưlàưngày 19/9/1999 họ Đặng đã tổ chức thành công cuộc họp mặt họ Đặng
toàn quốc thống nhất cội nguồn, bầu Ban liên lạc họ Đặng toàn quốc để lo
việc họ. Haiưlàưtrong hai ngày 23 & 24/8/2002 tổ chức Hội thảo khoa học về
danh nhân Đặng Tất - Đặng Dung và đóng góp của họ Đặng trong lịch sử dân
tộc.
Nằm trong nguồn mạch phát triển đó, chi họ Đặng ở Nghi Xuân cũng
đã thu hút sự quan tâm tìm hiểu của không ít nhà nghiên cứu. Tất nhiên là
những công trình đó đề cập đến họ Đặng ở Nghi Xuân từ những góc độ khác
nhau, với độ đậm nhạt khác nhau. Thực ra nghiên cứu về họ Đặng toàn quốc
Việt Nam thì còn có bề rộng, có tầm của vấn đề nghĩa là nguồn t liệu sẽ
phong phú hơn, còn chi họ Đặng ở Nghi Xuân chỉ là một nhánh trong muôn
ngàn cành vạn lá xanh tơi của cây họ Đặng. Bởi vậy, theo sự tìm hiểu của
tôi, từ trớc tới nay cha có công trình nào nghiên cứu một cách đầy đủ về quá
trình phát triển và lịch sử văn hóa của dòng họ Đặng ở Nghi Xuân. Công trình
5
phác họa tơng đối toàn diện về lịch sử phát triển của họ này ở Nghi Xuân từ
thế kỷ XV đến nay là PhảưtộcưĐặngưđạiưtôngưvănưhiếnưViệtưNam (tập 3).
Ngoài ra, cuốn PhảưtộcưĐặngưđạiưtôngưvănưhiếnưViệtưNam (tập 1) và Kỷưyếu
6
cứu một cách toàn diện và có hệ thống hơn về họ Đặng ở Nghi Xuân để góp
phần gìn giữ và phát huy những giá trị văn hóa dân tộc.
3. Phạm vi nghiên cứu, nhiệm vụ khoa học của đề tài
3.1. Phạm vi
Trên cơ sở những tài liệu hiện có, chúng tôi đặt ra phạm vi nghiên cứu
về lịch sử văn hóa của dòng họ Đặng trên đất Nghi Xuân từ thế kỷ XV đến
nay, chủ yếu là chi Thái Bảo Liêu Quận công Đặng Sĩ Vinh.
3.2. Nhiệm vụ
Xuất phát từ chỗ nhận thức đợc vai trò to lớn của dòng họ đối với sự
hình thành, phát triển của dân tộc và ý nghĩa to lớn của việc nghiên cứu văn
hóa dòng họ trong sự nghiệp công nghiệp hóa hiện đại hóa đất nớc, luận
văn nhằm giải quyết những nhiệm sau:
- Tìm hiểu tơng đối toàn diện và có hệ thống về quá trình hình thành,
phát triển của dòng họ Đặng trên đất Nghi Xuân, những đóng góp của dòng
họ cho quê hơng, dân tộc.
- Đi sâu tìm hiểu một số gơng mặt nổi tiếng của dòng họ Đặng, đặc biệt
là Đặng Sĩ Vinh và hậu duệ của ông để hiểu thêm những cống hiến của họ đối
với dòng họ và quê hơng.
- Tìm hiểu văn hóa truyền thống, những di sản văn hóa của dòng họ
Đặng ở Nghi Xuân và vị trí của nó trong văn hóa Nghi Xuân.
4. Nguồn t liệu và Phơng pháp nghiên cứu
4.1. Nguồn t liệu
Để thực hành đề tài này, chúng tôi dựa vào các nguồn tài liệu sau:
4.1.1. Tài liệu gốc
Tài liệu gốc quan trọng trớc hết đối với chúng tôi là tộc phả họ Đặng
Việt Nam nói chung và phần viết về họ Đặng ở Nghi Xuân nói riêng. Theo tìm
giáo dục- khoa cử nh SựưphátưtriểnưgiáoưdụcưvàưchếưđộưthiưcửưởưViệtưNamưthời
phongưkiến ư(Nguyễn Tiến Cờng). Bên cạnh đó, chúng tôi cũng tham khảo
những tác phẩm viết về lịch sử văn hóa các dòng họ khác nh Truyềnưthống
của ư dòng ư họ ư Nguyễn ư Cảnh ư và ư kinh ư nghiệm ư phát ư huy ư truyền ư thống ư(Song
Tùng),ưHọưHồưtrongưcộngưđồngưdânưtộcưViệtưNam (Hồ Sĩ Giàng). Ngoài ra,
chúng tôi còn học hỏi qua một số luận văn nghiên cứu về mảng đề tài lịch sử
văn hóa dòng họ nh luận văn của chị Nguyễn Thị Xuân Hoa với đề tài
Lịch sử văn hóa dòng họ Nguyễn Cảnh ở Nghệ An từ thế kỷ XV đến nay,
4.2. Phơng pháp nghiên cứu
4.2.1. Su tầm t liệu
Để có đợc nguồn t liệu phục vụ cho luận văn, chúng tôi tiến hành su
tầm, tích lũy, sao chép t liệu ở th viện tỉnh Nghệ An, th viện tỉnh Hà Tĩnh, th
viện huyện Nghi Xuân, sử dụng các phơng pháp phỏng vấn, điều tra xã hội
học, nghiên cứu và sao chép, chụp ảnh làm t liệu tại các đền thờ ở Xuân Hồng,
ở thị trấn Nghi Xuân
4.2.2. Xử lí t liệu
8
Trong quá trình nghiên cứu, chúng tôi vận dụng phơng pháp lịch sử và
phơng pháp logic để trình bày quá trình hình thành, phát triển của dòng họ
theo diễn tiến thời gian. Bên cạnh đó, chúng tôi còn so sánh đối chiếu gia phả,
bia ký với chính sử. Trên cơ sở đó, phân tích, tổng hợp, đánh giá và xác định
vị trí của họ Đặng cũng nh nêu lên mối quan hệ giữa dòng họ Đặng với một số
dòng họ trên đất Nghi Xuân.
5. Đóng góp khoa học và giá trị thực tiễn của luận văn
- Luận văn sẽ cung cấp và giới thiệu quá trình hình thành cũng nh phát triển
của dòng họ Đặng trên mảnh đất Nghi Xuân, giúp mọi ngời hiểu rõ hơn một trong
ngạn dài khoảng 23km), bên kia sông là địa phận huyện Hng Nguyên, huyện
Nghi Lộc và thành phố Vinh thuộc tỉnh Nghệ An. Phía tây nam là dãy Hồng
Lĩnh, bên kia núi là huyện Can Lộc, huyện Đức Thọ, nay là Thị xã Hồng Lĩnh.
Phía đông là biển với đờng bờ biển dài 32km. Cách tỉnh lỵ Hà Tĩnh 50km về
phía đông bắc, Nghi Xuân nằm gọn trong tọa độ từ 28 031 đến 1804530 độ vĩ
bắc và từ 105o41 đến 105051 độ kinh đông. Diện tích đất tự nhiên là 217,76
km2; dân số 99 875 ngời, chiếm 3,59% diện tích đất tự nhiên và 7,9% tổng số
dân toàn tỉnh Hà Tĩnh (Theo niên giám thống kê Nghi Xuân 1991 1995).
Đất Nghi Xuân tuy hẹp nhng có sự kết hợp hài hòa sông biển, đồng bằng, núi
đồi và hải đảo tạo nên cảnh quan thiên nhiên khá phong phú, đa dạng, nhiều
thuận lợi nhng cũng không ít khó khăn gay gắt. Trớc năm 1945, Nghi Xuân có
5 tổng (Phan Xá, Xuân Viên, Đan Hải. Tam Đăng, Cổ Đạm), 33 xã, thôn,
trang, phờng. Đến năm 2003, Nghi Xuân có 17 xã, 2 thị trấn với 192 thôn,
xóm, khối.
Nghi Xuân là vùng đất cổ thuộc bộ tộc Việt Thờng. Thời Văn Lang - Âu
Lạc thuộc bộ Cửu Đức. Thời Tùy lại đổi thành huyện Phố Dơng thuộc quận
Nhật Nam. Thời Lý Trần Hồ và thời thuộc Minh đã gọilà huyện Nha
Nghi thuộc phủ Nghệ An. Từ sau thời Lê trung hng lại đổi là huyện Nghi
Xuân thuộc trấn Nghệ An. Năm Nhâm Dần thời vua Minh Mệnh (1831) tách
thành 2 tỉnh Nghệ An và Hà Tĩnh, từ đây Nghi Xuân trực thuộc Hà Tĩnh.
Kết quả các cuộc thăm dò khảo sát khảo cổ cho thấy con ngời có mặt trên
đất Nghi Xuân khá sớm, cách ngày nay 5000 năm, cuối thời đại đá mới. Và
cách ngày nay 4000 năm đến 3000 năm, ở đây đã hình thành và phát triển nền
văn hóa rực rỡ dựa trên nền tảng nông nghiệp trồng lúa nớc, đã hình thành
cộng đồng làng xã với lối sống chung. Theo tiến trình lịch sử, c dân Nghi
Xuân đã từng bớc lấn biển, chuyển từ miền núi xuống sinh sống dọc theo ven
biển, lu vực sông Cả và khai phá đồng bằng. Bên cạnh đó, những đợt di c từ
bắc vào từ nam ra cũng góp phần bổ sung c dân bản địa. Trải bao thăng trầm
để ổn định cuộc sống cũng nh trong xây dựng và bảo vệ quê hơng, sự hỗn
huyết cũng nh đan xen, hòa quyện văn hóa đã tạo nên những nét đẹp riêng
Sông Lam là nguồn gốc của một trăm sông
Núi Hồng Lĩnh là một dải hùng vĩ
Từ đó núi sông hun đúc chính khí
Quả nhiên chỗ đài cao xuất hiện những ngời nổi tiếng tăm.
Tuy nhiên, con ngời sinh trởng bên cạnh yếu tố phong thủy còn chịu sự chi
phối rất lớn của nhân tố xã hội. Sách Cổ kiềm nói:
Hồng Lĩnh sơn cao
Song ng hải khoát
Nhợc ngộ minh thời
Nhân tài tú phát.
11
Nghĩa là:
Núi Hồng Lĩnh cao cao
Bể song ng bát ngát
Gặp buổi có vua hiền
Nhân tài đua nhau phát.
Sự kết hợp giữa phong thủy và điều kiện xã hội hun đúc nên khí chất con
ngời. Dải đất Nghệ Tĩnh sơn thủy hữu tình những cũng đầy gian nan, khắc
nghiệt này tạo nên tính cách của con ngời Hà Tĩnh nói riêng và ngời Nghệ
Tĩnh nói chung mà không nơi nào có đợc. Đầu thế kỷ XIX Bùi Dơng Lịch
khái quát rằng: Ngời Nghệ An khí chất chất phác đôn hậu, tính tình từ tốn
chậm chạp không sắc sảo, cho nên làm việc gì cũng giữ cẩn thận, bền vững, ít
khi bị xao động bởi những lợi hại trớc mắt [18,211]. Ngời phơng Bắc khen
ngời Nghệ: Thuần, giản mà hiếu học.
Ngày nay, con cháu thế hệ sau khẳng định cái tốt nhng cũng mạnh dạn
nhìn thẳng vào những hạn chế: Có thể nói, nét nổi trội rõ nhất là lòng yêu nớc, yêu quê hơng, yêu chuộng tự do, siêng năng học hành, tìm kiếm, cần cù
lao động, chịu thơng chịu khó, khảng khái, chân thật, thẳng thắn bộc trực. Ngời Hà Tĩnh sống có trớc có sau, thủy chung, biết đối nhân xử thế, tế nhị, lịch
Theo Phả tộc họ Đặng văn hiến Việt Nam, họ Đặng Hồng Lam phát tích từ
xã Chúc Sơn, huyện Chơng Đức, phủ ứng Thiên. Sau khi vua Trần Dụ Tông
mất (1369), triều đình nhiễu loạn, bão táp dữ dội nổi lên ở Thăng Long. Dơng
Nhật Lễ tiếm ngôi (1369 1370). Quân Chiêm Thành tiến công kinh thành,
đốt phá, bắt ngời cớp của. Họ Đặng xuất hiện sự chuyển biến lớn. Đó là sự di
dời xuống phía Nam của hậu duệ đời thứ 5 Đặng Bá Kiển, con trai Hậu Nghi
Lang Thái sử cục lệnh Đặng Lộ. Vốn đã từng nhiều lần đợc nghe thân phụ kể
và ca ngợi vùng đất phơng Nam, đặc biệt là vùng Lam thủy Hồng sơn,
phong cảnh hùng vĩ nên thơ, con ngời đôn hậu, Đặng Bá Kiển quyết định đa
gia đình và ngời thân vào Nghệ An. Ông đã chọn vùng đất hoang sơ ngay dới
chân núi phía nam dãy Hồng Lĩnh cách biển Đông không xa để sinh cơ lập
nghiệp. Đó là thôn Tả Hạ (Đông Rạng), xã Tả Thiên Lộc, huyện Phi Lộc (về
sau đời Lê Thánh Tông đổi là huyện Thiên Lộc), phủ Nghệ An (nay là xóm
Tài Năng, xã Thiên Lộc, huyện Can Lộc, tỉnh Hà Tĩnh). Ngài Đặng Bá Kiển
chính là Thuỷ tổ của họ Đặng Hồng Lam đông đúc, có nhiều hậu duệ nổi
tiếng trên hai tỉnh Nghệ An Hà Tĩnh và trên nhiều tỉnh, thành phố khắp cả
nớc nh ở Hà Tây, Hà Nội, Vĩnh Phúc, Phú Thọ, Hải Hng, Hà Nam, Nam Định,
Ninh Bình, Thanh Hóa, Quảng Bình, Thừa Thiên Huế, Quảng Nam, Quảng
Ngãi, Đồng Nai, thành phố Hồ Chí Minh, Long An Nhìn vào sự nghiệp của
con cháu họ Đặng ăn sâu trên đất Nghệ Tĩnh, tỏa rộng trên khắp đất nớc thì
quả thật tiên tổ Đặng Bá Kiển xứng đáng với sự ca ngợi:
Hồng Lĩnh triệu cơ
13
Lam giang khái vụ.
(Dựng nền đất Hồng Lĩnh
Mở lối bờ sông Lam).
Con cháu đời thứ 4 của Đặng Bá Kiển là Đại Quốc Công Đặng Tất. Quê
14
Định và vua Trùng Quang viết th thảo hịch, có nhiều đóng góp trong việc bàn
định chiến lợc ở chốn quân cơ. Nghĩa quân đã hợp lực với vua Giản Định,
thống nhất lực lợng chống Minh, làm nên các chiến công Bình Than, Hàm Tử,
Nam Sách. Đầu năm 1413, địch tấn công căn cứ cuối cùng của vua tôi nhà
Hậu Trần ở Hóa Châu, nghĩa quân không kháng cự nổi, tan rã, bị truy kích rồi
bị bắt (anh em họ Đặng có Đặng Dung, Đặng Thiết, Đặng Doãn bị bắt). Năm
1414, trên đờng thủy áp giải sang Trung Quốc, Trần Quý Khoáng và Đặng
Dung đã nhảy xuống sông tuẫn tiết.
Trớc tình hình đó, em trai của Đặng Dung là Đặng Chủng (Chúng) vốn
may mắn thoát thân trong trận chiến, để tránh sự truy lùng của Trơng Phụ đã
lui về ẩn dật, làm thiền s ở chùa Hơng Tích trên núi Hồng Lĩnh (cuối năm
1413), nhng thấy không yên đã xuống núi, chọn vùng đất U Điền (sau đổi Vô
Điền, nay là Tiên Điền) làm chỗ đứng chân (cuối năm 1413 đầu năm 1414).
Ông dần dà vỡ ruộng khai hoang, dựng nhà cửa, mở trờng dạy học. Năm 1428
đất nớc thanh bình, Bình Định Vơng Lê Lợi hạ chiếu vời Hàn Lâm Đặng
Chủng về triều sung vào hàng quan Thị nội văn chức, Hàn Lâm Thị Giảng.
Mảnh đất Tiên Điền văn vật thiên thu tại (nghìn năm văn vật Tiên Điền),
mảnh đất Nghi Xuân hội tụ tinh hoa non sông, khí thiêng trời đất, là điểm đến
bình yên mà cánh chim bằng Đặng Chủng nghiêng cánh dừng chân sau hành
trình mỏi mệt trong phong ba bão táp thời cuộc; để rồi từ đây dòng họ Đặng
xác lập đợc vị thế của mình trong số các danh gia vọng tộc trên đất Nghi
Xuân và cả Hà Tĩnh.
Hai cuộc di dời của họ Đặng cuối thế kỷ XIV và đầu thế kỷ XV cũng tơng
tự nh cuộc di dời cuối thế kỷ XVI của họ Nguyễn. Họ Nguyễn vốn phát tích ở
làng Canh Hoạch, huyện Thanh Oai, tỉnh Sơn Nam (nay thuộc tỉnh Hà Đông).
Thời vua Lê Thế Tông trung hng (1573 1599), một con cháu của dòng họ
Vô Điền (Tiên Điền), đỗ Hơng giới, có công giúp vua Lê dẹp giặc, đợc phong
tớc Viên Nghĩa hầu. Ông có 5 con trai.
* Chi ất nhị: Tiên tổ Đặng Nhàn, là con trai thứ 2 Tổ Đặng Chủng. Ông có
công đánh giặc đợc phong Phúc An hầu, sau di c đến thôn Trung Lá, xã Bạch
Đờng, huyện Nam Đờng, xứ Nghệ An. Ông có 2 con trai 2 con gái. Con cháu
dời c lập nghiệp ở nhiều nơi khác nh Thanh Hóa, Quảng Nam - Đà Nẵng,
Nghệ An Hậu duệ đời thứ 10 của ông có Đặng Thái Phờng, vốn là nho sinh
nghèo ở phủ Thiệu Thiên - Thanh Hóa, đợc quan tri phủ Đặng Sĩ Vinh mời về
dạy học trong nhà, nuôi ăn học, gả con gái, đa về Uy Viễn Nghi Xuân lập
nghiệp, lập nên chi họ Đặng làng Võ Trạch, xã Uy Viễn, nay là khối II, Thị
trấn Nghi Xuân.
Hậu duệ đời thứ 10 có ông Đặng Đình Văn và ông Đặng Đình Vinh về lập nghiệp ở
Tiên Cầu nay là thôn An Tiên, xã xuân Giang, ông Đặng Chính là tộc trởng.
16
* Chi ất tam: Tiên tổ An Thắng hầu Đặng Kiệm, là con trai thứ 3 Tổ Đặng
Chủng, ở Tiên Điền dời c về làng An Lạc, thôn Trung Lam thuộc tổng Tam
Xuân, nay là thị trấn Xuân An. Ông có 2 con trai.
Hậu duệ nổi bật có Đặng Đình An (con cháu đời thứ 6 tính từ ông), võ
nghệ cao cờng, là một dũng tớng lập nhiều chiến tích, đợc phong chức Tán trị
công thần đặc tiến phụ quốc Thợng tớng quân, phong là Khuông Lộc quận
công. Khi mất, ông đợc nhà vua cho lập đền thờ, khắc bia tạc tợng để nhớ
công đức và giao cho làng xã cúng tế hàng năm.
Con cháu đời sau có nhiều ngời thành đạt, một số di c đến xuân Liên, xuân
Trờng (Nghi Xuân), hay các huyện khác nh Can Lộc (Hà Tĩnh) hoặc Hng
Nguyên, Nghi Lộc (Nghệ An). Nhà thờ của chi ất tam hiện nay ở thị trấn xuân
An, tộc trởng ông Đặng Văn Lơng, cán bộ về hu, ủy viên Hội Đồng gia tộc họ
Đặng Hồng Lam, Uỷ viên Ban liên lạc họ Đặng toàn quốc.
5 con trai nhng con thứ nhất và con thứ 2 không truyền, con thứ 3 thi hỏng
Tam trờng, bỏ đi, con cháu lập nghiệp ở Thanh Liên Thanh Chơng Nghệ
An, con thứ 4 là Đặng Ngạn Hầu là ngời có khí tiết trung dũng, hăng hái lập
quân công dới triều Lê Trịnh, con thứ 5 là Đạo sĩ Đặng Minh Cảnh sinh
2 con trai là Đặng Huyền và Đặng Tuyên, lập thành 2 chi phái. Hiện nay, ông
Đặng Quế là tộc trởng chi trởng, ông kiến trúc s Đặng Thắng là tộc trởng chi thứ.
- Con thứ 5 của Đặng Nộn là Đặng Cửu lập nghiệp ở Hậu Lộc Thanh
Hóa. Đến đời thứ 6 một ngời con chi này là Đặng Hùng Uy, khi về già chuyển
gia đình về đất tổ Tiên Điền.
- Con thứ 6 của Đặng Nộn là Đặng Xuân Tài, phò Lê diệt Mạc đặc tiến
phụ quốc Thợng Tớng quân, lập nghiệp Nam Đờng. Đến đời thứ 4 tính từ ông,
vào khoảng cuối thế kỷ XVII, một ngời con chi này là ông Đặng Xuân Hệ đa
gia đình về đất tổ Tiên Điền lập nghiệp, lập nên chi họ Đặng Tiên Điền III.
Hiện nay, ông Đặng Khánh là tộc trởng.
- Con thứ 7 là Đặng Văn Cẩn - Đô đốc thủy quân, lập nghiệp ở Non Nớc,
Đà Nẵng.
- Con thứ 8 là Đặng Minh Mận, lập nghiệp ở làng Túy Loan Quảng
Nam - Đà Nẵng.
- Trong các con trai của Đặng Nộn, chỉ có Đặng Sinh con trai thứ 3 về
lập nghiệp ở Uy Viễn. Ông có 6 con trai.
Đời 7: Trong 6 con trai của Đặng Sinh, con trởng Đặng Huỳnh cha rõ tông
tích, chỉ có con út Uy Nhân hầu Đặng Nhân Trí ở lại Uy Viễn Tiên Điền.
Đời 8: Ông Đặng Nhân Trí có 5 con trai, 3 ngời tòng chinh phơng Nam
cha rõ, một ngời lập nghiệp ở Thạch Hà, còn con út Đặng Nhân Ngôn đỗ cử
nhân, làm quan xứ Sơn Nam. Ông có 4 con trai.
18
Đời 9: Trong 4 con trai của Đặng Nhân Trí, chỉ có con út Đặng Sĩ Vinh
Đặng Lợng, con trai thứ 6 Đặng Bính, con trai thứ 7 Đặng Ngạn cha rõ bị Gia
Long sát hại hay ẩn tích. Con trai thứ 3 là Cử nhân Đặng Thai Tri Hàn lâm
viện Sùng Chính triều Tây Sơn, về ẩn tích ở Thanh Hà, Hải Dơng. Con trai thứ
19
8 là sinh đồ Đặng Bình phải di trú ẩn thân ở Hòa Vang Quảng Nam, truyền
đến nay 10 thế hệ. Con trai út là Tráng Tiết tớng quân Đặng Cẩn, 3 con trai
của ông dời c vào Tuy Hòa, Phú Yên, truyền đến nay 8 thế hệ.
- Con trai trởng là Đô đốc Đặng Quốc Đống (tức Đô đốc Đông) một
trợ thủ đắc lực của vua Quang Trung, ngời đã đánh tan quân Thanh ở đồn Khơng Thợng - Đống Đa, góp phần làm nên đại thắng lừng lẫy tiêu diệt 29 vạn
quân Thanh xuân Kỷ Dậu 1789.
- Con trai thứ 2 là Cử nhân Đặng Truyền Lâm, Hàn lâm viện viện Sùng
Chính triều Tây Sơn. Khi tình hình quốc sự không mấy thuận lợi, Đô đốc
Đông sai ông về quê sắp xếp mọi việc, cất dấu th tịch, sơ tán tộc họ.
Khi Gia Long lên nắm quyền đã cho ngời về Uy Viễn Tiên Điền, quê
hơng Đô đốc Đông tàn sát cớp bóc, khiến con cháu họ Đặng hoặc bị giết hoặc
buộc phải tha hơng phiêu tán.
Đời 12: * Đặng Quốc Đống có 8 ngời con trai.
1) Con trai trởng là Đặng Kính, sinh Đặng Duy Tần làm quan Đề lại.
Đặng Duy Tần có 3 con trai, con trởng là Đặng Duy Học. Đặng Duy Học sinh
Đặng Duy Đóa. Đến đây cây phả hệ bị cụt vì ông Đóa không có con trai. Nh
thế là truyền đợc 16 đời.
2) Con thứ 2 là Đặng Duy Thạch, ẩn c ở đâu không rõ.
3) Con thứ 3 là Đặng Duy Nhợng. Truyền đến nay là đời thứ 22, ông
Đặng Duy Loan là tộc trởng.
4) Cử nhân Đặng Tố Nga là con trai thứ 4 Đô đốc Đông, ẩn c ở Tam Kỳ,
Vĩnh Long. Ông có 7 con trai 2 con gái. Các con ông tích cực tham gia phong
trào Cần Vơng nên năm 1893 bị giặc Pháp càn quét phải đa nhau đi lánh nạn ở
8) Con trai thứ 8 là Đặng Địch (không rõ).
*Đặng Truyền Lâm có 3 con trai 5 con gái.
1) Con trai trởng Đặng Tuyên lánh nạn về vùng Cơng Gián, đổi tên là
Đặng Thế Sơn. Về sau, một số con cháu di c đến Nghi Lộc, Nam Đàn ( Nghệ
An) hay Hơng Khê. Con cháu tuyệt đại đa số làm nghề nông, cuộc sống phồn
thịnh, đồng tâm hiếu nghĩa xây dựng từ đờng tôn nghiêm, tộc trởng là cụ
Đặng Thế Bờng và các con đều là ngời có tâm đức với dòng tộc.
2) Con thứ Đặng Dợc cũng theo anh về làng Cơng Gián, đổi tên Đặng
Thế Quỳnh. Con cháu chuyên nghề đánh cá và thơng mại. Hiện nay ông Đặng
Đình Nguyên là tộc trởng.
3) Con thứ 3 Đặng Liêu làm quan xứ Quảng Yên, lánh nạn về Tiên Cầu,
đổi tên là Đặng Luật, lập nên chi họ Đặng ở đây. Truyền đến nay, ông Đặng
Đức Thành là tộc trởng. Hậu duệ tri ân tiên tổ đã lập từ đờng khang trang để
xuân thu nhị kỳ, giỗ chạp hơng lửa phụng thờ. Cháu chắt có cha con ông Đặng
Công - Đặng Mỹ tích cực tham gia phong trào Cần Vơng. Con cháu đời sau
noi gơng các cụ cống hiến đời mình cho cách mạng giải phóng dân tộc. Đến
đời thứ 5 tính từ ông Đặng Liêu, có một ngời con của chi này là ông Đặng Bồi
21
di c về thôn Xuân áng, xã Hoa Viên, nay là xã xuân Viên. Hiện nay ông Đặng
Nghi là tộc trởng.
Nhìn chung, trải qua quá trình định c và phát triển với 23 thế hệ, tất cả
các chi phái họ Đặng trên đất Nghi Xuân đều có từ đờng thờ tiên tổ khang
trang và có gia phả, tộc phả minh bạch.
Tiểu kết chơng 1:
Ta thờng nghe:
hiến đó, Nghi Xuân cùng với Thiên Lộc và La Sơn xa (Can Lộc và Đức Thọ
nay) đợc đánh giá là khoa giáp đỗ đạt thịnh hơn cả. Những ngời làm tôi có
tiếng tốt, giúp nớc có đức hiền, hơn cả một châu [4,55]. Theo thống kê của
Võ Hồng Huy, Đỗ đại khoa 21 ngời, trong đó một Bảng nhãn, một Thám hoa
và bảy Hoàng giáp. Nếu cả tỉnh Hà Tĩnh có 146 ngời đỗ đại khoa thì huyện
23
này đã chiếm 1/7 số đó. Về Hơng khoa, chỉ kể Hơng cống, Cử nhân đỗ 111
ngời, cũng một trong những huyện có ngời đỗ Hơng khoa cao nhất [12,57].
Trên vùng đất địa linh nhân kiệt này, nhiều dòng họ nổi tiếng khoa
giáp danh gia với nhiều thế hệ con cháu đỗ đạt trong các kỳ thi Hơng, thi Hội,
thi Đình, vinh danh tiên tổ, rạng rỡ quê hơng. Truyền thống khoa bảng đợc thế
hệ trớc đặt nền tảng, gieo mầm, nuôi dỡng, các thế hệ nối tiếp gìn giữ và phát
huy bằng tài năng và trí tuệ xuất phát từ khao khát khẳng định bản thân và ý
thức tộc họ. Đối với họ Đặng Việt Nam, truyền thống khoa bảng là một nét
đẹp, từ thời Lý đến thời Nguyễn có 70 vị đỗ Tiến sĩ trở lê, nhiều ngời đỗ đạt
lúc 14 15 tuổi, có gia đình 4 5 ngời đỗ đại khoa [3,13]. Họ Đặng ở
Nghi Xuân không có ai đỗ đại khoa nh họ Nguyễn, họ Phan, họ Phạm, họ
Thái, họ Hoàng, họ Lê nhng con cháu đỗ cao trong các kỳ thi Hơng thì trải
đều đời nào cũng có. Dù ban đầu học vị không cao nhng nó cũng tạo đà cho
mộng công danh con cháu họ Đặng cất cánh, đem cái tâm cái tài phò vua giúp
nớc.
Ngợc dòng lịch sử, lần theo Phả tộc Đặng đại tông văn hiến Việt Nam
mới tỏ tờng bề dày truyền thống khoa bảng của họ Đặng từ gốc gác. Tị tổ
Đặng Ma La đỗ Thám hoa khoa Đinh Mùi (1247) lúc ông 13 tuổi cùng với
Trạng nguyên Nguyễn Hiền 12 tuổi và Bảng nhãn Lê Văn Hu 16 tuổi. Cháu
nội Đặng Tảo và chắt nội Đặng Lộ đều thi đậu Thái học sinh thời Trần. Tiên tổ
Đặng Bá Tĩnh, con trai trởng của tổ Đặng Bá Kiển (Thỉ tổ của họ Đặng Hồng
Con trai Đặng Nhân Ngôn là Đặng Sĩ Vinh nổi tiếng thông minh ngay
từ nhỏ, nhờ tổ ấm đợc tắm gội giữa dòng Nho, bơi lội trong bể học nên cha
đến tuổi trởng thành đã làu thông kinh sử, lại là ngời có phẩm hạnh nên đợc
mọi ngời xung quanh rất mực yêu mến. Lớn lên, là ngời có kiến thức uyên
thâm, văn tài lỗi lạc, ông đợc vinh danh là một trong Nghệ An tứ hổ. ở tuổi
20, ông đỗ Cử nhân khoa thi Hơng năm ất Dậu (1705), năm Bính Tuất (1706)
đỗ tiếp chế khoa Hoành từ. Hoạn lộ của Đặng Sĩ Vinh khởi đầu từ một Nội thị
văn chức; 3 năm sau đợc cử làm Huấn đạo Trờng Yên; năm 1715 đợc sung Tả
mạc Sơn Nam (tơng đơng chức Kinh lịch giúp việc ở trấn); năm 1720 đợc cử
làm Tri huyện Đông Thành (nay là Yên Thành, Nghệ An); đến năm 1726 ông
đợc thăng lên Tri phủ Thiệu Thiên, trông coi 8 huyện ở trấn Thanh Hoa
(Thanh Hóa nay). Năm 1734, bất lực với thời cuộc, ông rút lui khỏi quan trờng, để rồi 18 năm sau lại đợc vua Lê chúa Trịnh vời ra làm quan phong
chức Thừa chính sứ Lạng Sơn (1752) rồi thăng lên Đô ngự sử tớc Viễn Trạch
hầu (1755), khi về nghỉ đợc gia phong Kim Tử Vinh Lộc Đại Phu, Thái bảo
Liêu Quận công Thợng trụ quốc Thợng trật.
Nối tiếp truyền thống ông cha, Đặng Thái Bàng hậu duệ đời thứ 11
của tổ Đặng Chủng, vốn thông minh lại chăm chỉ học hành, am hiểu văn chơng. Năm Mậu Tý thời Vĩnh Thịnh (1708) 20 tuổi đỗ Hơng cống, năm Canh
Dần (1710) 22 tuổi đỗ Hoành từ, sung vào hàng Thị nội văn chức. Năm Tân
Mão (1711) bổ Tri huyện Anh Sơn; năm 1753 thời Cảnh Hng thăng đến chức
25
Tá tham nghị Sơn Nam; năm 1789 thời Quang Trung thăng chức Thái bộc tự
khanh xứ Nghệ An.
Đời 11 có Đặng Hùng Uy hậu duệ tiên tổ Đặng Cửu, văn võ song
toàn, là Giám sinh Quốc Tử Giám triều Lê, thi Hội đỗ Tam trờng làm Huấn
đạo phủ Tiên Bình, sau chuyển sang ban võ, đặc phong phụ quốc thợng tớng
Đô chỉ huy sứ Điện tiền Đô điểm, tớc Hùng Uy hầu.
Về sau có Đặng Sĩ Hàn con trai thứ 4 của Đặng Sĩ Vinh, khoa thi