Luận văn
QUAN ĐIỂM VÀ GIẢI PHÁP
HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ
TRÁCH NHIỆM CỦA NGƯỜI
ĐỨNG ĐẦU CÁC CƠ QUAN
HÀNH CHÍNH NHÀ NƯỚC VIỆT
NAM HIỆN NAY 3
MỤC LỤC
Trang
MỞ ĐẦU 7
Phần thứ nhất: CƠ SỞ LÝ LUẬN HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ
TRÁCH NHIỆM CỦA NGƯỜI ĐỨNG ĐẦU CÁC
CƠ QUAN HÀNH CHÍNH NHÀ NƯỚC 23
1.1. TRÁCH NHIỆM CỦA NGƯỜI ĐỨNG ĐẦU CÁC CƠ QUAN HÀNH
CHÍNH NHÀ NƯỚC 23
1.1.1. Khái niệm, đặc điểm, vị trí, vai trò của người đứng đầu các
cơ quan hành chính nhà nước 23
1.1.2. Trách nhiệm của người đứng đầu các cơ quan hành chính nhà nước 31
1.2. PHÁP LUẬT VỀ TRÁCH NHIỆM CỦA NGƯỜI ĐỨNG ĐẦU CÁC
CƠ QUAN HÀNH CHÍNH NHÀ NƯỚC 45
1.2.1. Khái niệm và nội dung điều chỉnh của pháp luật về trách
nhiệm của người đứng đầu các cơ quan hành chính nhà nước
45
1.2.2. Vai trò của pháp luật về trách nhiệm của người đứng đầu
các cơ quan hành chính nhà nước 46
các cơ quan hành chính nhà nước 78
2.1.2. Thực trạng điều chỉnh pháp luật về trách nhiệm người đứng
đầu các cơ quan hành chính nhà nước theo pháp luật hiện hành 91
2.2. ĐÁNH GIÁ CHUNG ƯU ĐIỂM, HẠN CHẾ VÀ NGUYÊN NHÂN
PHÁP LUẬT HIỆN HÀNH VỀ TRÁCH NHIỆM CỦA NGƯỜI
ĐỨNG ĐẦU CÁC CƠ QUAN HÀNH CHÍNH NHÀ NƯỚC VÀ
NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT RA 112
2.2.1. Những ưu điểm của hệ thống pháp luật 112
2.2.2. Hạn chế, bất cập 114
2.2.3. Nguyên nhân 115
2.2.4. Những vấn đề đặt ra 118
Phần thứ ba: QUAN ĐIỂM VÀ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN PHÁP
LUẬT VỀ TRÁCH NHIỆM CỦA NGƯỜI ĐỨNG
ĐẦU CÁC CƠ QUAN HÀNH CHÍNH NHÀ NƯỚC
VIỆT NAM HIỆN NAY 120
3.1. QUAN ĐIỂM HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ TRÁCH NHIỆM CỦA
NGƯỜI ĐỨNG ĐẦU CÁC CƠ QUAN HÀNH CHÍNH NHÀ NƯỚC 120
3.2. YÊU CẦU HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ TRÁCH NHIỆM
CỦA NGƯỜI ĐỨNG ĐẦU CƠ QUAN HÀNH CHÍNH NHÀ
NƯỚC 125
3.3. GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ TRÁCH NHIỆM CỦA
NGƯỜI ĐỨNG ĐẦU CÁC CƠ QUAN HÀNH CHÍNH NHÀ NƯỚC 127
3.3.1. Nhóm giải pháp hoàn thiện pháp luật về nội dung 127
3.3.2. Nhóm giải pháp hoàn thiện hình thức pháp luật 138
3.3.3. Nhóm giải pháp tổ chức thực hiện 141 5
KẾT LUẬN 145
nhằm thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ trong tổ chức và hoạt động của
các cơ quan trong bộ máy nhà nước, đặc biệt là trách nhiệm của người lãnh
đạo, người đứng đầu cơ quan. Gần đây, Nghị quyết Hội nghị lần thứ 9 Ban
Chấp hành Trung ương khóa IX của Đảng đã nêu rõ: “Đòi hỏi cao đối với cán
bộ lãnh đạo, nhất là các đồng chí giữ cương vị trọng trách trong bộ máy của
Đảng, Nhà nước ở Trung ương và địa phương, các đồng chí ủy viên Trung
ương, bí thư tỉnh, thành ủy, bộ trưởng, người đứng đầu các ngành, địa
phương, đơn vị và các cán bộ lãnh đạo khác phải tự giác rèn luyện, nêu
gương cho cấp dưới về sự giác ngộ về chính trị, giữ gìn phẩm chất đạo đức,
lối sống, sự hy sinh phấn đấu vì lý tưởng của Đảng, vì hạnh phúc của nhân
dân. Các đồng chí đó phải chịu trách nhiệm trước khuyết điểm tham nhũng,
lãng phí, quan liêu trong ngành, địa phương, đơn vị mình. Những cơ quan,
đơn vị có sai phạm gây hậu quả nghiêm trọng, thì người đứng đầu cơ quan,
đơn vị đó dù không trực tiếp vi phạm cũng phải chịu trách nhiệm và hình thức
kỷ luật thích hợp”. Văn kiện Đại hội X cũng xác định một trong những nhiệm
vụ trọng tâm của cải cách hành chính là: "Tiếp tục cải cách mạnh thủ tục 8
hành chính, phân cấp và làm rõ quyền hạn, trách nhiệm của từng cấp, từng
ngành, từng đơn vị và người đứng đầu cơ quan"; “Tăng cường trách nhiệm
của cán bộ, đảng viên là thủ trưởng cơ quan nhà nước. Cơ quan nào vi phạm
chính sách, pháp luật, để xảy ra tình trạng tiêu cực, mất đoàn kết nội bộ thì
người đứng đầu phải chịu trách nhiệm”. Nghị quyết Hội nghị lần thứ 3 Ban
Chấp hành Trung ương khóa X của Đảng về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng
đối với công tác phòng, chống tham nhũng, lãng phí tiếp tục nhấn mạnh vai
trò của người đứng đầu: “thực hiện nghiêm quy định về xử lý trách nhiệm
người đứng đầu cơ quan, đơn vị để xảy ra tham nhũng, lãng phí nghiêm
trọng”. Nghị quyết Hội nghị lần thứ 5 Ban Chấp hành Trung ương khóa X
nước trong thi hành nhiệm vụ, công vụ; Thông tư số 08/2007/TT-BNV ngày
01/10/2007 của Bộ Nội vụ hướng dẫn thực hiện Nghị định số 107/2006/NĐ-
CP ngày 22/9/2006 của Chính phủ quy định xử lý trách nhiệm của người
đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị khi để xảy ra tham nhũng trong cơ quan, tổ
chức, đơn vị do mình quản lý, phụ trách đối với các đơn vị sự nghiệp, doanh
nghiệp của Nhà nước và các tổ chức xã hội, xã hội - nghề nghiệp có sử dụng
ngân sách, tài sản của Nhà nước.
Những văn bản quy phạm pháp luật trên đây, chừng mực nhất định đã tạo
cơ sở pháp lý điều chỉnh quan hệ phát sinh về trách nhiệm của NĐĐCCQHCNN
ta hiện nay.
Tuy nhiên, trong thực tế thực hiện các nghị quyết của Đảng và quy định
pháp luật liên quan đến trách nhiệm của người đứng đầu của các cơ quan hành
chính nhà nước trong thời gian qua cũng cho thấy còn có những vướng mắc,
bất cập nhất định, nhất là việc xử lý trách nhiệm của người đứng đầu khi cơ
quan xảy ra tình trạng tham nhũng, lãng phí, tiêu cực hay khi có cán bộ, công
chức vi phạm pháp luật bị truy cứu TNHS. Tình hình đó do nhiều nguyên nhân
như:
- Sự tản mạn, không đồng bộ của các quy định về trách nhiệm của
NĐĐCCQHCNN. Các quy định pháp luật về trách nhiệm của người đứng đầu
các cơ quan hành chính được thể hiện ở nhiều văn bản pháp luật có hiệu lực
khác nhau, chồng chéo, nhiều quy định không thống nhất. 10
- Sự không tương thích giữa quyền hạn và trách nhiệm của
NĐĐCCQHCNN. Về nguyên tắc thì trách nhiệm của người đứng đầu phải đi
đôi với quyền hạn và quyền hạn phải đủ để thực thi trách nhiệm. Tuy nhiên,
theo các quy định hiện nay thì phạm vi thẩm quyền của người đứng đầu còn
hạn chế do còn phụ thuộc vào các nguyên tắc, cơ chế khác trong tổ chức và
hoạt động của cơ quan hành chính nhà nước (ví dụ như người đứng đầu chưa
“người đứng đầu” và “trách nhiệm của người đứng đầu"; Ví dụ như: trách
nhiệm dân sự, trách nhiệm hành chính, TNHS hay như trách nhiệm trực tiếp,
trách nhiệm liên đới những quy định này mới dừng ở Nghị định của Chính
phủ quy định; chưa có quy định rõ vai trò, trách nhiệm, kiểm tra, thanh tra của
cơ quan hành chính cấp trên trực tiếp quản lý người đứng đầu hay cơ chế
giám sát của các cơ quan, tổ chức có thẩm quyền đối với việc thực hiện nhiệm
vụ, quyền hạn của người đứng đầu; nguyên tắc “tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ
trách” chưa được xây dựng thành quy chế rõ ràng, chuẩn xác nên chưa tạo
điều kiện cho người đứng đầu thực thi nhiệm vụ hoặc có thể làm cho người
đứng đầu thực thi nhiệm vụ theo ý muốn chủ quan, nhất là trong đề bạt, cất
nhắc cán bộ.
Từ những vướng mắc, bất cập và nguyên nhân nêu trên, việc nghiên cứu
cơ sở lý luận và thực tiễn của việc hoàn thiện pháp luật về trách nhiệm của
NĐĐCCQHCNN là hết sức cấp bách và có ý nghĩa thiết thực cho việc nâng
cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động của các cơ quan hành chính nhà nước ở nước
ta hiện nay.
2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Hoạt động của các cơ quan hành chính nhà nước là hoạt động thực thi
quyền lực nhà nước để quản lý, điều hành các lĩnh vực của đời sống xã hội
theo pháp luật, được tổ chức và quản lý chặt chẽ trong một hệ thống thống
nhất từ trung ương đến cơ sở. Hầu hết quy định pháp luật của các nước trên
thế giới, NĐĐCCQHCNN đều chịu trách nhiệm cá nhân, không có cơ chế
trách nhiệm tập thể trong cơ quan hành chính nhà nước. Trong những nhiệm 12
kỳ gần đây, Trung Quốc cũng đã thực hiện theo chế độ tỉnh trưởng, thị
trưởng.
Ở nước ta hiện nay, trong tổ chức và hoạt động của các cơ quan hành
chính nhà nước vừa tồn tại cơ chế lãnh đạo tập thể gắn với cá nhân theo hình
như sau:
+ Võ Văn Thành: “Cần đề cao trách nhiệm cá nhân người đứng đầu trong
giải quyết các công việc thuộc thẩm quyền quản lý của mình, chứ không để
người đứng đầu “dựa” mãi vào tập thể. Tuy nhiên, nhiệm vụ, trách nhiệm của
từng cá nhân cũng phải được quy định rõ, không phải cái gì cũng “đổ” lên đầu
ông thủ trưởng” bài phỏng vấn Thứ trưởng Bộ Nội Vụ đăng trên Báo Tiền
Phong ngày 2/4/2007 theo Dantri.com.
+ Khiết Hưng - Lê Anh Đủ “ Chưa rõ trách nhiệm và cá nhân” đây là
một nội dung bài trả lời phỏng vấn của đồng chí Nguyễn Khánh - nguyên Phó
Thủ tướng Chính phủ, nguyên phó ban chỉ đạo cải cách hành chính Chính Phủ
theo báo Tuổi trẻ ngày 11/6/2007.
+ Diễn đàn: “Trách nhiệm thuộc người đứng đầu” do nhóm phóng viên
Báo Lao động số 160 ngày 15/7/2008.
+ Chính Trung: “ Quy trách nhiệm người đứng đầu: phải trao thực
quyền” Theo Vietnamnet ngày 29/2/2007.
+ Hồ Đức Thành: “Nâng cao trách nhiệm người đứng đầu trong cải cách
hành chính” theo trang thông tin điện tử Tỉnh Nghệ An ngày 9/10/2007.
+ Hồng Khánh: “Giảm cấp phó, siết chặt trách nhiệm người đứng đầu”
theo vnexpress.net.
+ Ngọc Lê: “Quy trách nhiệm người đứng đầu: đang kiểm nghiệm thực
tiễn” theo Vietnamnet ngày 19/10/2007.
+ Hải Châu: “Xử lý người đứng đầu không làm tốt cải cách hành chính”
Theo Vietnamnet ngày 29/7/2008.
- Các công trình khoa học:
Các công trình liên quan trực tiếp đến pháp luật về trách nhiệm của
NĐĐCCQHCNN phải kể đến là: 14
+ Luận án tiến sỹ luật học của Ngô Hải Phan (2004) với đề tài: “Trách
+ Bài: “Xác định chức năng, nhiệm vụ của Chính phủ, Thủ tướng Chính
phủ khi sửa đổi Luật tổ chức Chính phủ” Tạp chí Nghiên cứu lập pháp, số
7/2007 của Nguyễn Phước Thọ.
+ Kỷ yếu hội thảo quốc tế: “ Quản lý công chức của một số nước trên thế
giới xu hướng và bài học kinh nghiệm” do Bộ Nội Vụ và Ngân hàng Châu á
tổ chức tại Hạ Long ngày 15 -16 tháng 6/2006. Các báo cáo tham luận của các
chuyên gia trong nước và nước ngoài tập trung vào các chủ đề: Các xu hướng
quản lý công chức trên thế giới và những đổi mới để hiện đại hóa trong hệ
thống quản lý công chức của một số quốc gia hiện nay; Kinh nghiệm quản lý
công chức của Vương quốc Anh, Newzealand, Thái Lan, Trung Quốc; Hệ
thống quản lý cán bộ, công chức của Việt Nam; Những thách thức trong quản
lý và xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức của Việt Nam trong giai đoạn hiện
nay; Hướng nghiên cứu xây dựng Luật Công vụ. Các vấn đề tham luận tại hội
thảo có đề cập tới trách nhiệm của công chức nói chung và trách nhiệm của
NĐĐCCQHCNN.
+ Kỷ yếu hội thảo quốc tế: “ Cải cách hành chính tại Việt Nam - các ưu
tiên giai đoạn 2006 - 2010 và tầm nhìn 2020” do Ban chỉ đạo cải cách hành
chính của Chính phủ phối hợp với Chương trình Phát triển Liên Hiệp Quốc
(UNDP) tổ chức trong hai ngày 24 - 25/11/2007 tại Hà Nội. Các tham luận tại
hội thảo tập trung vào bốn nội dung chính: Cải cách hành chính trong bối
cảnh phát triển kinh tế và hội nhập quốc tế; Tiến tới xây dựng một Chính phủ
phục vụ vì sự phát triển; Tính trách nhiệm, tính minh bạch và dân chủ trong
bối cảnh phân cấp; Tính chuyên biệt và hiện đại hóa của nền kinh tế. Các báo
cáo và ý kiến tham luận tại hội thảo có đề cập tới trách nhiệm của người đứng
đầu các cơ quan hành chính (Thủ tướng Chính Phủ, Bộ trưởng, Chủ tịch
UBND các cấp) trong yêu cầu cải cách thể chế hành chính, đẩy mạnh phân
công phân cấp hành chính giai đoạn hiện nay. 16
17
360 - 386) với các bài viết: “Kiểm soát việc thực hiện thẩm quyền hành chính
nhà nước” của tác giả Đinh Văn Mậu; bài: “Tăng cường hoạt động kiểm tra,
thanh tra nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động của Chính Phủ” của tác giả Phạm
Tuấn Khải. Các bài viết này đều đề cập tới trách nhiệm của người đứng đầu
các cơ quan hành chính.
+ Sách dịch: “Luật hành chính một số nước trên thế giới” người dịch TS
Phạm Văn Lợi và TS Hoàng Thị Ngân (Nhà xuất bản Tư pháp, Hà Nội,
2004). Đây là cuốn sách giới thiệu về Luật hành chính của Cộng hòa Pháp,
Hợp chủng quốc Hoa Kỳ, Vương quốc Anh, Italia (299 trang). Trong đó đáng
chú ý là dưới góc độ so sánh, cho thấy điểm chung giữa luật hành chính Việt
Nam và các nước là nhấn mạnh đòi hỏi về tính hợp pháp của hoạt động hành
chính; chế độ trách nhiệm của các chủ thể tiến hành công vụ; đề cao nguyên
tắc công khai, minh bạch trong hoạt động hành chính; tính đơn giản, dễ dàng
truy cập của thủ tục hành chính; bảo đảm các quyền của công dân. Từ đó vấn
đề trách nhiệm của công chức lãnh đạo cũng được đề cập tới trong nội dung
cuốn sách.
+ Sách: “Hệ thống công vụ và xu hướng cải cách của một số nước trên
thế giới” của tập thể tác giả Thang Văn Phúc, Nguyễn Minh Phương và
Nguyễn Thu Huyền (Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2004). Đây là
cuốn sách giới thiệu về tổ chức nhà nước, bộ máy hành chính, lịch sử nền
công vụ, chế độ quản lý công chức, những chế độ chính sách nhằm cải cách
nền công vụ ở các nước trên thế giới: Trung Quốc, Thái Lan, Nhật Bản, Cộng
hòa Liên bang Nga, Cộng hòa Pháp, Cộng hòa Liên bang Đức, Vương quốc
Anh, Mỹ. nhiều nội dung có đề cập tới vấn đề công chức lãnh đạo, trách
nhiệm của công chức lãnh đạo.
+ Sách: “Cơ sở lý luận và thực tiễn xây dựng đội ngũ cán bộ công chức”
của Thang Văn Phúc, Nguyễn Minh Phương: (Nhà xuất bản Chính trị quốc
gia, Hà Nội, 2005).
19
cáo đánh giá thể chế quản lý cán bộ, công chức Việt Nam. Dự án Luật có
một số quy định riêng về trách nhiệm người đứng đầu cơ quan tổ chức.
+ Đề tài: “Xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức đáp ứng yêu cầu của
Nhà nước pháp quyền XHCN của dân, do dân, vì dân” thuộc chương trình cấp
nhà nước KX - 04" Xây dựng nhà nước pháp quyền XHCN của dân, do dân,
vì dân” do Viện Khoa học xã hội Việt Nam chủ trì, nghiệm thu năm 2005.
+ Đề tài: “Lý thuyết về khoa học và nghệ thuật lãnh đạo” Do Bộ Nội Vụ
chủ trì, TS Chu Văn Thành làm chủ nhiệm nghiệm thu năm 2004. Trong báo cáo
tổng hợp nghiên cứu 312 trang, 10 chương, trong đó chương 2 từ trang 33- trang
64 và một số chương khác đề cập tới thể chế lãnh đạo trong lịch sử và đương đại.
+ Đề tài: “Trách nhiệm bồi thường nhà nước” Do Bộ Tư Pháp chủ trì,
nghiệm thu 2007 trong đó có các công trình, bài viết, báo cáo tổng kết thi
hành pháp luật về BTTH do cán bộ, công chức gây ra khi thi hành nhiệm vụ,
công vụ; báo cáo tổng hợp kinh nghiệm nước ngoài về pháp luật bồi thường
nhà nước.
b. Các công trình khoa học nước ngoài
Bên cạnh các bài viết của Việt Nam có nhiều công trình của các nhà
khoa học nước ngoài nghiên cứu có liên quan tới trách nhiệm của
NĐĐCCQHCNN và pháp luật về trách nhiệm của NĐĐCCQHCNN:
+ Sách: “Các biện pháp chống tham nhũng ở Trung quốc” của Hồng Vỹ
Nhà xuất bản Chính trị quốc gia dịch năm 2001.
+ Sách: “Cơ sở pháp lý của trách nhiệm trong quản lý ở Liên xô và Cộng
hòa Dân chủ Đức” của Lazaev B.M (Mátxcơva, năm 1986)
+ Bài: “Trách nhiệm về tài sản của các chủ thể quản lý” trong cuốn sách:
“Trách nhiệm trong quản lý” (Mátxcơva, năm 1986)
Tình hình nghiên cứu trên cho thấy trách nhiệm của NĐĐCCQHCNN là
vấn đề được quan tâm dưới các góc độ khác nhau, ở góc độ chính trị pháp lý
pháp luật về trách nhiệm của NĐĐCCQHCNN Việt Nam hiện nay. 21
- Đánh giá thực trạng, tìm ra nguyên nhân về hạn chế, bất cập của pháp luật
về trách nhiệm của NĐĐCCQHCNN Việt Nam.
- Luận chứng định hướng và đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật
về trách nhiệm của NĐĐCCQHCNN Việt Nam hiện nay.
4. Phương pháp nghiên cứu
Trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng, chủ
nghĩa duy vật lịch sử, để thực hiện được mục tiêu nghiên cứu đề tài, đề tài sử
dụng các phương pháp nghiên cứu sau:
- Phương pháp phân tích, tổng hợp, lôgic, lịch sử: Phương pháp này
cho phép đi sâu phân tích các loại hình trách nhiệm của người đứng đầu cơ
quan hành chính nhà nước; tiêu chí hoàn thiện pháp luật về trách nhiệm của
người đứng đầu cơ quan này; thậm chí là cả hệ thống các quy định pháp
luật trách nhiệm của NĐĐCCQHCNN hiện nay.
- Phương pháp so sánh: So sánh mô hình, nội dung pháp luật; các giải
pháp hoàn thiện và thực hiện pháp luật về trách nhiệm của
NĐĐCCQHCNN của một số nước trong khu vực, thế giới Từ đó, tìm
kiếm những giá trị tham khảo cho nghiên cứu xây dựng và hoàn thiện pháp
luật về trách nhiệm của NĐĐCCQHCNN ở Việt Nam.
- Phương pháp thống kê: Phương pháp này cho phép nhận rõ kết quả ban
hành và những nội dung điều chỉnh của pháp luật về trách nhiệm của
NĐĐCCQHCNN. Từ đó tìm ra được những "lỗ hổng" của pháp luật trong
lĩnh vực này.
Một số phương pháp liên ngành và chuyên ngành khác: khoa học quản
lý, khoa học chính trị, cũng được sử dụng để nghiên cứu đề tài.
5. Nội dung và phạm vi nghiên cứu
5.1. Nội dung nghiên cứu của đề tài
nước và những vấn đề đặt ra.
Nội dung phần này gồm:
- Nghiên cứu đánh giá hệ thống pháp luật về trách nhiệm người đứng đầu
cơ quan hành chính nhà nước qua các giai đoạn.
- Nghiên cứu thực trạng điều chỉnh pháp luật về trách nhiệm người đứng
đầu cơ quan hành chính nhà nước theo pháp luật hiện hành.
- Đánh giá ưu điểm, hạn chế và nguyên nhân ưu điểm hạn chế của pháp
luật hiện hành về trách nhiệm người đứng đầu cơ quan hành chính nhà nước.
Từ đó xác định những vấn đề đặt ra cần tiếp tục hoàn thiện bổ sung.
Phần thứ ba
Quan điểm và giải pháp hoàn thiện pháp luật trách nhiệm của người
đứng đầu cơ quan hành chính nhà nước Việt Nam hiện nay.
Nội dung phần này gồm:
- Nghiên cứu đề xuất các quan điểm hoàn thiện pháp luật và trách nhiệm
người đứng đầu cơ quan hành chính nhà nước.
- Nghiên cứu đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật về trách nhiệm
người đứng đầu cơ quan hành chính nhà nước gồm có:
+ Nhóm giải pháp hoàn thiện về pháp luật
+ Nhóm giải pháp về hình thức
+ Nhóm giải pháp về tổ chức thực hiện.
5.2. Phạm vi nghiên cứu của đề tài
+ Đề tài chỉ tập trung nghiên cứu trách nhiệm của người đứng đầu và pháp
luật về trách nhiệm người đứng đầu trong các cơ quan hành chính nhà nước
gồm Chính phủ và cơ quan hành chính nhà nước ở chính quyền địa phương.
+ Đánh giá pháp luật về trách nhiệm của người đứng đầu chủ yếu tập
trung giai đoạn từ sau khi ban hành Hiến pháp năm 1992 đến nay. 24
25
dụng, vận dụng quyền lực nhà nước được giao trong hoạt động lãnh đạo, quản
lý của NĐĐCCQHCNN.
Hai là, tính chủ đạo của NĐĐCCQHCNN.
Trong hoạt động quản lý hành chính nhà nước, trách nhiệm của người
đứng đầu các cơ quan hành chính được đề cao. Tính chủ đạo của
NĐĐCCQHCNN thể hiện ở vai trò chi phối, vai trò chủ đạo của
NĐĐCCQHCNN trong hoạt động quản lý điều hành cơ quan, đơn vị thực
hiện chức năng, nhiệm vụ được pháp luật quy định. Tính chủ đạo của người
đứng đầu thể hiện ở hai góc độ cơ bản sau:
Trước hết, người đứng đầu các cơ quan hành chính là người ra các quyết
định và chịu trách nhiệm về các quyết định quản lý của mình. Ra quyết định
là chức năng cơ bản nhất trong hoạt động quản lý, chỉ khi người đứng đầu đưa
ra được những quyết định khoa học thì mới có thể triển khai hoạt động quản
lý có hiệu quả.
Tiếp đến, NĐĐCCQHCNN là người tổ chức và là người chỉ huy việc
thực thi các quyết định quản lý. NĐĐCCQHCNN chỉ đạo và lựa chọn những
biện pháp và phương pháp quản lý chính xác mới làm cho những quyết định
quản lý của tập thể lãnh đạo và của cá nhân người đứng đầu cơ quan hành
chính được thực hiện một cách có hiệu quả trên thực tế. Xuất phát từ chức
năng quản lý hành chính nhà nước, có thể thấy người đứng đầu cơ quan hành
chính nhà nước có vai trò chủ đạo - “nhạc trưởng” trong hoạt động quản lý
hành chính nhà nước.
Ba là, tính phân cấp, thứ bậc của người đứng đầu cơ quan hành chính
nhà nước.
Để thực hiện được chức năng quản lý hành chính nhà nước trên các lĩnh
vực của đời sống xã hội, hệ thống hành chính nhà nước của hầu hết các nước
trên thế giới đều mang tính thứ bậc, cấp trên cấp dưới và có sự phân công
phân cấp phù hợp với yêu cầu quản lý hành chính nhà nước trong từng giai
của họ. Vị trí người đứng đầu được cha ông ta xác định một cách rõ ràng đó là 27
“ đứng mũi chịu sào”. Người lãnh đạo, người cầm quân, người thủ trưởng
phải là người xông pha lên phía trước, đứng ở vị trí chông chênh nhất, đám
đối mặt với thử thách để chỉ hướng, chỉnh tốc độ, luồn lách đưa con thuyền
vượt qua thác ghềnh, giông tố để cập bến vinh quang. Theo đó, vị trí của
người đứng đầu cơ quan hành chính có nghĩa là nói tới toàn bộ các quy định
xác định người đứng đầu cơ quan hành chính nhà nước là người có quyền lực
nhất định trong hoạt động lãnh đạo, quản lý, gánh vác trách nhiệm quản lý
nhất định, đứng đầu, chỉ huy, tổ chức một tổ chức nhất định để thực hiện mục
tiêu lãnh đạo, quản lý. Vị trí của người đứng đầu cơ quan hành chính được
pháp luật quy định căn cứ vào việc thiết kế bộ máy hành chính và nguyên tắc
tổ chức, hoạt động của bộ máy nhà nước mỗi một quốc gia.
Bộ máy hành chính Nhà nước ở mọi quốc gia nói chung bao gồm các cơ
quan, ở trung ương là Chính phủ, các Bộ và các cơ cấu khác thuộc Chính phủ;
ở địa phương là ủy ban (hội đồng) hành chính các cấp và các cơ quan chuyên
môn trực thuộc. Việc tổ chức bộ máy hành chính nhà nước và lựa chọn chế độ
lãnh đạo tập thể hay cá nhân, hoặc cả hai ở từng cấp hành chính tùy thuộc
vào việc xác định chức năng, nhiệm vụ của bộ máy hành chính nhà nước
trong mối quan hệ với các yếu tố như: kinh tế thị trường, nhà nước pháp
quyền, dân chủ, hệ tư tưởng, lý thuyết, khoa học về quản lý
Bộ máy hành chính ở các nước dù được tổ chức như thế nào thì vẫn có
điểm chung đó là một hệ thống với thứ bậc chặt chẽ, những cũng rất đa dạng.
Khi nói tới mô hình tổ chức bộ máy hành chính nhà nước, người ta thường
nói tới cách thức tổ chức chính phủ
1
. Từ đó, cùng với chính phủ, các cơ quan