Luận văn
Những định hướng chiến lược phát triển
kinh tế Việt Nam trong những năm tiếp
theo
1
MỤC LỤC
Trang
LỜI NÓI ĐẦU…………………………………………………………. 2
PHÀN I: NHỮNG THÀNH TỰU KINH TẾVIỆT NAM……………… 3
1. KẾT QUẢ KINH TẾ VIỆT NAM TRONG
NHỮNG NĂM QUA……………………………………………
4
1.1.Tăng trưởng kinh tế qua các năm………………………………
4
1.2.Những thành công trong tăng trưởng kinh tế
khác…………….
7
KẾT LUẬN PHẦN I…………………………………………………….
1
0
PHẦN II MÔ HÌNH TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ VIỆT NAM……
11
2.1. BẢN CHẤT ĐẶC TRƯNG CỦA MÔ HÌNH KINH
TẾ VIỆT NAM………………………………………………………
11
2.2. ĐẶC ĐIỂM MÔ HÌNH KINH TẾ VIỆT NAM…………………
12
2.2.1 Xuất khẩu tài nguyên chiểm tỷ trọng lớn……………………….
12
2.2.2. Lao động trong tăng trưởng kinh tế Việt Nam………………
13
0
TÀI LIỆU THAM KHẢO……………………………………………….
31
3
LỜI NÓI ĐẦU
Việt Nam là một nền kinh tế chuyển đổi và đang phát triển, thuộc
nhóm nước có tốc độ tăng trưởng cao nhất thế giới. Duy trì được tốc độ tăng
trưởng trung bình khoảng 7% một năm. Trong 10 năm thực hiện Chiến lược
phát triển kinh tế-xã hội 2001-2010, chúng ta đã tranh thủ thời cơ, thuận lợi,
vượt qua nhiều khó khăn, thách thức, nhất là những tác động tiêu cực của hai
cuộc khủng hoảng tài chính - kinh tế khu vực và toàn cầu, đạt được những
thành tựu to lớn và rất quan trọng, đất nước đã ra khỏi tình trạng kém phát
triển, bước vào nhóm nước đang phát triển có thu nhập trung bình.
Diện mạo của đất nước có nhiều thay đổi. Thế và lực của nước ta vững
mạnh thêm nhiều; vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế được nâng lên, tạo
ra những tiền đề quan trọng để đẩy nhanh công nghiệp hoá, hiện đại hóa và
nâng cao chất lượng cuộc sống của nhân dân.
Nền kinh tế của Việt Nam tăng trưởng nhanh là một hiện thực, không
chỉ dưới con mắt người nước ngoài, cũng không chỉ dưới lăng kính kinh tế vĩ
mô, mà sự tăng trưởng này còn có thể được cảm nhận ở đại bộ phận hộ gia
đình và các tế bào của nền kinh tế. Thế thì tại sao lại phải lo lắng và hoài nghi
về triển vọng tăng trưởng ? Vấn đề là ở chỗ, liệu chúng ta đã phát huy hết
tiềm năng tăng trưởng của quốc gia hay chưa ? Chất lượng, hiệu quả tăng
trưởng phát triển của chúng ta ra sao? Chúng ta có thể tiếp tục duy trì tốc độ
tăng trưởng cao trong những năm tới hay không ?
Cũng trong bản báo cáo về Năng lực cạnh tranh của nền kinh tế Việt
Nam, Giáo sư Michael Porter đưa ra nhận xét: “Nếu Việt Nam tiếp tục tăng
trưởng theo kiểu cũ, tức là dựa chủ yếu vào đặc điểm địa lý hay dân cư thì
không có nghĩa là khủng hoảng sẽ đến vào năm sau. Tuy nhiên các bạn chắc
chắn không thể duy trì mô hình này trong vòng 5-10 năm tới”.
Thực hiện đường lối đổi mới, với mô hình kinh tế tổng quát là xây
dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, đất nước ta đã thoát
khỏi khủng hoảng kinh tế - xã hội, tạo được những tiền đề cần thiết để chuyển
sang thời kỳ phát triển mới - thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá.
1986-1990: GDP tăng 4,4%/năm. Việc thực hiện tốt ba chương trình
mục tiêu phát triển về lương thực - thực phẩm, hàng tiêu dùng và hàng xuất
khẩu được đánh giá là thành công bước đầu cụ thể hóa nội dung của CNH
XHCN trong chặng đường đầu tiên. Đây là giai đoạn chuyển đổi cơ bản cơ
chế quản lý cũ sang cơ chế quản lý mới, thực hiện một bước quá trình đổi mới
đời sống KTXH và giải phóng sức sản xuất.
1991-1995: Nền kinh tế khắc phục được tình trạng trì trệ, suy thoái, đạt
được tốc độ tăng trưởng tương đối cao liên tục và toàn diện.GDP bình quân
năm tăng 8,2%. Đất nước ra khỏi thời kỳ khủng hoảng kinh tế, bắt đầu đẩy
mạnh CNH - HĐH đất nước.
6
Từ năm 1996-2000, là bước phát triển quan trọng của thời kỳ mới, đẩy
mạnh CNH, HĐH đất nước. Chịu tác động của khủng hoảng tài chính - kinh
tế khu vực cùng thiên tai nghiêm trọng xảy ra liên tiếp đặt nền kinh tế nước ta
trước những thử thách. Tuy nhiên, giai đoạn này, Việt Nam duy trì được tốc
độ tăng trưởng tổng sản phẩm trong nước 7%/năm.
Năm 2000-2005, nền kinh tế đạt được tốc độ tăng trưởng cao, liên tục,
GDP bình quân mỗi năm đạt 7,5%. Năm 2005, tốc độ tăng trưởng đạt 8,4%,
GDP theo giá hiện hành, đạt 838 nghìn tỷ đồng, bình quân đầu người đạt trên
10 triệu đồng, tương đương với 640 USD.
Việt Nam đã trở thành nước xuất khẩu gạo lớn trên thế giới. Năm 2005,
nước ta đứng thứ 2 trên thế giới về xuất khẩu gạo, thứ 2 về cà phê, thứ 4 về
cao su, thứ 2 về hạt điều, thứ nhất về hạt tiêu.
2005-2010: Tốc độ tăng trưởng kinh tế bình quân 5 năm đạt 7%. Mặc
dù khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế toàn cầu, nhưng thu hút vốn
đầu tư nước ngoài vào nước ta đạt cao. Trong 5 năm, tổng vốn FDI thực hiện
Giảm nghèo: Trong một vài thập niên vừa qua, Việt Nam đã trải qua
một thời kỳ phát triển kinh tế - xã hội nhanh chóng. Sau khi thống nhất năm
1975, Việt Nam đã chuyển sang tập trung tái thiết và phát triển đất nước.Tuy
9
nhiên, do sự tàn phá khốc liệt của nhiều năm chiến tranh, do những yếu kém
về chính sách và môi trường quốc tế có nhiều khó khăn, nền kinh tế Việt Nam
đã trải qua một thời kỳ khủng hoảng kéo dài trong những năm 70 và 80. Để
vượt qua những khó khăn đó, quá trình Đổi mới đã được khởi xướng năm
1986 với những nội dung chính sau đây:
• Chuyển từ nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung dựa trên sở hữu nhà nước
sang một nền kinh tế nhiều thành phần dựa trên thị trường;
• Dân chủ hoá đời sống xã hội thông qua việc xây dựng nhà nước pháp
quyền của dân, do dân và vì dân;
• Tăng cường hợp tác quốc tế với các quốc gia khác trên thế giới.
Việt Nam đã được thế giới ghi nhận là một trong số ít các quốc gia đã
hoàn thành sớm mục tiêu thiên niên kỷ về xoá đói giảm nghèo. Tỷ lệ nghèo
giảm nhanh từ 58,1% năm 1993 xuống còn 14,5% năm. Năm 2009 tỷ lệ hộ
nghèo vẫn tiếp tục giảm, ước tính còn 11% theo chuẩn nghèo của Chính phủ.
Tỷ lệ người nghèo tập trung phần lớn ở nông thôn và vùng đồng bằn ven
biển
Bất bình đẳng về thu nhập: Ở Việt Nam, bất bình đẳng về thu nhập gia
tăng cùng tăng trưởng kinh tế. Tuy nhiên, mức độ bất bình đẳng thu nhập của
Việt Nam vẫn còn tương đối thấp so với các nước trong khu vực như Trung
Quốc, Thái Lan, Philippin, Malaixia và Campuchia.
Chất lượng sống: Khái niệm “chất lượng sống” hiểu theo nghĩa rộng là
một thước đo quan trọng trong đánh giá năng lực cạnh tranh của một quốc
gia. Chỉ số phát triển con người (HDI) là một thước đo chất lượng sống.
Ngoài ra, chất lượng môi trường, đặc điểm dân số, chất lượng và tiếp
cận các dịch vụ y tế, giáo dục, các chỉ tố về bình đẳng giới, v.v. cũng là
những chỉ số thể hiện chất lượng sống.
đắn đo xem có chệch định hướng hay không. “Trong 10 năm tới, nếu vẫn duy
trì mô hình kinh tế như hiện nay, chắc chắn nước ta sẽ gặp nhiều khó khăn
trong phát triển. Ta sẽ đi tìm hiểu về mô hình kinh tế Việt Nam để làm rõ
những ý kiến trên cũng như nhận định của giáo sư Michael Porter.
12
PHẦN II
MÔ HÌNH TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ VIỆT NAM
.
Kinh tế VN thời gian qua dù tăng trưởng nhanh nhưng hiệu quả thấp.
“Mô hình tăng trưởng đã đạt đến ngưỡng, dẫn đến khả năng cạnh tranh của
quốc gia còn ở mức thấp. Dưới tác động của cuộc khủng hoảng kinh tế thế
giới năm 2008, những nhược điểm trong mô hình tăng trưởng kinh tế của VN
đã bộc lộ hoàn toàn. Vấn đề thay đổi mô hình tăng trưởng mới chỉ được thảo
luận từ sau giai đoạn bất ổn kinh tế vĩ mô năm 2007 - 2008 và nhanh chóng
trở thành tâm điểm chú ý của các nhà hoạch định chính sách.
2.1. BẢN CHẤT ĐẶC TRƯNG CỦA MÔ HÌNH KINH TẾ VIỆT NAM
Việt Nam lựa chọn mô hình kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ
nghĩa để phát triển kinh tế trong suốt những năm qua. Mô hình không dập
khuôn theo mô hình chủ nghĩa xã hội kiểu Xô-viết mà là mô hình kinh tế thị
trường định hướng xã hội chủ nghĩa
Việt Nam là một kiểu tổ chức kinh tế vừa tuân theo những quy luật của
kinh tế thị trường vừa dựa trên cơ sở và được dẫn dắt, chi phối bởi các
nguyên tắc và bản chất của chủ nghĩa xã hội, thể hiện trên cả ba mặt: sở hữu,
tổ chức quản lý, và phân phối. Nói cách khác, kinh tế thị trường định hướng
xã hội chủ nghĩa chính là nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần, vận động
theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước, quản lý nền kinh tế bằng
chiến lược, quy hoạch, kế hoạch, chính sách, pháp luật, mở cửa và hội nhập
nhằm thúc đẩy quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa và phát triển rút ngắn
để trong khoảng thời gian không dài có thể khắc phục tình trạng lạc hậu.
Mô hình kinh tế Việt Nam phản ánh khái quát đặc trưng của một nền
Năm Xuất khẩu Nhập khẩu
2001 54,61 56,89
2002 59,50 64,20
2003 59,29 67,65
2004 65,72 73,27
2005 69,03 73,62
2006 65,07 72,95
2007 67,79 85,15
2008 71,3 90,6
2009 62.15 75.6
2010 70,9 83,5
2011 80 92
Bảng 5: Tỷ trọng xuất, nhập khẩu so với GDP
15
lượng hàng hóa xuất khẩu từ khu vực chế tác tăng nhưng gia trị gia tăng còn
thấp mức thâm dụng tài nguyên lớn
Mặc dù được đánh giá giàu tài nguyên tình trạng triệt để khai thác, tận
thu nguồn tài nguyên thiên nhiên cũng đem lại những rủi ro nghiêm trọng đối
với việc bảo tồn và phát triển bền vững nguồn tài nguyên vì nguồn tài nguyên
có hạn, ở mức độ nhất định cũng làm nhụt ý chí sáng tạo và đầu tư để tạo nên
năng lực tăng trưởng mới (thay vì dựa vào yếu tố ưu đãi tự nhiên)
2.2.2. Lao động trong tăng trưởng kinh tế Việt Nam
Việt Nam cũng chỉ chủ yếu có thị phần xuất khẩu lớn trong các ngành
sử dụng nhiều lao động. các sản phẩm xuất khẩu chủ chốt khác chủ yếu là các
mặt hàng thâm dụng lao động hoặc sản phẩm nông nghiệp, ví dụ như giày
dép, may mặc (cả dệt và may), và máy móc linh kiện điện tử. Hầu hết các
ngành này Việt Nam đều nhập khẩu nguyên liệu và công nghệ chỉ gia công
và hòan thành sản phẩm là những khâu đơn giản nhất không mang lại hiệu
quả kinh tế cao và tiềm lực kinh tế, không thể phát triển lâu dài.
Giá trị gia tăng thấp và cơ cấu xuất khẩu chủ yếu là các sản phẩm có hàm
FDI là một nguồn vốn quan trọng. Tính tới 2008, tổng vốn FDI đăng kí đạt
164 tỉ USD với gần 11.000 dự án. Tiết kiệm nội địa không đủ đáp ứng nhu
cầu đầu tư. Chính vì vậy, nền kinh tế ngày càng phụ thuộc vào các nguồn vốn
nước ngoài, và FDI ngày càng trở thành một nguồn vốn quan trọng để bù đắp
sự chênh lệch có xu hướng gia tăng giữa tiết kiệm và đầu tư trong vòng 3 năm
trở lại đây .
Nhưng vốn đầu tư của khu vực công vẫn đóng vai trò quan trọng nhất
trong tổng vốn đầu tư toàn xã hội. Vì vậy hiệu quả sử dụng vốn của khu vực
công có ý nghĩa quan trọng đối với cả tăng trưởng và ổn định vĩ mô của Việt
Nam.
17
Song đầu tư của khu vực nhà nước có hiệu quả thấp hơn đáng kể so
với đầu tư của khu vực tư nhân trong nước và FDI., dù tính theo vốn đầu tư
thực hiện hay theo tích lũy tài sản thì hệ số ICOR của khu vực kinh tế nhà
nước cũng cao gấp rưỡi hệ số ICOR chung của toàn nền kinh tế. Với tỷ trọng
lớn trong tổng đầu tư xã hội như vậy, hiệu quả đầu tư thấp của khu vực công,
đặc biệt là của các DNNN, đã ảnh hưởng tới kết quả hoạt động chung của
toàn nền kinh tế và làm giảm sút năng lực cạnh tranh của của Việt Nam.
Đóng góp của các yếu tố 1993-1997 1998 - 2007
1. Đóng góp theo điểm
phần trăm (%)
- Vốn
- Lao động
- TFP
8,8
6,1
1.4
1,3
6,44
3,7
Bảng 6: Hệ số ICOR của Việt Nam và một số quốc gia khác
Đầu tư của khu vực nhà nước có hiệu quả thấp hơn đáng kể so với đầu tư của
khu vực tư nhân trong nước và FDI., dù tính theo vốn đầu tư thực hiện hay
theo tích lũy tài sản thì hệ số ICOR của khu vực kinh tế nhà nước cũng cao
gấp rưỡi hệ số ICOR chung của toàn nền kinh tế. Với tỷ trọng lớn trong tổng
đầu tư xã hội như vậy, hiệu quả đầu tư thấp của khu vực công, đặc biệt là của
các DNNN, đã ảnh hưởng tới kết quả hoạt động chung của toàn nền kinh tế
và làm giảm sút năng lực cạnh tranh của của Việt Nam.
19
• Thứ hai: là nguy cơ thường trực về bất ổn vĩ mô. Mô hình tăng trưởng
hiện nay chạy theo chiều rộng (chủ yếu dựa vào tăng vốn) mà không theo
chiều sâu (không cải thiện được năng suất). Hệ quả là để tăng trưởng, nền
kinh tế Việt Nam cần rất nhiều đầu tư, khiến tín dụng tăng theo. Nhưng do
nền kinh tế kém hiệu quả nên kết cục tất yếu là lạm phát cao, thâm hụt ngân
sách và thâm hụt cán cân vãng lai lớn
2007 2008 2009 2010 2011
Tốc độ tăng
trưởng KT
8,48 6,18 5,32 6,78 5,89
Tỉ lệ lạm
phát
8,30 22,97 6,88 9,19 18,58
Bảng 7: Tốc độ tăng trưởng và tỷ lệ lạm phát Việt Nam
• Thứ ba: là một số nhóm đặc quyền đặc lợi cản trở cải cách. Những cải
cách quan trọng và thành công nhất của Việt Nam kể từ Đổi mới chủ yếu liên
quan tới khu vực nông nghiệp và dân doanh mà chưa đụng chạm nhiều tới
những khu vực được hưởng đặc quyền đặc lợi, nhất là những DNNN lớn.
KẾT LUẬN PHẦN 2
Sự bất ổn cấu trúc của nền kinh tế Việt Nam chính là đầu tư kém hiệu
quả, tỷ lệ đầu tư rất cao nhưng tăng trưởng lại không tỷ lệ thuận, việc đầu tư
có thể dự báo và kiểm soát được các yếu tố bên ngoài một cách hiệu quả.
Sự cần thiết phải thay đổi không chỉ do những yếu tố nội tại bên trong
dẫn dắt. Khi hội nhập ngày càng sâu hơn vào nền kinh tế toàn cầu, Việt Nam
cần nhìn nhận được những thay đổi và chuyển dịch của môi trường bên ngoài
mà mình phải đối mặt. Một số thay đổi và chuyển dịch sẽ mở ra cơ hội cho
Việt Nam Đã có sự thống nhất quan điểm rằng Việt Nam cần chuyển dịch mô
hình tăng trưởng hiện nay – mô hình dựa trên lao động giá rẻ và đầu tư vốn
lớn - sang dựa trên năng suất và sức cạnh tranh. Tăng trưởng tương lai của
Việt Nam không chỉ dựa trên việc khai thác những lợi thế sẵn có mà phải dựa
trên việc liên tục nâng cấp các lợi thế này và tạo dựng những lợi thế mới.
Điều này đỏi hỏi phải thay đổi toàn diện các điều kiện vĩ mô và vi mô dẫn dắt
năng suất. Quan điểm và cách tiếp cận mới đối với mô hình tăng trưởng này
là điều kiện tiên quyết để Việt nam có thể bước lên một nấc thang phát triển
mới một cách bền vững.
3.1. QUAN ĐIỂM VÀ MỤC TIÊU PHÁT TRIỂN
3.1.1. Quan điểm
22
Phát triển nhanh gắn liền với phát triển bền vững, phát triển bền vững
là yêu cầu xuyên suốt trong Chiến lược ổn định kinh tế vĩ mô, bảo đảm an
ninh kinh tế. Đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu kinh tế, chuyển đổi mô hình tăng
trưởng, coi chất lượng, năng suất, hiệu quả, sức cạnh tranh là ưu tiên hàng
đầu, chú trọng phát triển theo chiều sâu, phát triển kinh tế tri thức. Tăng
trưởng kinh tế phải kết hợp hài hoà với phát triển văn hóa, thực hiện tiến bộ
và công bằng xã hội.bảo vệ và cải thiện môi trường sử dụng nguồn tài nguyên
hợp lý.
Kiên trì và quyết liệt thực hiện đổi mới. Đổi mới chính trị phải đồng bộ
với đổi mới kinh tế theo lộ trình thích hợp, trọng tâm là hoàn thiện thể chế
kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Mở rộng dân chủ, phát huy
tối đa nhân tố con người; coi con người là chủ thể.
Phát triển mạnh mẽ lực lượng sản xuất với trình độ khoa học, công nghệ ngày
3.2. ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN KINH TẾ, ĐỔI MỚI MÔ HÌNH TĂNG TRƯỞNG
Để đạt được những mục tiêu kinh tế phát triển bền vững trên ta cần giải quyết
những vướng mắc hiện tại những thách thức đang nổi lên, và tạo nền tảng
cho tăng trưởng trong tương lai đã được nêu lên trong báo cáo năng lực cạnh
tranh của Việt Nam
Giải quyết những thách Những chuẩn bị cho sự phát
Thức đang nổi lên triển tiếp theo
24
Điều chỉnh những
mất cân bằng kinh tế
vĩ mô ngày càng
tăng
Điều chỉnh những
mất cân bằng kinh tế
vĩ mô ngày càng
tăng
Giải quyết những nút
tắc cổ trai trong các
nhân tố đầu vào quan
trọng
Giải quyết những nút
tắc cổ trai trong các
nhân tố đầu vào quan
trọng
Tạo nền tảng cho
năng suất cao hơn
Tạo nền tảng cho
năng suất cao hơn
Đảm bảo tăng
trưởng hiện tại