1
2
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
PHAN THỊ HƯỜNG
LỊCH SỬ - VĂN HÓA LÀNG VĂN LA
XÃ LƯƠNG NINH - HUYỆN QUẢNG NINH
TỈNH QUẢNG BÌNH
TỪ GIỮA THẾ KỶ XVI ĐẾN NĂM 1945
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC LỊCH SỬ
CHUYÊN NGÀNH: LỊCH SỬ VIỆT NAM
NGƯỜI HƯỚNG DẪN: PGS.TS. NGUYỄN QUANG HỒNG
Nghệ An, 2015
2
LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành chương trình cao học và thực hiện luận văn này, ngoài sự nỗ
lực của bản thân tôi đã nhận được sự dạy dỗ, hướng dẫn và giúp đỡ, góp ý rất
nhiệt tình của các thầy cô trường Đại học Vinh cùng các tập thể, cá nhân khác.
Trước hết, tôi xin chân thành cảm ơn tập thể cán bộ giảng dạy khoa Lịch
sử trường Đại học Vinh đã giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập và nghiên
cứu tại trường. Đặc biệt, tôi xin được bày tỏ lòng biết ơn chân thành và sâu sắc
đến PGS TS Nguyễn Quang Hồng, người đã trực tiếp hướng dẫn, giúp đỡ tôi
4. Nguồn tài liệu và phương pháp nghiên cứu.....................................10
4.1. Nguồn tài liệu.....................................................................................10
4.2. Phương pháp nghiên cứu.....................................................................10
5. Đóng góp khoa học và giá trị thực tiễn của luận văn.....................11
6. Bố cục của luận văn...........................................................................11
NỘI DUNG.................................................................................................12
CHƯƠNG 1................................................................................................12
Quá trình hình thành, phát triển và những đóng góp...........................12
của dân làng Văn La đối với quê hương, đất nước................................12
1.1. Vài nét về điều kiện tự nhiên.........................................................12
1.1.1. Vị trí địa lý......................................................................................12
1.1.2. Đất đai - Sông ngòi...........................................................................13
1.1.3. Khí hậu..........................................................................................16
1.2. Quá trình khai đất, lập làng và phát triển của làng Văn La từ
giữa thế kỉ XVI đến năm 1945......................................................................18
1.2.1. Duyên cách địa lý và tên gọi làng Văn La qua các thời kỳ.......................18
1.2.2. Quá trình định cư của các dòng họ trên vùng đất Văn La........................19
1.3. Khái quát về đóng góp của các thế hệ cư dân làng Văn La đối với
lịch sử dân tộc.................................................................................................24
1.3.1. Khai khẩn đất đai, lập làng, phát triển kinh tế, văn hóa............................24
1.3.2. Dân làng Văn La trong lĩnh vực giáo dục khoa cử.................................26
4
1.3.3. Dân làng Văn La trong sự nghiệp giữ đất, mở nước và chống ngoại xâm...32
CHƯƠNG 2................................................................................................40
Đời sống văn hóa vật chất của cư dân làng Văn La...............................40
2.1. Sản xuất kinh tế...............................................................................40
2.1.1. Nông nghiệp....................................................................................40
3.4.2. Lễ hội.............................................................................................91
3.4.3. Văn hóa - văn nghệ dân gian..............................................................95
KẾT LUẬN..............................................................................................101
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO...............................................105
6
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
1.1. Về mặt khoa học
Quảng Bình là một tỉnh ven biển Bắc Trung Bộ, là vùng đất nối liền non
sông Việt Nam thành một dải, lưng tựa dãy Trường Sơn hùng vĩ, mặt hướng ra
Biển Đông rộng lớn.
Trong tiến trình dựng nước và giữ nước, Quảng Bình là nơi có nhiều dấu ấn
lịch sử đặc biệt quan trọng, là nơi hội tụ, giao thoa, đan xen nhiều nền văn hóa
lớn như văn hóa Đông Sơn - Sa Huỳnh, Việt Mường - Đại Việt - Chăm pa, Đàng
Trong - Đàng Ngoài… Các làng xã ở Quảng Bình gắn liền với lịch sử mở đất bảo vệ lãnh thổ phía Nam của quốc gia Đại Việt từ thời Lý - Trần - Hồ - Lê,...
Nhưng, trong các công trình nghiên cứu về triều đại phong kiến Việt Nam
từ thế kỷ XI đến thế kỷ XVIII, ngoài việc đề cập ít nhiều đến các cuộc hành
quân của vua tôi nhà Lý, nhà Trần,v.v… qua vùng đất Quảng Bình, hay những
trận đánh diễn ra trên vùng đất phía Nam Đèo Ngang trở vào, chưa có một công
trình nào nghiên cứu về Lịch sử hình thành của các làng xã ở đây. Trong khi đó,
nhiều biến động của lịch sử dân tộc trong nhiều thế kỷ lại diễn ra tại các làng xã
ở phía Nam đèo Ngang và dấu tích để lại chưa hẳn đã phai mờ hoặc biến mất. Vì
vậy, việc chọn làng Văn La, xã Lương Ninh, huyện Quảng Ninh, tỉnh Quảng
Bình, làm đề tài Luận văn tốt nghiệp Cao học là nhằm góp phần thiết thực vào
việc sưu tầm, đối chiếu tư liệu, nghiên cứu về lịch sử hình thành, phát triển và
đời sống văn hóa vật chất, tinh thần của các thế hệ cư dân các làng cổ nổi tiếng ở
vùng đất Quảng Bình, vốn là một trong những khoảng trống trong nghiên cứu
xu thế toàn cầu hóa hiện nay, đất nước ta đang bước vào thời kỳ hội nhập sâu
rộng, bên cạnh những thành tựu to lớn đạt được, một số giá trị lịch sử - văn hóa,
trong đó có văn hóa làng xã đang dần bị lãng quên, mai một. Chúng ta phải luôn
nhớ rằng, sự nghiệp xây dựng và phát triển đất nước luôn phải gắn liền với sự
nghiệp xây dựng, củng cố và phát triển nền văn hóa dân tộc vừa hiện đại vừa
đậm đà bản sắc truyền thống. Do đó, những giá trị văn hóa, những bài học lịch
sử, những đóng góp của các thế hệ cha ông, những truyền thống quý báu của quê
hương Văn La nói riêng và nước nhà nói chung rất cần được mọi người biết,
8
hiểu để giữ gìn và phát huy. Thông qua việc tìm hiểu, nhận thức sâu sắc văn hóa
truyền thống quê hương sẽ giúp cho chúng ta biết nâng niu, trân trọng, tự hào và
biết ơn những đóng góp của các thế hệ cha ông đi trước, giáo dục niềm tin, tình
yêu quê hương đất nước, biết sống có đạo lý, trọng nghĩa trọng tình và góp sức
nhiều hơn cho công cuộc gìn giữ, bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa, xây
dựng một nền văn hóa tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc.
Tôi sinh ra và lớn lên ở làng Văn La, xã Lương Ninh, huyện Quảng Ninh,
tỉnh Quảng Bình. Từ khi biết “hóng chuyện người lớn” tôi đã nghe truyền tụng
“Bát danh hương” của Quảng Bình: Sơn - Hà - Cảnh - Thổ - Văn - Võ - Cổ Kim. “Văn” chính là làng Văn La của tôi. Làng Văn La được bình chọn là “danh
hương” của Quảng Bình từ khi nào? Vì sao lại được bình chọn? Những câu hỏi
đó vẫn luôn thường trực ở trong tôi. Có lẽ, đó là một trong những lí do vì sao tôi
lại chọn “nghiệp” Sử. Theo học Lịch sử tôi mới có điều kiện để đi hết “chiều
sâu” của làng, thực hiện được những ấp ủ bấy lâu. Càng tìm hiểu tôi càng thêm
tự hào về quê hương của mình, càng muốn giới thiệu với mọi người về quê
hương tôi - làng Văn La - mảnh đất sơn thủy hữu tình. Vì vậy, việc chọn đề tài
về Lịch sử văn hóa làng Văn La cũng chính là sự tri ân đối với quê hương.
Xuất phát từ những lý do trên, tôi mạnh dạn chọn đề tài “Lịch sử - văn hoá
làng Văn La, xã Lương Ninh, huyện Quảng Ninh, tỉnh Quảng Bình từ giữa
Như vậy, đã có những công trình nghiên cứu được công bố ít nhiều đề cập
đến vấn đề chúng tôi nghiên cứu. Song tất cả những tài liệu đó đều là những
mảnh riêng lẻ chứ chưa đi sâu vào nghiên cứu và hệ thống hóa một cách đầy đủ,
toàn diện về văn hóa truyền thống của làng Văn La.
Trên cơ sở kế thừa các tác giả đi trước, chúng tôi mong muốn có cái nhìn
tổng quan đầy đủ và khoa học hơn về lịch sử văn hóa làng Văn La trong tiến
trình phát triển của văn hóa dân tộc từ giữa thế kỷ XVI đến năm 1945.
3. Phạm vi nghiên cứu, nhiệm vụ khoa học của đề tài
3.1. Phạm vi nghiên cứu
Trên cơ sở những tài liệu hiện có, chúng tôi đặt ra phạm vi nghiên cứu của
đề tài: ''Lịch sử - văn hóa làng Văn La, xã Lương Ninh, huyện Quảng Ninh, tỉnh
Quảng Bình từ giữa thế kỷ XVI đến năm 1945''.
* Về mặt thời gian:
10
Chúng tôi chỉ tập trung nghiên cứu về làng Văn La từ giữa thế kỷ XVI đến
năm 1945. Trong quá trình nghiên cứu chúng tôi có đề cập đôi nét về làng Văn
La sau năm 1945.
* Về mặt không gian:
Không gian nghiên cứu của luận văn được xác định rõ ràng trong phạm vi
không gian của làng Văn La từ giữa thế kỷ XVI đến năm 1945. Những nội dung
khác không nằm trong phạm vi nghiên cứu của đề tài.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là lịch sử văn hóa làng Văn La, trong đó
chúng tôi xác định nhiệm vụ nghiên cứu như sau:
- Làm rõ quá trình hình thành và phát triển của làng Văn La.
- Đi sâu nghiên cứu những giá trị văn hóa vật chất và tinh thần của làng
Văn La để thấy được những nét chung và nét riêng về văn hóa làng Văn La.
ở các trường THPT của tỉnh Quảng Bình.
Giáo dục thế hệ trẻ hiểu thêm về lịch sử của các làng nói riêng, của dân tộc
nói chung, hiểu thêm về công lao của cha ông, về những tấm gương sáng, từ đó
biết nâng niu, trân trọng, gìn giữ và có ý thức phát huy truyền thống tốt đẹp của làng.
6. Bố cục của luận văn
Ngoài phần mở đầu, phần kết luận, danh mục, tài liệu tham khảo và phụ lục
thì nội dung chính của luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Quá trình hình thành, phát triển và những đóng góp của
dân làng Văn La đối với quê hương, đất nước.
Chương 2: Đời sống văn hóa vật chất của cư dân làng Văn La
Chương 3: Đời sống văn hóa tinh thần của cư dân làng Văn La
12
NỘI DUNG
CHƯƠNG 1
Quá trình hình thành, phát triển và những đóng góp
của dân làng Văn La đối với quê hương, đất nước
1.1. Vài nét về điều kiện tự nhiên
1.1.1. Vị trí địa lý
Rời thành phố Đồng Hới (tỉnh Quảng Bình), đi về hướng Nam theo quốc
lộ 1A khoảng chừng 5km là đến địa phận làng Văn La. Làng Văn La - Lương
Ninh nằm phía Bắc huyện Quảng Ninh, ở vào vĩ tuyến 17,26 độ Bắc.
Văn La là vùng đất sơn thủy hữu tình. Phía đông (trước mặt) là dòng sông
Nhật Lệ hiền hòa, nước xanh biêng biếc, thơ mộng với những cù lao xanh giữa
dòng. Phía tây (sau lưng) là dãy đồi sim mua (thuộc sơn hệ Trường Sơn thoai
thoải thấp dần về hướng đông) tiếp giáp với đất đồi làng Trung Trinh, làng Vĩnh
Tuy, ruộng lúa làng Lệ Kỳ (xã Vĩnh Ninh). Phía bắc giáp với làng Lương Yến
(xã Lương Ninh). Điểm cuối cùng phía nam của làng chính là bến đò Hàu bờ
+ Đất phi nông nghiệp: 235,09 ha, chiếm 42,94% đất đang sử dụng.
- Đất chưa sử dụng: 14,10 ha, chiếm 2,51% diện tích tự nhiên.[49,27]
Trong tổng diện tích đất nông nghiệp của xã gồm có các loại sau:
- Đất sản xuất nông nghiệp: 248,22 ha, chiếm 79,46% tổng diện tích đất nông
nghiệp, trong đó:
+ Đất trồng cây hàng năm là 229,9 ha, chiếm 92,62% tổng diện tích đất sản
xuất nông nghiệp, bao gồm đất trồng lúa là 201,19 ha và đất trồng cây hàng năm
khác là 28,71 ha.
+ Đất trồng cây lâu năm là 18,32 ha, chiếm 7,38% tổng diện tích đất sản
xuất nông nghiệp của xã.
- Đất lâm nghiệp là 19,61 ha chiếm 6,28% tổng diện tích đất nông nghiệp
toàn xã, trong đó diện tích đất rừng sản xuất là 19,61 ha chiếm 100% diện tích
đất lâm nghiệp.[49,27]
Thành phần đất của làng Văn La được chia thành các nhóm sau:
14
- Nhóm đất xám (Acriols): Loại đất này có tầng B tích sét (Argic) với khả
năng trao đổi cation dưới 24mep/100g sét và độ bảo hoà bazơ < 50% tối thiểu là
ở một phần tầng B thuộc lớp đất 20 - 125 cm. [49, 3]
- Nhóm đất xám Feralit: Được hình thành trên các loại đá mẹ nghèo kiềm,
có thành phần cơ giới từ thịt nhẹ đến sét. Do phân bố trong điều kiện nhiệt đới
ẩm, khoáng sét bị biến đổi đáng kể, quá trình bị rửa trôi sét và cation kiềm thô
xảy ra mạnh mẽ, tạo cho đất có tầng tích tụ (tầng Arigic) có dung lượng trao đổi
cation thấp (dưới 24 mep/100 sét) và có độ bão hòa bazơ < 50%.[49, 3]
- Đất xám bạc màu: Được hình thành trên các loại mẫu chất đá mẹ, có
thành phần cơ giới nhẹ. Đất có thành phần cơ giới nhẹ, tỷ cấp hạt các 77,6 81,2%, cấp hạt sét 2,8 - 7,8%, cấp hạt thịt 14,6 - 16%. Phản ứng của đất khá
chua Phkcl4,09 - 4,12, cation kiềm trao đổi tổng nghèo < 1 mep/100g đất. Hàm
lượng mùn và đạm tổng số tầng mặt thấp, tầng dưới nghèo. Lân tổng số trung
ruộng bao la, lác đác những đồi cao với lùm lòi rậm rạp. Nếu tính về ranh giới
địa lí, con sông Nhật Lệ thuộc về Văn La tính từ Xóm Đáy về đến Đồng Biền
(nay là xóm 1 Văn La) dài khoảng 3km. Con sông mặn mòi quanh năm, không
có tác dụng tưới tắm cho đồng ruộng Văn La nhưng hàng năm dòng sông cũng
tải nặng phù sa bồi đắp cho nhiều vùng ruộng đất Văn La. Chính lượng phù sa
16
đó đã làm cho đất Cồn Soi, Cồn Dừa, Đồng Biền ngày một rộng thêm. Dòng
sông nước lợ chịu ảnh hưởng trực tiếp của thủy triều chính là nơi cung cấp
những loại thủy sản đặc biệt bổ dưỡng. Sông Nhật Lệ được ví như chiếc máy
điều hòa nhiệt độ khổng lồ của làng, nhất là vào những trưa hè nắng gắt. Sông
Nhật Lệ còn là chiến địa khốc liệt đẫm máu thời Trịnh - Nguyễn phân tranh.
Năm 1648, chúa Nguyễn Phúc Lan sai Phúc Tần chỉ huy đạo quân phòng ngự ở
đây. Phúc Tần sai tướng Trần Phương đem thủy binh phục ở sông Cẩm La (nay
là Văn La) khoảng bến đò Hàu (tức Quán Hàu-Văn La) đánh cho quân Trịnh
một trận tơi bời, phần thì bị chết đuối, phần bị bắt sống rất nhiều. Trên mảnh
đất Văn La còn lưu lại những địa danh có liên quan đến trận tuyến thời ấy như:
Động Chòi, Động Cháy, Cồn Hội, Cồn Cơm, động Khu Voi... kèm theo những
huyền thoại, sự tích thú vị. Trong kháng chiến chống Mĩ, bến phà Quán Hàu
cũng là một trong những trọng điểm bắn phá của không quân Mĩ. Bến phà Quán
Hàu đã đưa hàng ngàn bộ đội, nhân dân, hàng vạn tấn vũ khí, hàng hóa, lương
thực… qua sông chi viện cho chiến trường. Bến phà Quán Hàu đã chứng kiến
bao cuộc chiến đấu anh dũng, sự hi sinh oanh liệt của các chiến sĩ giao thông
vận tải. Bộ Văn hóa - Thông tin có Quyết định số 62 - 2003 ký ngày 27/11/2003
công nhận Bến phà Quán Hàu là Di tích lịch sử cấp Nhà nước. [12,122]
Ngoài ra, Văn La còn có một số khe suối nhưng chỉ chảy về mùa mưa gọi
là Khe Cạn. Những khe suối này sau cạn dần và biến thành ruộng vãi nên có tên
gọi Ruộng Khe. Nếu tính từ vực Bàu Lái đổ ra cánh đồng chính của làng sẽ có
không đều giữa các tháng trong năm, mùa khô nóng (tháng 4 đến 8), mưa ít,
lượng mưa chiếm khoảng 20 - 25% tổng lượng mưa cả năm. Mùa mưa (tháng 9
đến 12), lượng mưa chiếm đến 75 - 80% tổng lượng mưa cả năm. Tổng số ngày
mưa trung bình khoảng 135 ngày/năm, tháng có lượng mưa lớn nhất là tháng 9,
10 (502 - 668 mm), tháng có lượng mưa thấp nhất là tháng 4 (44 - 46 mm). [49,1]
Độ ẩm không khí khá cao trung bình 82 - 84%, độ ẩm không khí thấp nhất
là 60% vào tháng 6-7, độ ẩm không khí cao nhất là 87% vào tháng 10-12.
Chế độ gió: Có 2 hướng gió thịnh hành (gió mùa Đông Bắc từ tháng 9 đến
tháng 4 năm sau và gió Tây Nam khô nóng từ tháng 4 đến tháng 8), ảnh hưởng
tới chế độ nhiệt và có sự phân bố rõ theo mùa. Cả hai hướng gió này đều ảnh
hưởng đến sản xuất nông nghiệp và đời sống nhân dân trên địa bàn.
18
Văn La - Lương Ninh nằm trong vùng Bắc Trung Bộ nên hàng năm phải
chịu ảnh hưởng của gió bão (trung bình hàng năm có từ 2 đến 3 cơn bão ảnh
hưởng tới), kèm theo đó là mưa lớn tập trung gây úng lụt ảnh hưởng tới sản xuất
và đời sống của người dân.
1.2. Quá trình khai đất, lập làng và phát triển của làng Văn La từ giữa thế kỉ
XVI đến năm 1945
1.2.1. Duyên cách địa lý và tên gọi làng Văn La qua các thời kỳ
Theo giai thoại truyền khẩu ở làng Văn La, thuở người Tàu còn đô hộ nước
ta, thấy đất Văn La là đất sinh vương nên đã cho đào 5 cái giếng (giếng Hang)
để cắt long mạch. Chính sử ghi lại rằng, thời Tây Hán năm 111 tr.CN vùng đất
Quảng Ninh thuộc Tây Quyển, quận Nhật Nam. Năm 289 (Thái Khang thứ 10),
chia Tây Quyển để đặt thêm Thọ Linh, huyện Quảng Ninh vẫn thuộc Tây
Quyển. Thời Tây Tấn (265 - 420), huyện Quảng Ninh thuộc Tỷ Ảnh. Từ đời
Thái Khang về sau, tuy rằng Lâm Ấp lấn sang Nhật Nam và đánh Giao Châu,
nhưng chỉ là nhất thời chứ trong phần lớn thời gian có lẽ nhà Tấn vẫn giữ được
Ninh. Năm 1985, xã Lương Ninh và xã Vĩnh Ninh chuyển về Đồng Hới. Năm
1990, hai xã Lương Ninh và Vĩnh Ninh lại trở về với huyện Quảng Ninh. Năm
1999, thị trấn Quán Hàu được thành lập trên cơ sở tách một phần của Văn La,
Trung Trinh, Phú Bình, Hữu Hùng và Thiện Phú.[1,121]
Như vậy, trải qua các thời kì lịch sử, tính từ giữa thế kỉ XVI đến nay, làng
Văn La chỉ một lần đổi tên gọi rồi lấy lại tên cũ và giữ mãi đến bây giờ, nhưng
về không gian địa lý của làng Văn La thì có nhiều thay đổi so với trước. Chính
vì vậy, việc lưu giữ những giá trị văn hóa truyền thống của Làng là hết sức cần
thiết cho hôm nay và mai sau.
1.2.2. Quá trình định cư của các dòng họ trên vùng đất Văn La
Trải qua quá trình lịch sử, vùng đất Văn La - huyện Quảng Ninh nói riêng,
tỉnh Quảng Bình nói chung, lúc thì thuộc về Chiêm Thành, lúc thì thuộc về Đại
Việt. Quảng Bình từng là địa bàn cư trú của các dân tộc Chăm và một số dân tộc
thiểu số khác. Tuy nhiên, theo “Ô châu cận lục”, thì Văn La là một làng thuần
Việt, người Văn La “có tiếng nói gần giống châu Hoan”[6,62]. Như vậy, xét về
nguồn gốc thì người Văn La có nguồn gốc chủ yếu từ Thanh - Nghệ - Tĩnh vào.
Làng Văn La có thể được hình thành khi Lý Thường Kiệt mộ dân khai hoang lập
ấp trên đất Địa Lý (đổi thành châu Lâm Bình). “…việc di dân lập ấp dưới thời
20
Lý Nhân Tông nhiều người ở phía bắc đã di cư vào đây lập nghiệp nhưng họ
không dừng lại ở châu Bố Chính mà đi thẳng vào Lâm Bình nơi vùng đất bằng
phẳng, phì nhiêu hơn”[40,90] Hoặc “từ đời Trần, đời Hồ chiêu mộ dân đến lập
nghiệp” [6,143]. Hoặc có thể muộn hơn, lúc vua Lê Thánh Tông (1460 - 1497)
ban chính sách lập đồn điền với việc khẩn hoang quy mô lớn.
Theo thông lệ của triều đình phong kiến, khi dân đến định cư khai hoang,
khẩn đất ở một vùng hoang vu, chưa có tổ chức làng xã, khi có từ 9 dòng họ sẽ
được lập làng, có 10 đến 12 dòng tộc chung sống, được lập xã. Trên 12 họ là đại
Phú. Thời kỳ chiến tranh chống Mỹ xóm Thiện Phú nhập với làng Hữu Hùng
thành thôn Hùng Phú, HTX Hùng Phú, (nay là vùng đất phía nam của tiểu khu V
dọc đường lên tiểu khu VI Trung Trinh). Trải qua thời gian, dân cư ở Văn La
ngày càng đông đúc lên bởi nhiều cuộc di dân khác. Vào cuối 1944 - đầu 1945,
trước nạn đói nặng nề làm hơn 2 triệu đồng bào chết đói, dân xiêu bạt, tha
phương cầu thực đến đây tìm thấy được tình cảm ấm áp chân tình của người
dân Văn La đã xin dừng chân ở lại Văn La. Đầu năm 1947, giặc Pháp đổ bộ lên
đất Văn La, lập đồn Quán Hàu. Các xóm Chợ , xóm Rèn, xóm Giáo, làng Hữu
Hùng bị chiếm làm đồn bốt của Tây, dân cư di tản về sống cùng dân Văn La. Bà
con xóm Giáo hầu hết về cư trú tại xứ Đạo Tam Tòa, thị xã Đồng Hới làm ăn
sinh sống và thực hiện các nghi lễ tôn giáo.
Cư dân Văn La cùng với dân Hữu Hùng, Thiện Phú, Phú Bình gắn bó,
hòa quyện, đan xen về mọi mặt văn hóa xã hội, phong tục tập quán, sản xuất
kinh doanh... tạo thành một cộng đồng lớn bao gồm nhiều thôn xóm khó phân
biệt rạch ròi về phong cách, lối sống đời thường.
Năm 1954, khi kháng chiến chống Pháp kết thúc, hòa bình lập lại, đất
nước chia cắt 2 miền Nam - Bắc. Vĩ tuyến 17- sông Hiền Lương ranh giới tạm
thời. Một số gia đình theo binh nghiệp thời tạm chiếm vào miền Nam cư trú ở
các tỉnh Thừa Thiên-Huế, Đà Nẵng, Bình Thuận, Đồng Nai, Sài Gòn. Đồng bào
xóm Giáo Văn La ở Tam Tòa cùng di cư vào Nam trú tại Lăng Cô, Thừa Thiên,
Thủ Đức, Sài Gòn... Đồng thời trên vài chục gia đình bà con sống bằng nghề
sông nước ở Nam Trị (Quảng Trị) tập kết ra Bắc nhập cư tại Quán Hàu. Trung
Đoàn 101 của Trị Thiên về đóng quân vùng đồi phía tây làng, làm nhiệm vụ bảo
vệ giới tuyến 17 và miền Bắc xã hội chủ nghĩa. Nhiều chàng trai bộ đội 101 kết
duyên với các cô gái làng, xây dựng gia đình, sinh con đẻ cái, định cư khi giải
ngũ, tăng thêm dân số và dòng họ ở quê ta. Sau Giảm tô, Cải cách ruộng đất,
22
23
thất học, hoặc thất lạc” nên việc ghi chép gia phả còn nhiều thiếu sót, hoặc do
một số lí do khác (chiến tranh, bão lụt lưu lạc…) nên gia phả gốc không còn,
hoặc chỉ lấy “đời đệ ngũ làm đời đệ nhất” của dòng họ mình.[16,2]
Dòng họ nào khai khẩn khai canh ra làng Văn La đến nay vẫn chưa biết
chính xác được. Theo truyền ngôn thì họ “Lê cái” (là họ Lê có nhiều nhân khẩu
nhất trong các họ Lê trong làng) là họ có sắc phong của nhà vua, là họ tiền khai
khẩn, còn các họ Hoàng, Đỗ, Phan, Nguyễn… có công hậu khai canh. Có dòng
họ mới chấm dứt cảnh ngụ cư khi cách mạng tháng Tám thành công.
Một số gia phả của các dòng họ chỉ ghi một cách sơ sài ngày tháng mất,
nơi mộ táng để nhớ hương khói. Khi đọc gia phả của một dòng họ có ghi đời thứ
mấy một cách chính xác, rồi căn cứ vào đời này chúng tôi đi ngược thời gian,
chỉ lấy trung bình một thế hệ 25 năm mà tính ngược lại. Ví dụ : Họ Hoàng gốc ở
Khánh Hòa, đi lính chúa Nguyễn đóng ở Hữu Thiệp, đời thứ 2 về định cư ở Văn
La. Đời thứ 6 là ông Hoàng Kế Viêm, gia phả họ Hoàng có ghi sinh năm 1820,
như vậy trước đó 4 đời là khoảng 100 năm. Vậy họ Hoàng có mặt ở Văn La
khoảng 1720, thời chúa Nguyễn Phúc Chu (1725 - 1738) tức thời vua Lê Dụ
Tông (1706 - 1728). Theo cách tình như vậy thì họ Đỗ từ Bình Phúc đến định cư
tại Văn La khoảng 1750. Họ Lê (cái) định cư vào năm 1638, thời chúa Nguyễn
Phúc Lan (1635 - 1648) tức thời vua Lê Thần Tông (1619 - 1643), … Niên đại
tính toán trên chỉ mang tính chất tương đối mà thôi. Để xác minh được dòng họ
nào có công khai khẩn khai canh vẫn là một vấn đề cần tiếp tục tìm hiểu nghiên cứu.
Như vậy, có thể nói rằng, qua nhiều nguồn tư liệu và qua thực tế gia phả
của các dòng họ ở Văn La, chúng tôi nhận thấy về thực chất, mỗi dòng họ ở đây
chỉ là một bộ phận nhỏ của dòng họ gốc từ các địa phương khác nhau, trong
những khoảng thời gian khác nhau và với nhiều nguyên nhân khác nhau như:
- Do được chiêu mộ đi khai khẩn đất hoang
sa bồi đắp lâu ngày mà dài thêm. Để giữ đất, xung quanh cồn dân làng trồng sú,
đước, vẹt; chính giữa là đất màu trồng được đậu đỗ, ngô và các loại rau màu.
Song song với Cồn Soi là Cồn Dừa, đó là một doi đất bồi của dòng sông. Phía
tây Cồn Dừa là một lạch nước sau này làng đắp đập khẩn hoang thành ra ruộng
Khẩn. Ruộng Khẩn nằm sát bên sông nên nhiễm mặn. Người dân đã biết cải tạo
đồng ruộng chống nhiễm mặn, nhiễm phèn, lai tạo tìm được giống lúa chịu được
25
loại ruộng này. Ngoài ra, ruộng Khẩn còn có nhiều tôm, cá…Vụ gặt tháng 5
cũng là lúc tháo nước cửa khâu bắt tôm, cá.
Xóm Động hình thành còn kèm theo sự khai phá vùng đất đồi để trồng
khoai trỉa bắp (ngô), nhiều nhất vẫn là khoai lang. Văn La có câu: “Không khoai
lang bỏ làng mà đi”. Khoai là loại lương thực quan trọng thứ hai sau lúa gạo.
Vùng đất trồng khoai ngon nhất ở Văn La là đất Cửa Lăng. Có giai thoại truyền
miệng ở Văn La rằng, ăn khoai Cửa Lăng phải đeo kính mắt và chuẩn bị sẵn ca
nước. Ngoài ra còn có khoai từ, khoai tía. Nhưng giá trị kinh tế nhất vẫn là củ
đậu. Người Văn La khấm khá lên, thoát khỏi đói nghèo, có tường xây mái ngói
nhờ bán củ đậu.
Từ thuở xa xưa ấy, người Văn La đã nghĩ đến việc làm kinh tế trang trại.
Đầu thế kỉ XX, sau khi từ quan về nghỉ hưu ở quê nhà, Hoàng Kế Viêm đã vận
động dân đến lập trang trại (đồn điền) khai hoang vùng cồn cỏ hoang hóa ở Thế
Lộc (xã Tân Ninh bây giờ). Chuyện rằng: Theo phép nước quy định, khi ông
nghỉ hưu triều đình ban cho ông 4 mẫu ruộng “lộc điền” thuộc loại nhất đẳng để
làm tự điền hương hỏa, nhưng ông chỉ chọn 4 mẫu đất cồn cỏ hoang ở làng Thế
Lộc bởi ông sợ chọn ruộng tốt ở đâu thì Triều đình sẽ thu lại ruộng của dân mà
cấp cho ông, dân sẽ mất ruộng. Ông vận động con cháu, chiêu tập dân phiêu tán
khai hoang, làm hệ thống nước tự chảy dẫn nước từ Mỹ Trung về tưới cho đồng
ruộng. Cánh đồng hoang biến thành cánh đồng hai vụ (vụ chiêm và vụ tám), đủ