Các khuynh hướng phê bình văn học
Việt Nam hiện nay
Trên thế giới người ta nói thể kỉ XX là “thế kỉ của phê bình văn
học”. Nhận định ấy cũng đúng với Việt Nam, bởi chỉ vào thế kỉ XX
Việt Nam mới có phê bình văn học theo nghĩa hiện đại. Song số phận
phê bình văn học Việt Nam thì hẩm hiu hơn nhiều. Nhận định nêu
trên về phê bình văn học thế giới quả không ngoa: bởi vì ngay từ đầu
thế kỉ đã lần lượt nảy sịnh các trào lưu phê bình văn học liên tục đan
xen, thay thế nhau. Nào chủ nghĩa Mác, chủ nghĩa hình thức, phê
bình mới, phân tâm học, chủ nghĩa hiện sinh, chủ nghĩa cấu trúc, giải
cấu trúc, chủ nghĩa tân lịch sử, thi pháp học, phong cách học, diễn
ngôn học, tu từ học…Các khuynh hướng cạnh tranh nhau, bổ sung
nhau làm cho các vấn đề văn học ngày càng được sáng tỏ, khắc phục
dần các nhận thức ấu trĩ siêu hình. Song ở Việt Nam thì không thế.
Vừa mới hình thành chưa lâu trước năm 1945, nhà phê bình chưa kịp
tự ý thúc về mình và nghề mình thì sau đó gần hết nửa thế kỉ còn lại
phê bình văn học Việt Nam buộc phải đi vào hai cuộc chiến tranh
chống ngoại xâm, chống ý thức hệ đối kháng. Do hoàn cảnh lịch sử và
định hướng ý thức hệ phê bình văn học của Việt Nam hầu như trở
thành một ốc đảo, chúng ta chỉ biết có chủ nghĩa Mác theo phiên bản
các nước xã hội chủ nghĩa, mà hầu như không biết gì về các trào lưu
khác trên thế giới, tách xa các trào lưu ấy như nước với lửa. Chỉ từ
năm 1986, đúng hơn từ năm 1995 do mở của hội nhập với các nước
trên thế giới, ta mới có ít nhiều đổi thay trong giao lưu văn học, phê
bình, song do theo định hướng lấy chủ nghĩa Mác Lenin làm nền
tảng, các tư tưởng khác hầu như đều ở vào địa vị bất hợp pháp, bất
bình đẳng, ngoại biên, bị coi là phi chính thống. Chính vì vậy mà đã
gần 40 năm lí luận phê bình văn học chúng ta tiến bộ rất chậm chạp.
Tuy vậy, với dường lối văn nghệ ngày càng có phần cởi mở, phê
bình văn học Việt Nam cũng dần dần hình thành các khuynh hướng
theo nhu cầu, lợi hại đối với chế độ xã hội. Ngoài cách nhìn thế giới
lưỡng phân thành hai nửa thù địch nhau, còn có quy định của quan
niệm cách mạng bạo lực, nhằm lật đổ chế độ cũ, xây dựng chế độ mới,
xây dựng nền chuyên chính vô sản do Lenin đề ra. Khuynh hướng
phê bình này thích dùng bạo lực để đánh địch, tạo một thói quen quy
chụp, suy diễn để quy đối tượng phê bình vào kẻ thù của chế độ.
Hàng loạt nhà văn đã là nạn nhân của lối phê bình này mà những ai
sống qua thời đó đều còn nhớ như in, thiết nghĩ không cần phải nhắc
lại. Sau thời Đổi mới tình hình đó đã có thay đổi đáng kể, văn học
được xem như là sản phẩm của văn hóa, song lối phê bình suy diễn và
chỉ một phía được nói, phía bị phê bình không có quyền nói, đã
thành nếp khó sửa, vẫn còn lai rai trong đời sống văn chương.
Khuynh hướng phê bình xã hội học vẫn còn một phương diện quan
trọng khác, ấy là xây dựng nền văn học mới xã hội chủ nghĩa, nó có
nghĩa vụ đánh giá, xếp hạng các tác phẩm kinh điển của nền văn học
này, xây dựng hệ thống các quy phạm của nó. Các tác giả Hố Chí
Minh, Tố Hữu, Trường Chinh, Hà Xuân Trường, Hoàng Trinh,
Nguyễn Đình Thi, Nguyễn Khải, Hồ Phương…và rất nhiều tác gia
kinh điển khác tạo nên diện mạo của giai đoạn văn học mà sau đó
được vinh danh hoặc vinh dự nhận các giải thưởng cao quý của nhà
nước. Cũng cần nói thêm rằng các tác giả được vinh danh nhiều người
do nhìn mặt mà trao giải chứ chưa phải trường hợp nào cũng có căn
cứ vào giá trị đích thực của tác phẩm, sự khập khiểng là khó tránh.
Nhiệm vụ thứ ba của phê bình này là đánh giá lại di sản văn học dân
tộc theo quan điểm mác xít, khẳng định các thành tựu, truyền thống
đấu tranh đáng tự hào, phê phán các tàn dư phong kiến, tư sản còn
tác hại trong đời sống tinh thần. Nhiệm vụ này trước Đổi mới về cơ
bản là làm hỏng nhiều hiện tượng văn học có giá trị, may thay sau
Đổi mới nhờ cố gắng của nhiều người đã dần dần sửa chữa, nói chung
ngày càng khắc phục được các khiếm khuyết dung tục. Khuynh hướng
này, ông từng có quyển Văn và người và liên tục soạn nhiều tập khác.
Đối với khuynh hướng này, tác giả là nhân vật chính của lịch sử văn
học, vị trí tác phẩm lui xuống hàng thứ hai. Vào giai đoạn lịch sử khi
cá tính nhà văn ít được coi trọng khuynh hướng này có ý nghĩa nắn
lại, vinh danh những người sáng tạo ra các giá trị thẩm mĩ cho đời.
Thứ hai, văn là người, viết chân dung cũng là cách bày tỏ tình cảm
hoặc suy nghĩ về cá tính. Khuynh hướng này rất thích hợp với nền
văn học mà tác giả nổi tiếng nhiều hơn tác phẩm nổi tiếng. Trong thời
đại ngày nay, khi theo ý kiến của nhà mác xít người Anh là Terry
Eagleton, phê bình văn học hiện đại trải qua ba hệ hình: Lấy tác giả
làm trung tâm; lấy văn bản làm trung tâm và lấy người đọc làm trung
tâm, thì lối phê bình lấy tác giả làm trung tâm tỏ ra là đã thuộc về
giai đoạn trước. Khi nhà phê bình Pháp Roland Barthes hô lên “Tác
giả đã chết”, hoặc khi Michel Foucault viết “Tác giả là gì” cho thấy tác
giả chỉ là một số chức năng trong văn bản, chứ không phải là con
người sống động thì khái niệm tác giả có một độ chông chênh nào đó.
Tác giả được khẳng định nhằm để ngăn chặn sự lí giải mở rộng vô bờ,
đa dạng bởi người đọc. Muốn giải phóng người đọc thì tác giả phải hi
sinh. Nhưng khuynh hướng mới thông diễn học thì dung hợp tác giả
và người đọc. Khi ý nghĩa tác phẩm không phải do tác giả hoàn toàn
quyết định, mà còn do người đọc nữa, thì việc đi tìm ý nghĩa của tác
giả chỉ có một tác dụng giới hạn. Càng đề cao tác giả thì càng hạn chế
sự diễn giải của người đọc. Càng đề cao tác giả cũng có nguy cơ, là bắt
tác giả phải chịu trách nhiệm cho những suy diễn mà người đọc gán
ghép một cách oan uổng cho anh ta. Không thể bắt tác giả gánh trách
nhiệm cho các phát hiện của người đọc, nhất là người đọc có dụng ý
không tốt. Hiện nay khi nền phê bình còn chưa phát triển cao, phê
bình tác giả vẫn chiếm ưu thế, đủ thấy vị trí của phê bình văn học Việt
Nam chưa theo kịp thế giới. Tôi không hoàn toàn tán thành vói ý
kiến của hai tác giả nước ngoài nêu trên thiên về chủ nghĩa cấu trúc
không hề rập khuôn phương Tây của họ.
Một đặc điểm của thi pháp học thế kỉ XX là có sự xâm nhập mạnh mẽ
của phong cách học và tu từ học. Hầu hết các công trình thi pháp học
nổi tiếng trên thế giới đều pha trộn với phong cách học, tu từ học. Và
trong xu thế chuyển hướng ngữ học (lingustic turn) và chuyển hướng
diễn ngôn học (discursive turn) thì hình thành một tu từ học mới mà
thi pháp học chỉ là một bộ phận, song là bộ phận độc lập tương đối
chuyên nghiên cứu kiến tạo văn học, không thể bị thay thế. Theo xu
hướng đó, các công trình thi pháp học, phong cách học Việt Nam
cũng có sự giao thoa, đan xen nhau của các bộ phận đó, không hề đối
lập nhau. Đặc điểm chung của nghiên cứu trên nền tảng văn bản văn
học trong bối cảnh “chuyển hướng ngữ học”là xuất phát từ các dữ
kiện ngôn ngữ, từ đó mà kiến tạo nên các mô hình về thế giới, hình
thành các kí hiệu và khả năng biểu nghĩa, đó cũng là điều khác với lối
phê bình thuần túy suy diễn từ bối cảnh thời đại. Ngày nay diễn ngôn
học đang gây được chú ý, song nghiên cứu văn bản văn học Việt Nam
vẫn đi đúng hướng và con đường ấy vẫn hứa hẹn các thành quả mới.
4. Phê bình văn học truyền thông
Truyền thông (medium/media), theo định nghĩa của Wilbur
Schramm là công cụ đặt vào giữa quá trình hoạt động giao tiếp nhằm
khuếch đại và kéo dài việc đưa tin trong không gian và thời gian. Sự
thay đổi phương tiện truyền thông kéo theo các cuộc cách mạng văn
học. Theo đó, truyền thông không phải là một hoạt động phê bình,
nhưng do tính chất khuếch đại, kéo dài việc đưa tin, truyền thông trở
thành một công cụ quyền lực, không chế, gây ảnh hưởng cực mạnh,
và trên cơ sở đó hình thành một hình thái phê bình mà chúng tôi gọi
là “phê bình truyền thông”. Truyền thông gồm bộ phận hạt nhân là
truyền hình, phát thanh, điện ảnh, báo chí trung ương, có độ phủ
sóng toàn xã hội; bộ phận ngoại biên như các phương tiện sách, báo,
tạp chí, báo mạng…giới hạn phủ sóng hẹp hơn; bộ phận văn hóa đô
Do thể chế tổ chức nghiên cứu, đào tạo nghiên cứu sinh, cao học,
các đề tài cấp bộ, cấp nhà nước, đề tài đặc biệt được cấp kinh phí, xuất
hiện một khuynh hướng nghiên cứu phê bình văn học đáng chú ý.
Đây là phê bình của các cơ quan học thuật, do đó việc tiếp nhận các lí
thuyết mới, dùng các thuật ngữ mới, lắm khi xa lạ, chủ yếu của
phương Tây, và vận dụng vào nghiên cứu, đánh giá văn học nước nhà.
Uy tín học thuật của nước ngoài cũng tạo cho nó một quyền lực nhất
định. Do đi sâu học thuật, cho nên có một số mặt chưa theo kịp tình
hình văn học trong nước. Hoạt động của phạm vi phê bình này thiên
về giải mã các hiện tượng văn học, trước hết là các tác phẩm kinh
điển, sau là các tác phẩm nổi tiếng, thời thượng. Mặt khác đây là dạng
phê bình hiện diện trong không gian hẹp, được cấp tiền hoặc đào tạo
theo kế hoạch, thực hiện trong thời gian quy định. Không ít công
trình có giá trị cao, xuất bản được chú ý. Nhưng với mục đích trước
mắt không nhằm công bố (phần lớn các loại đề tài hiện nay làm xong
để vào kho lưu trữ), thời gian câu thúc cho nên khó tránh khỏi làm
vội, chất lượng chưa cao, nhiều khi tùy tiện. Nhưng mặt khác nhà phê
bình được tự do, ít bị xã hội ràng buộc nên có thể tiếp cận nhiều hiện
tượng văn học mới. Đáng chú ý của phê bình này ở các trường, viện là
nơi tập dượt vận dụng các lí thuyết văn học mới để mở rộng tầm nhìn,
cách đánh giá các tác phẩm văn học. Phê bình ở các trường viện là
nơi đào tạo, cung cấp lực lượng phê bình mới cho nền văn học chúng
ta.
6. Phê bình khuynh hướng văn học
Một nhược điểm của phê bình văn học Việt Nam là chỉ quan tâm
tác giả, tác phẩm, bình điểm các hiện tượng văn học cụ thể mà ít quan
tâm nghiên cứu phân tích, phân hóa các khuynh hướng văn học,
cung cấp bức tranh về động hướng văn học đang đi từ đâu đến đâu.
Thỉnh thoảng cũng có một số công trình tổng kết, song thiên về mô tả
phong trào. Từ thời giữa những năm 80 chúng tôi vận dụng các khái
Trong một số bài viết công phu của ông ta thấy ông nêu nhiều ví dụ
ảnh hưởng của chủ nghĩa hiện đại trong kiến trúc, hội họa, văn học
trong suốt thế kỉ XX, nhưng xác định một khuynh hướng hiện đại chủ
nghĩa trong văn học Việt Nam dương đại thì ông chưa làm. Phải
chăng khi nhà văn Việt Nam tiếp cận được văn học hiện đại chủ nghĩa
thì trào lưu ấy trên thế giới đã bị trào lưu hậu hiện đại bỏ qua, vì thế
mà ở Việt Nam không thành khuynh hướng nữa? Một nền văn học
không chỉ có các tác giả và tác phẩm, mà còn có các khuynh hướng
tồn tại song song hay nối tiếp nhau. Thiếu sót nghiêm trọng của
nghiên cứu, phê bình văn học Việt Nam hiện nay là chưa chỉ rõ bức
tranh các khuynh hướng văn học Việt Nam hiện đại đầy đủ, có hệ
thống.
7. Phê bình văn hóa học
Trên thế giới nghiên cứu văn hóa bắt đầu từ nhưng năm 60 thế kỉ
trước, đầu tiên ở các nước nói tiếng Anh, sau truyền sang châu Âu rồi
cuối cùng tràn sang các nước châu Á, và chỉ đầu thế kỉ XXI mới sang
việt Nam. Phê bình văn hóa bắt đầu từ đổi mới khái niệm văn hóa.
Văn hóa không phải là các lĩnh vực cao xa, phi vụ lợi trong tác phẩm
của tầng lớp tinh anh như cách hiểu trước đây, mà chính là hình thức
đời sống hàng ngày của con người. Văn hóa là tất cả các các hình
thức, khuôn mẫu mà cuộc sống con người diễn ra trong đó. Từ món
ăn nhanh, múa đường phố, thiết kế xe hơi, âm nhạc lưu hành, thời
trang, karaoke, mĩ phẩm, quảng cáo…đều là văn hóa. Tóm lại văn
hóa đây là văn hóa đại chúng, văn học đại chúng. Nghiên cứu văn
hóa có tham vọng đột phá khuôn khổ chật hẹp của lĩnh vực văn học,
nghiên cứu tất cả các hình thức văn chương, thẩm mĩ trong đời sống,
xem xét quan hệ văn học với các khía cạnh như giải trí, trò chơi, giới
tính, kinh nghiệm cá nhân, quan niệm thẩm mĩ đời thường như thân
thể, trang phục…Các hiện tượng văn học lâu nay bị coi thường như
truyện trinh thám, truyện võ hiệp, các thứ thơ chơi, thơ nhại, thơ