MỤC LỤC
Trang
LỜI GIỚI THIỆU.......................................................................................
5
PHẦN MỞ ĐẦU...........................................................................................
11
Chương I. NHỮNG TIỀN ĐỀ LỊCH SỬ XÃ HỘI VÀ VĂN HOÁ CỦA PHÊ
BÌNH VĂN HỌC VIỆT NAM TỪ ĐẦU THẾ KỈ XX ĐẾN NĂM
1945..............................................
27
1. Nền văn học được hiện đại hoá đòi hỏi sự ra đời của phê bình văn học như là
một
hoạt
động
chuyên
môn............................................................................................................................
28
2. Sự ra đời của báo chí, sự xuất hiện của tầng lớp trí thức có học vấn tương
đối cao - là những tiền đề văn hoá trực tiếp của phê bình văn
học………..................
35
Chương II. QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH, DIỆN MẠO VÀ ĐẶC ĐIỂM
CỦA PHÊ BÌNH VĂN HỌC VIỆT NAM TỪ ĐẦU THẾ KỈ XX ĐẾN NĂM
1945...
53
I. Thời kì từ đầu thế kỉ XX đến 1945, phê bình văn học theo nghĩa hiện đại
thực sự ra đời…..........................
53
II. Một số đặc điểm cơ bản của phê bình văn học Việt Nam trong 45 năm
đầu thế kỉ……………...............……......
72
Chương
III.
MỘT
SỐ
TÁC
GIẢ
PHÊ
BÌNH
TIÊU
BIỂU........................................................................................................................
113
I. Thiếu Sơn với công trình "Phê bình và cảo
văn học - chúng thể hiện sự “tự nhận thức của bản thân văn học” như ý kiến xác đáng của nhà lí luận phê
bình kiệt xuất V.G. Bielinki.
Từ nay ở trình độ phát triển mới của văn học hiện đại, khi mà cá tính sáng tạo của nhà văn được đề
cao và đòi hỏi của các loại độc giả được quan tâm đáp ứng, tác phẩm văn học là một loại hàng hoá phi vật
thể, thì phê bình văn học trở thành một hình thái tiếp nhận văn học đặc biệt, do những cây bút phê bình
đảm trách.
Phê bình văn học giờ đây là một phương diện then chốt của đời sống văn học, không chỉ nhằm cảm
thụ, định giá thẩm mĩ một cách tinh tế, trung thực và khoa học, khách quan về tác phẩm, tác giả mà sâu xa
hơn, nó là một nhân tố thúc đẩy sự vận động của cả tiến trình văn học trong mối quan hệ với đời sống xã
hội, với tác giả và tác phẩm, với công chúng rộng rãi.
Cũng trong cuốn sách này, Trần Thị Việt Trung dụng bút đi sâu vào tứ đại gia, còn gọi là nhà văn
phê bình, hoạt động có hiệu quả nổi bật trong thời kì này là: Thiếu Sơn, Hoài Thanh, Vũ Ngọc Phan và
Hải Triều. Họ có những đóng góp để đời, là đại diện cho sự tìm tòi đa dạng các kiến thức và phương pháp
phê bình mới tiếp nhận từ phương Tây hiện đại, và là những phong cách phê bình độc đáo đương thời, đời
sau không thôi nhắc nhở, ngưỡng mộ.
*
*
*
Trên mặt bằng nghiên cứu văn học từ hơn nửa thế kỉ nay, trước và sau Trần Thị Việt Trung những chuyên luận về lịch sử phê bình văn học Việt Nam nửa đầu thế kỉ XX, được xuất bản trong
nước, còn chưa nhiều
(*)
. Nhưng mỗi tác giả, người trước khai mở, người sau kế thừa và tiếp nối, với
bản lĩnh học thuật, kiến văn có giới hạn, vẫn cố gắng đưa ra những ý kiến riêng góp phần nhận chân về
các khuynh hướng, phương pháp và đội ngũ người viết phê bình văn học Việt Nam hiện đại khởi phát
từ buổi giao thời cũ / mới; thi pháp trung đại / thi pháp hiện đại; văn nghệ chức năng / văn chương
1. Như chúng ta đã biết, có sáng tác văn học là hầu như có hoạt động phê bình. Cho nên, bề dày của
lịch sử phê bình chắc chắn không thua kém so với bề dày của lịch sử văn học.
Văn học không phải là hiện tượng nhất thành bất biến. Trên phạm vi toàn thế giới, trước và sau thế
kỉ XVII, văn học tồn tại trong những hình thái lịch sử hoàn toàn khác nhau. Ở Việt Nam cũng vậy, cho
đến tận cuối thế kỉ XIX, văn học dân tộc vẫn dừng lại ở phạm trù trung đại, mang tính cổ điển. Từ đầu thế
kỉ XX, văn học Việt Nam đã phá vỡ cái thế khoanh vùng, khép kín để gia nhập vào tiến trình văn học
nhân loại. Đây chính là quá trình liên tiếp xuất hiện những cách tân nghệ thuật khiến cho diện mạo nền
văn học nước nhà hoàn toàn thay đổi theo hướng hiện đại hoá.
Phê bình là sự tự ý thức của văn học. Cho nên, tương ứng với các hình thái tồn tại của văn học, phê
bình cũng có các hình thái lịch sử khác nhau. Văn học cổ điển Việt Nam tồn tại như tổng số giản đơn của
những tác phẩm riêng lẻ. Vì thế người ta nhận ra diện mạo của nó qua tên tuổi một số tác gia tiêu biểu
cùng một hệ thống các loại thể tác phẩm có đường ranh giới phân chia khá rạch ròi. Tương ứng với hình
thái tồn tại của văn học, trước thế kỉ XX, nền phê bình của dân tộc cũng chỉ dừng lại ở lối phê bình kiểu
cổ. Phê bình kiểu cổ thiên về đánh giá, phẩm bình hơn là phân tích, giải thích các hiện tượng văn học. Nó
chỉ cần biết tới văn bản tác phẩm với những “thần cú”, “nhãn tự”, mà không cần biết tới những quan hệ
xã hội phức tạp đã sản sinh ra tác phẩm đó. Chỗ dựa để đánh giá, phẩm bình của nó là các chuẩn mực quy
phạm, chứ không phải là cá tính sáng tạo của nhà văn. Hai dạng cơ bản của phê bình kiểu cổ là phê bình
tri âm và phê bình kí thác. Nói như thế để thấy, phê bình kiểu cổ thường đứng ngoài, đứng trên quá trình
văn học để phẩm bình, đánh giá văn học.
Chỗ dựa của các kiểu sáng tác hiện đại không phải là những phạm trù xã hội quy phạm, mà là tính
sáng tạo của nhà văn. Đây là cơ sở tạo nên những phong cách cá nhân đa dạng, những trào lưu, trường
phái sáng tác có quan điểm xã hội - thẩm mĩ riêng. Cho nên, khác với văn học trung đại, từ đầu thế kỉ XX,
nhất là từ những năm 30, văn học Việt Nam vận động và phát triển trong mối quan hệ tương tác vô cùng
phức tạp của các khuynh hướng, trào lưu nghệ thuật. Phù hợp với hình thái tồn tại lịch sử của văn học,
phê bình hiện đại buộc phải trở thành một hiện tượng xã hội đặc thù. Khác với phê bình kiểu cổ, phê bình
hiện đại là một hoạt động tác động, nó vừa tác động vào công chúng bạn đọc để tạo ra dư luận đối với tác
phẩm văn học, vừa tác động vào sáng tác để thúc đẩy văn học tiến lên phía trước. Chính vì thế, phê bình
hiện đại không thể đứng ngoài, đứng trên, mà nhập hẳn vào quá trình văn học với tư cách là nhân tố tổ
của chúng ta vẫn “tự túc” công việc phê bình. Ở thời ấy, các nhà phê bình đồng thời cũng là những người
sáng tác. Từ đầu thế kỉ XX, nhất là từ những năm 30, nền phê bình văn học mang tính chuyên nghiệp bắt
đầu xuất hiện và trưởng thành rất nhanh chóng. Trên văn đàn thấy xuất hiện nhiều tên tuổi, nhiều cây bút
có ảnh hưởng to lớn tới sự vận động và phát triển của tiến trình văn học. Cho nên, cuốn sách mà chúng tôi
biên soạn này còn có nhiệm vụ phân tích, đánh giá sự nghiệp phê bình của những cây bút có uy tín như:
Thiếu Sơn, Hoài Thanh, Vũ Ngọc Phan, Hải Triều… để giúp người đọc hình dung được vai trò lịch sử
của họ đối với tiến trình văn học hiện đại nói chung, với quá trình hình thành, phát triển của nền phê
bình hiện đại nói riêng.
4. Tình hình nghiên cứu về lịch sử phê bình văn học hiện đại Việt Nam từ đầu thế kỉ đến năm 1945.
Sự thực là: Giới nghiên cứu văn học Việt Nam đang mắc nợ với lịch sử phê bình văn học dân tộc.
Cho đến nay vẫn chưa thấy xuất hiện một công trình dài hơi nào viết về lịch sử phê bình hiện đại. Dĩ
nhiên, chúng tôi không bắt đầu công việc của mình trên một mảnh đất trống. Hơn 60 năm qua đã có khá
nhiều bài báo, bài nghiên cứu tập trung bàn bạc, phân tích, đánh giá lịch sử phê bình văn học hiện đại
trước năm 1945. Chúng tôi tạm chia quá trình nghiên cứu về nửa thế kỉ của lịch sử phê bình dân tộc thành
3 giai đoạn chính như sau:
4.1. Giai đoạn trước 1945
Khi hoạt động phê bình văn học vừa được hình thành, thì người ta cũng thấy xuất hiện ngay những
bài báo, những ý kiến phê bình của các nhà phê bình. Cuốn “Phê bình và cảo luận” của Thiếu Sơn xuất
bản năm 1933, và ngay trong năm ấy, Phan Khôi đã kịp thời trân trọng giới thiệu với người đọc “nàng
dâu mới” và đánh giá cao cuốn phê bình văn học bằng chữ quốc ngữ đầu tiên này của Việt Nam. Các
công trình: “Thi nhân Việt Nam” của Hoài Thanh và Hoài Chân, “Trông dòng sông Vị” của Trần Thanh
Mại, “Dưới mắt tôi” của Trương Chính, “Văn chương Truyện Kiều”, “Tâm lí tư tưởng Nguyễn Công Trứ”
của Trương Tửu… cũng nhận được hồi âm ngay từ khi chúng mới ra đời, còn thơm nguyên mùi giấy
mực; Kiều Thanh Quế, Diệu Anh, Lê Thanh, Mộc Khuê, Lương Đức Thiệp, Vũ Ngọc Phan đã kịp thời
đưa ra những ý kiến đánh giá về nhiều tác gia, tác phẩm phê bình của văn học giai đoạn này. Hàng loạt
chuyên luận, công trình nghiên cứu ra đời vào đầu những năm 40 - chứng tỏ từ đây, khi bàn về lịch sử văn
học đương đại, người ta không thể không nhắc tới phê bình. Và phê bình văn học đương đại đã trở thành
đối tượng xem xét của Lê Thanh trong hai cuốn “Cuộc phỏng vấn các nhà văn” (1943) và “Cuốn sổ văn
học” (1944), của Mộc Khuê trong “Ba mươi năm văn học” (1942), của Kiều Thanh Quế trong “Cuộc tiến
hóa của văn học Việt Nam (1942) và của Vũ Ngọc Phan trong bộ sách khá đồ sộ “Nhà văn hiện đại”
Trong chín năm đánh Pháp, có lẽ vì công việc kháng chiến quá bề bộn nên không thấy có ai đặt vấn
đề nghiên cứu một cách có hệ thống hoạt động phê bình văn học trước 1945. Ở giai đoạn “nhận đường”
của văn học cách mạng, trong những đợt sinh hoạt tư tưởng lớn, như “Hội nghị văn hóa toàn quốc” tháng
7/1948, cuộc Chỉnh huấn năm 1953, trong những cuộc tranh luận về hàng loạt vấn đề quan trọng như:
nghệ thuật và tuyên truyền, văn học và sự lãnh đạo của Đảng, chủ nghĩa hiện thực xã hội chủ nghĩa, tính
dân tộc và sự kế thừa vốn cũ…, giới nghiên cứu và giới sáng tác thường chỉ tập trung phê phán phương
diện “bạc nhược”, “tiêu cực” của văn học lãng mạn trước kia và những biểu hiện của “mộng rớt”, “buồn
rớt” trong văn thơ thời kháng chiến chống Pháp. Các cuộc tranh luận về tư tưởng văn nghệ, những hiện
tượng nổi bật trong đời sống phê bình văn học thời kì trước cách mạng không mấy khi được nhắc lại.
Phải đến sau năm 1954, nhất là từ những năm 1960, hoạt động phê bình văn học giai đoạn 1900 1945 mới lại thu hút sự quan tâm của giới nghiên cứu. Kể từ đây, phê bình văn học thời trước cách mạng
thực sự trở thành đối tượng nghiên cứu lịch sử. Trên báo chí, nhất là trên tờ Tạp chí Văn học thấy liên tiếp
xuất hiện nhiều bài viết của những cây bút có tên tuổi về các tác gia, tác phẩm phê bình hiện đại như:
Đặng Thai Mai, Bùi Công Trừng, Hoài Thanh, Như Phong, Trương Chính, Vũ Đức Phúc, Phan Cự Đệ...
Nhiều bài viết trong số ấy đã gây được tiếng vang trong giới nghiên cứu và những ai quan tâm tới đời
sống văn học, “Câu chuyện đấu tranh buổi đầu trên mặt trận văn học” của Bùi Công Trừng, “Hồi ức về
phê bình văn học trước cách mạng Tháng Tám” của Vũ Ngọc Phan, “Bàn thêm về cuộc tranh luận xung
quanh Truyện Kiều” của Trương Chính, “Nhìn lại cuộc đấu tranh luận về nghệ thuật hồi 1935 - 1936”
và “Một vài ý kiến về phong trào Thơ Mới và cuốn Thi nhân Việt Nam” của Hoài Thanh… Tất cả các
cuốn sách giáo trình về lịch sử văn học Việt Nam giai đoạn 1930 - 1945 của hai trường: Đại học Sư phạm
và Đại học Tổng hợp - Hà Nội đều dành một vị trí đáng kể cho việc xem xét, đánh giá về phê bình văn
học thời trước cách mạng. Năm 1971, Vũ Đức Phúc cho xuất bản chuyên luận “Bàn về những cuộc đấu
tranh tư tưởng trong lịch sử văn học Việt Nam hiện đại (1930 - 1945)”. Ở phía Nam, dưới thời Mỹ Nguỵ, Thanh Lãng là nhà nghiên cứu rất quan tâm tới lịch sử phê bình văn học giai đoạn 1930 - 1945…
Trong cuốn “Bản lược đồ văn học Việt Nam” (quyển hạ), Nguyễn Tiến Lãng dành riêng một chương viết
về lịch sử văn phê bình thế hệ 1932. Năm 1972, Thanh Lãng cho xuất bản công trình có giá trị tư liệu
“Phê bình văn học thế hệ 1932 - 1945”. Nhìn chung, kể từ sau 1954, giới nghiên cứu ở hai miền Nam,
Bắc, mà chủ yếu là miền Bắc, đã đặt ra và giải quyết hàng loạt vấn đề quan trọng về lịch sử phê bình văn
học thời trước cách mạng.
Rất dễ nhận ra là trong các bài báo, các giáo trình lịch sử văn học, các chuyên luận lớn, giới nghiên
IV. Sự bế tắc của văn học công khai dưới ách phát xít Nhật - Pháp (thời kì 1940 - 1945). Đảng cộng sản
Đông Dương và việc lãnh đạo văn học trước ngày Tổng khởi nghĩa Tháng Tám 1945. Thái độ của Đảng đối
với các trào lưu văn hóa công khai, hợp pháp.
V. Nhận định chung
Nhìn vào nhan đề cuốn sách và những tiểu mục cụ thể ở trên, ai cũng có thể nhận ra: Vũ Đức Phúc đã
đồng nhất lịch sử văn học và lịch sử phê bình với lịch sử đấu tranh tư tưởng xã hội. Cho nên, trong cách
phân chia của Vũ Đức Phúc, phê bình chỉ có thể có hai khuynh hướng: Phê bình Mácxít - cách mạng và
phê bình tư sản - phản động. Phải thừa nhận, quan điểm nghiên cứu của Vũ Đức Phúc là quan điểm phổ
biến của một thời. Tuy ở mức độ khác nhau, nhưng Bùi Công Trừng, Đặng Thai Mai, Phan Cự Đệ…
cũng trình bày lịch sử đấu tranh tư tưởng xã hội như vậy. Từ góc độ ấy, các nhà nghiên cứu đã đưa ra
nhiều ý kiến xác đáng trong việc đánh giá công lao của phê bình Mácxít đối với quá trình hình thành và
phát triển của nền văn học cách mạng. Tuy nhiên, khi lịch sử phê bình đã bị đồng nhất với lịch sử tư
tưởng xã hội, các nhà nghiên cứu khó có thể phát hiện được quy luật phát triển nội tại của nó. Diện mạo
của phê bình vì thế cũng thường bị trình bày một cách thiếu toàn diện. Dường như chưa có công trình nào
trình bày lịch sử phê bình như là một phương diện hợp thành của quá trình văn học hiện đại. Trong các
cuốn sách giáo khoa, giáo trình - lịch sử phê bình chỉ được nhắc tới ở phần tình hình, bối cảnh của văn
học. Quả là chưa thấy có cuốn giáo khoa, giáo trình nào giới thiệu, phân tích các công trình của nhà phê
bình ngang hàng với sáng tác của các nhà văn, nhà thơ. Và khi bàn về phê bình văn học thời trước cách
mạng, các nhà nghiên cứu thường chỉ phân tích các bài bút chiến tuyên ngôn cho quan điểm nghệ thuật,
mà không mấy khi chú ý tới những bài phê bình đích thực. Chẳng những thế, suốt một thời gian dài, hàng
loạt hiện tượng phê bình giai đoạn 1930 - 1945 bị đánh giá một cách thiếu công bằng. Nhiều nhà nghiên
cứu thường đề cao một chiều khuynh hướng phê bình Mácxít và tỏ ra quá khắt khe với những khuynh
hướng phê bình khác. Trong cuốn “Bàn về những cuộc đấu tranh tư tưởng trong lịch sử văn học Việt Nam
hiện đại”, Vũ Đức Phúc tuyên bố: “Ôn lại lịch sử đấu tranh về lí luận, phê bình văn học từ 1930 về sau,
chúng ta sẽ có một quan điểm rõ ràng về mọi hệ thống lí luận văn học, hiểu được gốc rễ của nhiều vấn đề
lí luận văn học, thấy rõ đường lối văn học của Đảng ta là chân lí duy nhất làm cho văn học chân chính
phát triển rực rỡ, trái lại mọi quan điểm trái ngược với đường lối văn học của Đảng ta đều được thực tế
lịch sử chứng minh là sai lầm, lạc hậu, phản động” [152, tr.7]. Trong sự đánh giá của Vũ Đức Phúc thì:
đầu tiên tập trung nghiên cứu một cách toàn diện và hệ thống toàn bộ hoạt động phê bình văn học thời kì
trước cách mạng. Nhằm khắc phục nhược điểm của hướng nghiên cứu xã hội học đơn giản thường đồng
nhất lịch sử phê bình văn học với lịch sử tư tưởng xã hội - chúng tôi sẽ khảo sát lịch sử phê bình như là
một phương diện của quá trình văn học, đồng thời như một hiện tượng văn hoá - lịch sử có quy luật nội
tại riêng. Nghĩa là cuốn sách này của chúng tôi phải đi vào tìm hiểu các tiền đề về văn hoá, xã hội và lịch
sử của phê bình ở nửa đầu thế kỉ này, dựng lại diện mạo, chỉ ra những đặc điểm, quy luật hình thành và
phát triển của nó, đánh giá vai trò của một số cây bút phê bình tiêu biểu đối với đời sống văn học giai