Những xu hướng chính của phê bình văn học việt nam trong thập niên đầu thế kỉ XXI luận văn thạc sĩ ngữ văn - Pdf 32

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH

NGUYỄN THỊ HÀ

NHỮNG XU HƯỚNG CHÍNH
CỦA PHÊ BÌNH VĂN HỌC VIỆT NAM
TRONG THẬP NIÊN ĐẦU THẾ KỈ XXI

LUẬN VĂN THẠC SĨ NGỮ VĂN


2

NGHỆ AN - 2014


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH

NGUYỄN THỊ HÀ

NHỮNG XU HƯỚNG CHÍNH
CỦA PHÊ BÌNH VĂN HỌC VIỆT NAM
TRONG THẬP NIÊN ĐẦU THẾ KỈ XXI
Chuyên ngành: Lý luận văn học
Mã số: 60.22.01.20

LUẬN VĂN THẠC SĨ NGỮ VĂN

Người hướng dẫn khoa học:

1.2.4. Phê bình văn học giai đoạn 1986 - 2000............................................................35
1.3. Điều kiện phát triển mới của phê bình văn học Việt Nam trong thập niên đầu của thế kỷ XX
.....................................................................................................................................................38
1.3.1. Sự giới thiệu rộng rãi các thành tựu lý luận văn học, phê bình văn học hiện đại
của thế giới...................................................................................................38
1.3.2. Sự nhìn nhận sáng suốt hơn về lực cản đối với phê bình trong các giai đoạn văn
học trước đây ..............................................................................................43


6
1.3.3. Sự kích thích mỹ học của các sáng tác mang tính cách tân................................46
Chương 2
NHỮNG XU HƯỚNG CHÍNH CỦA PHÊ BÌNH VĂN HỌC VIỆT NAM TRONG THẬP NIÊN ĐẦU THẾ KỶ
XXI
TỪ GÓC NHÌN QUAN ĐIỂM PHÊ BÌNH.............................................................................................51
2.1. Chấn chỉnh cách nhìn............................................................................................................51
2.1.1. Tính quyền uy của xu hướng phê bình chấn chỉnh cách nhìn............................51
2.1.2. Điểm tựa của xu hướng phê bình chấn chỉnh cách nhìn....................................54
2.1.3. Tác động của xu hướng phê bình chấn chỉnh cách nhìn....................................57
2.2. Nhận thức lại về các thước đo cũ.........................................................................................61
2.2.1. Cơ sở khoa học của xu hướng phê bình nhận thức lại về các thước đo cũ........61
2.2.2. Nội dung phong phú của xu hướng phê bình nhận thức lại về các thước đo cũ63
2.2.3. Sức thúc đẩy tư duy của xu hướng phê bình nhận thức lại về các thước đo cũ 65
2.3. Môi giới cho truyền thông....................................................................................................66
2.3.1. Hoàn cảnh phát triển thuận lợi của xu hướng phê bình môi giới cho truyền
thông ...........................................................................................................66
2.3.2. Những loại hình hoạt động của xu hướng phê bình môi giới cho truyền thông
......................................................................................................................68
2.3.3. Tính “phù phiếm” của xu hướng phê bình môi giới cho truyền thông .............72
Chương 3

hiện đại hóa văn học ở nửa đầu thế kỉ XX. Trong hơn một thế kỉ văn học vừa
qua, phê bình văn học đã là một bộ phận quan trọng của đời sống văn học,
đặc biệt là trong giai đoạn có những sự biến đổi to lớn của xã hội và văn học
như hiện nay. Để nghiên cứu và đánh giá một cách khoa học, toàn diện về
văn học Việt Nam trong thời kì mới từ những năm cuối thế kỉ XX đến nay,
không thể thiếu công việc tìm hiểu, nghiên cứu về hoạt động phê bình văn học
giai đoạn này.
Phê bình văn học Việt Nam đầu thế kỉ XXI là sự tiếp nối hoạt động phê
bình của những thời kì trước và theo khá sát đời sống văn học dân tộc hiện
nay. Chúng ta cần phải tiến hành công việc nghiên cứu, đánh giá một cách có
hệ thống về một giai đoạn mới của phê bình văn học dân tộc, tìm ra được
những xu hướng chính trong thập niên đầu thế kỉ XXI.
Trong thời gian qua đã có một số công trình nghiên cứu đề cập đến phê
bình văn học những năm cuối thế kỉ XX đầu thế kỉ XXI. Tuy nhiên, số lượng
chưa nhiều và cho đến nay vẫn chưa có công trình nghiên cứu một cách bao
quát, hệ thống, toàn diện về tình hình và những vấn đề của phê bình văn học
trong thập niên đầu thế kỉ XXI. Việc nghiên cứu, tổng kết, đánh giá phê bình
văn học trong giai đoạn này đang đặt ra như một yêu cầu bức thiết.
2. Lịch sử vấn đề
Phê bình văn học ở Việt Nam đã và đang diễn ra với nhiều hình thức
phong phú, đề cập rất nhiều vấn đề của đời sống văn học và của chính phê
bình, tuy không phải lúc nào cũng sôi động, nhưng nó vẫn theo khá sát đời
sống văn học. Khối lượng tài liệu phê bình văn học là hết sức lớn, đa dạng, lại


9
phần nhiều nằm rải rác trên báo chí, trên mạng internet, cả trong nước và
ngoài nước.
Trước hết, phải kể đến công trình Văn học Việt Nam thế kỉ XX (Phan
Cự Đệ - chủ biên, NXB Giáo dục, 2004) có phần VII: Lí luận phê bình văn

bình văn học Việt Nam trong quá khứ chưa xa và đương đại và được tác giả
gọi là “hiện đại”. Cuốn sách đề cập đến những vấn đề của nền phê bình văn
học hiện đại nước nhà: lịch sử, các phương pháp của nó và những vấn đề
đang được đặt ra trong lý luận phê bình hiện nay, hay như tác giả gọi là “phê
bình văn học trong thời đại thông tin”… Công trình được chia làm ba phần
với ba trọng tâm khác nhau. Phần đầu, tác giả nhận diện phê bình văn học
Việt Nam thế kỉ XX qua những phong cách phê bình, tập trung đánh giá lại
những thành tựu và hạn chế của phê bình văn học mác-xít, giới thiệu và
phân tích những phương pháp phê bình như phê bình cấu trúc luận, giải
thích văn bản và so sánh văn học, phân tích tác phẩm theo cấu trúc - loại
hình. Phần thứ hai, tác giả tập trung phân tích các kiểu diễn ngôn phê bình
đầu thế kỉ XX, lịch sử tiếp nhận - nghiên cứu Nguyễn Du và Truyện Kiều,
đặc điểm của việc tiếp nhận tư tưởng lý luận văn học nước ngoài từ năm
1955 cho đến nay. Phần cuối là những suy ngẫm của tác giả về thực trạng
đời sống văn học đương đại và con đường của lý luận - phê bình văn học
Việt Nam tương lai. Như vậy, tác giả đã khá cẩn trọng phân tích đầy đủ diện
mạo, đánh giá những thành tựu và hạn chế của hoạt động phê bình văn học
nước nhà, từ đó đi tới đề xuất những vấn đề hữu ích đối với hoạt động phê
bình văn học đương đại. Nhưng nhìn chung, trọng tâm của công trình vẫn là
nghiên cứu lịch sử và phương pháp phê bình văn học Việt Nam ở thế kỉ XX
và mới chỉ bước đầu nhận diện lý luận phê bình văn học đầu thế kỉ XXI ở
mức độ còn rất sơ lược.
Trong thời gian gần đây, bạn đọc ghi nhận sự xuất hiện của cuốn Phê
bình văn học Việt Nam 1975-2005 (Nxb Đại học Sư phạm Hà Nội, 2012) do


11
Nguyễn Văn Long chủ biên, đã dựng lại được một bức tranh toàn cảnh về ba
mươi năm của phê bình văn học Việt Nam kể từ khi hòa bình, thống nhất đất
nước. Có thể tìm thấy ở đây những nét vẽ chi tiết về các cuộc thảo luận quan

nước nhà, nhóm nghiên cứu đã không xét hai đối tượng lí luận và phê bình
theo hai hướng độc lập, thường thấy trong những công trình trước đó mà viết
gộp lịch sử lí luận với phê bình theo từng giai đoạn cụ thể. Nhóm tác giả cũng
đã chú ý đến những sự kiện quan trọng như: các cuộc tranh luận văn học; các
sự kiện văn học, văn hóa, lịch sử có tác động mạnh đến đời sống lí luận, phê
bình. Cách kết cấu như vậy đảm bảo được tính hệ thống, tính cân đối, phù
hợp với sự triển diễn mang tính lịch sử của đời sống lí luận, phê bình. Như
vậy qua công trình này, nhóm tác giả đã cho chúng ta thấy được những diện
mạo khác nhau của đời sống lí luận, phê bình bao quát trong một thời gian
liên tục, kéo dài từ thời kì khởi đầu cho đến hiện tại.
Ngoài những công trình nghiên cứu tiêu biểu trên, trong thời đại
công nghệ thông tin, hoạt động phê bình văn học còn có rất nhiều trên
mạng Internet đáp ứng nhu cầu trao đổi, tìm hiểu của các nhà phê bình nói
riêng và độc giả nói chung. Có thể nói, bước sang thế kỉ XXI, đời sống phê
bình văn học trên mạng phong phú, sôi động hẳn lên. Trong bối cảnh báo
chí văn nghệ truyền thống gặp rất nhiều khó khăn, hiệu quả hoạt động
không như mong đợi, nhất là mảng phê bình văn học, thì sự ra đời website
http://phebinhvanhoc.com.vn/ (do Trần Thiện Khanh phụ trách chính) ngay
lập tức thu hút đông đảo bạn đọc và một số báo chí quan tâm, cộng tác, chia
sẻ. Mặc dù còn non trẻ nhưng nó đã bước đầu tạo ra được những trao đổi,
thảo luận quan trọng, góp phần kết nối các khu vực văn học, các chủ thể,
quảng bá phổ biến nhiều tư tưởng, lý thuyết văn học hiện đại (trong đó có
nhiều nghiên cứu công phu, nhiều bài dịch thuật về lý thuyết có giá trị, lần
đầu tiên được công bố trên website), các chân dung phê bình, các bài phê bình


13
văn học hữu ích… có thể xem là một sự kiện đáng chú ý của đời sống phê
bình văn học đầu thế kỉ XXI. Bên cạnh đó, sự xuất hiện của nhiều website
khác cũng góp phần tạo nên sự sôi động của đời sống phê bình văn học qua



14
học Việt Nam trong thập niên đầu thế kỷ XXI nhìn từ phương pháp phê bình,
do đây là vấn đề hóc búa, vượt trình độ hiện có của người làm luận văn.
4. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
4.1. Mục đích nghiên cứu
Luận văn tập trung xác định những xu hướng chính của phê bình văn
học Việt Nam trong thập niên đầu thế kỷ XXI để có thể đánh giá đúng thành
tựu và hạn chế của nó trước yêu cầu đổi mới văn học, đổi mới hoạt động
nghiên cứu, lý luận và phê bình văn học.
4.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Phân tích những tiền đề phát triển của phê bình văn học Việt Nam
trong thập niên đầu thế kỷ XXI.
- Nhận diện, đánh giá những xu hướng chính của phê bình văn học Việt
Nam trong thập niên đầu thế kỉ XXI từ góc nhìn quan điểm phê bình.
- Nhận diện, đánh giá những xu hướng chính của phê bình văn học Việt
Nam trong thập niên đầu thế kỉ XXI từ góc nhìn đối tượng phê bình.
5. Phương pháp nghiên cứu
Thực hiện đề tài này, chúng tôi sử dụng các phương pháp chủ yếu sau:
- Phương pháp nghiên cứu lí thuyết
- Phương pháp khảo sát, thống kê, phân loại
- Phương pháp phân tích, tổng hợp
6. Đóng góp của luận văn
Công trình tìm hiểu một cách bao quát về các đặc điểm nổi bật của phê
bình văn học Việt Nam trong thập niên đầu thế kỉ XXI, tức là theo khá sát đời
sống văn học hiện nay. Trước đó, việc nghiên cứu, đánh giá về lĩnh vực phê
bình của một số tác giả mới chỉ dừng lại ở một vài năm đầu thế kỉ.



sâu, hay dở… khác nhau.
Có thể nói, khái niệm phê bình văn học, qua thời gian, đã có khá nhiều
định nghĩa. Thoạt đầu nó là những phán đoán tự nhiên do nhu cầu thưởng
ngoạn tác phẩm. Sau đó nó được quan niệm là một khoa học về văn học mang
tính nghệ thuật cao. Nó đòi hỏi nhà phê bình phải có tri thức, biết phân tích,
giải thích đặc biệt là biết cảm thụ nghệ thuật mới có thể làm sáng tỏ vấn đề.
Từ buổi đầu hình thành nền phê bình văn học hiện đại ở Việt Nam, khái
niệm phê bình (văn học) đã được quan tâm giới thuyết, minh định. Năm 1933,
Thiếu Sơn cho rằng: “nhà phê bình là kẻ đọc giùm người khác”. Lê Thanh thì
thấy: “Phê bình tức là giải những tình cảm của mình về một công trình, một
nhân vật, nhưng mỗi người cảm một cách, nghĩ một cách”.


17
Cho đến nay, định nghĩa về phê bình văn học đã có những điều chỉnh,
bổ sung hợp lý, giúp chúng ta hình dung về bộ môn khoa học này một cách
đầy đủ, toàn diện và hoàn thiện hơn.
Từ điển Tiếng Việt năm 1999 định nghĩa: Phê bình văn học là “bộ môn
nghiên cứu chuyên phân tích các tác phẩm văn học nhằm mục đích đánh giá
và hướng dẫn việc sáng tác”[52,1034].
Còn với Từ điển thuật ngữ văn học (do Lê Bá Hán, Trần Đình Sử,
Nguyễn Khắc Phi đồng chủ biên), phê bình văn học được hiểu: “Là sự phán
đoán, phẩm bình, đánh giá và giải thích tác phẩm văn học. Phê bình văn học
vừa là một hoạt động, vừa là một bộ môn khoa học về văn học…” [19, 210].
Với cuốn 150 thuật ngữ văn học do Lại Nguyên Ân biên soạn, phê bình
văn học là “Sự phán đoán, bình phẩm, đánh giá và giải thích tác phẩm văn
học, đồng thời kèm theo việc phán đoán, bình luận, giải thích, đánh giá
những hiện tượng đời sống mà tác phẩm nói tới. Phê bình văn học được coi
như một hoạt động tác động trong đời sống văn học và quá trình văn học,
như một loại sáng tác văn học, đồng thời còn được coi như một bộ môn thuộc

Nhưng, đối tượng của phê bình văn học, có phải chỉ là tác phẩm và hiện
tượng văn học đương đại hay còn bao gồm cả những tác phẩm trong quá
khứ ? Hiện tồn tại hai quan niệm về đối tượng của phê bình văn học:
Quan niệm thứ nhất cho rằng đối tượng của phê bình văn học là những
hiện tượng văn học đương đại. Mục Phê bình văn học trong sách Từ điển
thuật ngữ văn học của nhóm tác giả Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc
Phi đã diễn giải: “Là một môn khoa học, phê bình văn học nhận thức các
khuynh hướng vận động của văn học đương đại” [19, 210]. Cứ theo quan
niệm trên, những hiện tượng văn học quá khứ thường không được xem là đối
tượng của phê bình văn học, hoặc nếu có thì chỉ là thứ yếu. Họ cho rằng văn
học quá khứ, đặc biệt là những tác phẩm đạt tới trình độ cổ điển, giá trị của nó


19
đã ổn định, mặc nhiên được thừa nhận, hà cớ gì lại trở thành đối tượng của
phê bình văn học.
Tương tự, một thời gian dài, trong không ít sách lí luận văn học, khi
phân biệt phê bình văn học với lịch sử văn học, người ta thường khẳng định
phê bình văn học hướng tới văn học đương đại, còn lịch sử văn học hướng về
tác phẩm quá khứ. Nhưng theo R.Wellek, đối tượng của phê bình văn học là
hiện tượng văn học cụ thể, đối tượng của lịch sử văn học là tác phẩm, tác giả
trong dòng thời gian, đối tượng của lí luận văn học là tổng thể các hiện tượng
văn học.
Quan niệm thứ hai, đối tượng của phê bình văn học là toàn bộ những
hiện tượng văn học đã và đang diễn ra, có ý nghĩa đối với con người đương đại.
Còn nếu các nhà phê bình thường quan tâm hơn tới các hiện tượng văn học
đương đại thì đấy cũng là nhu cầu tự nhiên chú ý tới tiếng nói nghệ thuật của
thời đại mình. Đồng quan niệm này, GS.TS Trần Đình Sử khi bàn về đối tượng
của phê bình văn học cũng đã có những luận giải thuyết phục. Trên cơ sở phân
biệt cách tiếp cận của phê bình văn học với lí luận văn học và lịch sử văn học,

phê bình xuất phát từ một quan niệm lý luận nhất định; chỉ ra ưu điểm và
khuyết điểm của tác phẩm; chỉ ra chỗ giống và khác của tác phẩm đó so với
tác phẩm trước nó và đồng thời với nó, “hiểu được cái gì mà các nhà thơ nói,
nhận định được những cái gì hay và cái gì không hay trong những trước tác
của họ” (Platon), “nêu được cái hay tuyệt vời, hoàn mỹ mà chúng ta phải
vươn tới, vừa thấu tình thấu lẽ cho sự sáng tác hơn nữa” (Xuân Diệu).
Khi Khổng Tử chọn lựa 305 bài ca dao ông cho là xuất sắc hoặc tiêu
biểu nhất từ vô số những bài ca dao đang được lưu hành trong dân gian thuở
ấy vào một tập sách gọi là Kinh Thi, ông thực hiện nhiệm vụ thứ nhất của phê
bình, tức là “phát hiện cái đẹp” (Nguyễn Hưng Quốc). Cũng như vậy, khi
Hoài Thanh chọn lấy 167 bài trong số hàng vạn bài của 45 tác giả trong số


21
hàng trăm tác giả phong trào Thơ mới đưa vào cuốn Thi nhân Việt Nam, nghĩa
là Hoài Thanh - Hoài Chân thực hiện nhiệm vụ thứ nhất của phê bình.
Thứ hai, phê bình phát hiện và thẩm định sự hình thành, tiến triển và
suy thoái của một xu hướng, một trào lưu văn học… Từ đó, góp phần quan
trọng cho việc định hướng quá trình tiếp nhận, đồng thời thúc đẩy quá trình
sáng tác của một tác giả, một trào lưu, một khuynh hướng.
Bản chất của phê bình văn học là hoạt động tác động. Do đó, mục tiêu
sau cùng, mục tiêu cao nhất mà phê bình văn học cần đạt được là tạo ra ảnh
hưởng mạnh mẽ, mang tính định hướng về những quan niệm, tiêu chí thẩm
định giá trị thẩm mĩ cho đời sống văn học đương thời, cả trong tiếp nhận và
sáng tác.
1.1.3. Phương pháp phê bình văn học
Chúng ta đã biết, phê bình văn học vừa là một khoa học, vừa là một
nghệ thuật. Là một khoa học, tất yếu, nó sẽ có phương pháp riêng. Tuy nhiên,
không phải phê bình nào cũng có hoặc thể hiện rõ phương pháp mà thường
chỉ trong phê bình học thuật. Phương pháp phê bình là cách thức nhà phê bình

khuynh hướng ứng dụng lý thuyết thi pháp học, phân tâm học, tự sự học và
văn học so sánh…
Sự nỗ lực ứng dụng lý thuyết hiện đại tiếp thu của thế giới để đổi mới
phương pháp nghiên cứu thể hiện rõ trong những công trình nghiên cứu phê
bình văn học mang tính học thuật có tính chất khai mở. Phan Ngọc là một
trong những tác giả tiên phong, công trình Tìm hiểu phong cách Nguyễn Du
trong Truyện Kiều (Nxb Lao động, Hà Nội 1985, tái bản 2009) của ông đã áp
dụng lý thuyết phong cách học và lý thuyết tâm lý học của cả phương Đông
và phương Tây để nghiên cứu Truyện Kiều. Nguyên tắc chi phối phương pháp
nghiên cứu của Phan Ngọc là luôn dùng cách đối lập để tìm ra sự khác nhau
giữa Truyện Kiều với Kim Vân Kiều truyện và truyện Nôm (cốt truyện, tư
tưởng chủ đạo, lối phân tích tâm lý…). Sự linh hoạt sáng tạo trong ứng dụng
nghiên cứu phong cách học của Phan Ngọc đã khiến công trình nghiên cứu


23
của ông có nhiều phát hiện đặc sắc, độc đáo về Truyện Kiều ở phương diện
kiến trúc ngôn ngữ, ngữ pháp thơ, đưa ra những kết luận mà so với cách tiếp
cận truyền thống có nhiều mới lạ. Ngoài ra, Phan Ngọc còn đóng góp cho phê
bình phong cách học công trình có giá trị: Thử xét văn hóa, văn học bằng
ngôn ngữ (Nxb Thanh niên, Hà Nội, 2000). Năm 1985, cuốn Ngôn ngữ thơ
(Nxb Đại học và giáo dục chuyên nghiệp, Hà Nội) của Nguyễn Phan Cảnh
cũng được xuất bản. Đây là nghiên cứu đầu tiên của một nhà ngữ học ở Việt
Nam viết về đặc trưng thi pháp của ngôn ngữ thơ theo quan điểm của chủ
nghĩa cấu trúc. Tiếp đó, Trần Đình Sử ra mắt Thi pháp thơ Tố Hữu (1987);
Hoàng Trinh áp dụng lý thuyết ký hiệu học để nghiên cứu thơ: Từ ký hiệu đến
thi pháp học (1992); Trần Đình Hượu, Trần Ngọc Vương, Trần Nho Thìn đã
áp dụng lý thuyết văn hóa học để nghiên cứu các hiện tượng văn học trung đại
Việt Nam; Đỗ Đức Hiểu có Thi pháp hiện đại (2000); Nguyễn Xuân Kính có
Thi pháp ca dao (1993); Đỗ Lai Thúy xuất bản Mắt thơ (1992), Hồ Xuân

phê bình văn học, cũng có thể gọi đây là giai đoạn “chuẩn bị”, “khởi động” có
ý nghĩa khai phá, mở đường.
Lịch sử phê bình văn học Việt Nam có thể nói bắt đầu từ Đông Dương
tạp chí (1913). Tờ Đông Dương tạp chí (1913-1918) do Snâyđe (người Pháp)
cộng tác với Nguyễn Văn Vĩnh sáng lập. Kế đó năm 1917, Nam Phong tạp
chí (1917-1934) do Phạm Quỳnh và Nguyễn Bá Trác sáng lập, góp phần thúc
đẩy hoạt động phê bình với những bài “phê bình theo lối mới của văn học
Thái Tây” thể hiện qua các mục Bình phẩm sách mới (Đông Dương tạp chí)
và Văn học bình luận (Nam Phong tạp chí). Thời kì này mọi hoạt động phê
bình trên báo chí ở nước ta hầu như còn ở trong tình trạng thưa thớt, vắng vẻ.
Các tác phẩm phê bình xuất hiện nhưng nhìn chung đều rất sơ lược, phương
thức nhận định còn giữ lối bình thơ văn cổ ngày trước.
Đầu thế kỉ XX là thời kì khởi đầu cho việc nghiên cứu lịch sử văn hóa,
văn học nước nhà. Dương Quảng Hàm, Phan Kế Bính, Bùi Kỷ… là những


25
người có nhiều đóng góp. Đầu thế kỉ XX cũng là thời kì mà các di sản văn
học tiếng Việt (ca dao, dân ca, tục ngữ, phú Nôm, truyện Nôm…) được giới
thiệu, sưu tầm rầm rộ. Trên cơ sở hình thành ý thức dân tộc về thể loại, về tác
giả, về văn hóa xuất hiện nhu cầu bình phẩm, đánh giá, tức nhu cầu phê bình
văn học. Như vậy, nhu cầu nghiên cứu lịch sử văn hóa, văn nghệ nước nhà là
một trong những nội dung làm nên diện mạo của phê bình văn học 19001932. Các bài viết của các sĩ phu Đông Kinh nghĩa thục, của Phan Bội Châu,
Ngô Đức Kế, Huỳnh Thúc Kháng, các nhà báo- nhà văn Phan Kế Bính, Phan
Khôi, Tản Đà, Phạm Quỳnh, Nguyễn Văn Vĩnh, Nguyễn Văn Ngọc… có ý
nghĩa khơi dậy tinh thần độc lập tự chủ của dân tộc. Lần đầu tiên, các di sản
văn chương tiếng Việt được đánh giá cao. Những bài viết của họ giúp cho
đồng bào trong nước thấy rõ trước khi Pháp sang “khai hóa”, Việt Nam đã có
một nền văn hóa, văn học giàu bản sắc, rất đáng tự hào. Văn học bằng chữ
Nôm suốt một thời kì dài bị coi là “nôm na mách qué”, không được coi là văn


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status