Luận văn: MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM PHÁT TRIỂN KINH TẾ BỀN VỮNG TRONG HỆ THỐNG NÔNG NGHIỆP TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN ĐỒNG HỶ - TỈNH THÁI NGUYÊN - Pdf 15


ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ VÀ QUẢN TRỊ KINH DOANH
o0o NGUYỄN THỊ THU HUYỀN MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM PHÁT TRIỂN KINH TẾ
BỀN VỮNG TRONG HỆ THỐNG NÔNG NGHIỆP TRÊN
ĐỊA BÀN HUYỆN ĐỒNG HỶ - TỈNH THÁI NGUYÊN
Chuyên ngành: Kinh tế nông nghiệp
Mã số: 60 – 31 - 10
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
Người hướng dẫn khoa học: T.S ĐOÀN QUANG THIỆU
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
ii
LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành luận văn này, tôi đã nhận được sự giúp đõ nhiệt tình của
các cơ quan, các cấp lãnh đạo và cá nhân. Tôi xin bày tỏ lời cảm ơn sâu sắc và
kinh trọng tới tất cả các tập thể và cá nhân đã tạo điều kiện giúp đõ tôi trong
suốt quá trình học tập, nghiên cứu và thực hiện đề tài!
Trước hết tôi xin chân thành cảm ơn sâu sắc tới T.S Đoàn Quang Thiệu -
người đã trực tiếp hướng dẫn tôi trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu và
hoàn thành luận văn!
Tôi xin trân trọng cảm ơn Ban giám hiệu trường Đại học Kinh tế và Quản
trị Kinh doanh Thái Nguyên, Ban giám hiệu trường Cao đẳng Kinh tế Tài
chính Thái Nguyên, phòng Đào tạo trường Đại học Kinh tế và Quản trị Kinh
doanh Thái Nguyên, Ban chủ nhiệm khoa Sau đại học trường Đại học Kinh tế
và Quản trị Kinh doanh Thái Nguyên cùng các giáo sư, Tiến sĩ - người đã
trang bị cho tôi những kiến thức quý báu để giúp tôi hoàn thành luận văn này.
Tôi xin chân thành cảm ơn sự giúp đõ của lãnh đạo các cơ quan: Uỷ ban
nhân dân huyện Đồng Hỷ, Uỷ ban nhân dân các xã Văn Lăng, Hoà Bình, Sông
Cầu, Đồng Bẩm, Hoá Thượng, Huống Thượng, Khe Mo, Cây Thị và Trại Cau,
phòng nông nghiệp và phát triển nông thôn, phòng thống kê, phòng địa chính
huyện Đồng Hỷ, những hộ nông dân, các cán bộ xã, cán bộ thôn bản ở những
xã tôi trực tiếp điều tra!
Tôi xin chân thành cảm ơn các đồng nghiệp trường Cao đẳng Kinh tế Tài
chính Thái Nguyên, các bạn bè gần xa đã động viên, chia sẻ, giúp đỡ nhiệt tình
và đóng góp nhiều ý kiến quý báu để tôi hoàn thành luận văn này!

3. Phạm vi và thời gian nghiên cứu ………………………………
2
4. Đóng góp mới của đề tài …………………………………………
3
Chương 1:
Tổng quan tài liệu nghiên cứu và phương pháp nghiên cứu

4
1.1. Cơ sở lý luận và thực tiễn về phát triển kinh tế bền vững trong
hệ thống nông nghiệp…………………………………………

4
1.1.1 Cơ sở lý luận …………………………………………………
4
1.1.2 Cơ sở thực tiễn ………………………………………………
10
1.2 Phương pháp nghiên cứu ………………………………………
18
1.2.1. Phương pháp chọn điểm nghiên cứu ………………………
18
1.2.2. Phương pháp thống kê ………………………………………
18
1.2.3. Phương pháp đánh giá nông thôn nhanh (RRA) và phương
pháp đánh giá nông thôn có sự tham gia của người dân (PRA) …

19
1.2.4. Hệ thống các chỉ tiêu phân tích ……………………………
20
Chương 2: Thực trạng phát triển kinh tế trong hệ thống nông
nghiệp huyện đồng hỷ - tỉnh thái nguyên

2.2.5. Đánh giá hiệu quả kinh tế trong từng hệ thống ………………
59
2.2.6.Tính bền vững trong từng hệ thống …………………………
64
2.3. Những trở ngại chủ yếu trong phát triển kinh tế bền vững trong
hệ thống nông nghiệp ………………………………………

67
Chương 3: Các giải pháp nhằm phát triển kinh tế bền vững
trong hệ thống nông nghiệp huyện đồng hỷ tỉnh Thái Nguyên

68
3.1 Quan điểm - phương hướng - mục tiêu ………………………
68
3.1.1 Quan điểm phát triển kinh tế bền vững ………………………
68
3.1.2 Mục tiêu phát triển kinh tế bền vững ………………………
70
3.1.3 Phương hướng phát triển kinh tế bền vững …………………
73
3.2. Giải pháp chủ yếu nhằm phát triển kinh tế bền vững trong hệ
thống nông nghiệp trên địa bàn huyện Đồng Hỷ - tỉnh Thái Nguyên

73
3.3.1 Những giải pháp chung cho các hệ thống ……………………
73
3.3.2. Những giải pháp riêng cho từng hệ thống …………………
77
Kết luận và kiến nghị ……………………………………………….
Danh mục Tài liệu tham khảo ……………………………………

18
19
20
21
22
23
24
25
26
BQ
BVTV
CMH
CPBĐ
CPSX
ĐVT
GTSX
NL
NLKH
NL 1
NL 2
NL 3
NL 4
NL 5
NN
NN & PTNT

UBND
VAC
V ACR
GO

Net Farm Earing
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
vi
DANH MỤC BẢNG BIỂU

Bảng 2.1. Diện tích đất đai theo thổ nhưỡng huyện Đồng Hỷ năm 2007
27
Bảng 2.2: Diện tích và cơ cấu đất đai của huyện Đồng Hỷ năm 2007
28
Bảng 2.3. Cơ cấu dân số của huyện Đồng Hỷ năm 2006 – 2007
32
Bảng 2.4. Một số chỉ tiêu kinh tế huyện Đồng Hỷ 2005 - 2007
37
Bảng 2.5: Diện tích, năng suất, sản lượng một số cây trồng chủ yếu của
huyện qua 2 năm 2006 - 2007

38
Bảng 2.6. Tình hình chăn nuôi của huyện Đồng Hỷ qua 2 năm 06 - 07
40
Bảng 2.7: Quy mô và cơ cấu các hệ thống nông nghiệp huyện Đồng Hỷ
53
Bảng 2.8: Quy mô và cơ cấu các công thức canh tác của hệ thống nông
lâm kết hợp

54
Bảng 2.9: Quy mô và cơ cấu các công thức canh tác trong hệ nông
nghiệp chuyên môn hoá

DANH MỤC BIỂU ĐỒ

Biểu đồ 1. Cơ cấu đất đai huyện Đồng Hỷ
29
Biểu đồ 2. Dân số và dân tộc huyện Đồng Hỷ năm 2006 - 2007
33
Biểu đồ 3. Chỉ tiêu kinh tế huyện Đồng Hỷ năm 2006 - 2007
37
Biểu đồ 4. Diện tích các cây trồng chính qua 2 năm
39
Biểu đồ 5. Sản lượng các cây trồng chính qua 2 năm
39
Biểu đồ 6. Ngành chăn nuôi huyện Đồng Hỷ qua 2 năm
41

DANH MỤC SƠ ĐỒ

1.1. Ảnh hưởng của sản xuất nông nghiệp đến môi trường xung quanh
22
2.1. Mô hình nông hộ phổ biến ở huyện Đồng Hỷ
50
2.2. Mối quan hệ tương tác giữa các hợp phần chủ yếu của mô hình nông hộ
51
2.3. Mô hình đầu vào, đầu ra của hệ thống nông lâm kết hợp
55
2.4. Mô hình đầu vào, đầu ra của hệ thống nông nghiệp CMH
58

Huyện Đồng Hỷ thuộc tỉnh Thái Nguyên có tỷ lệ đất dốc tương đối cao,
chiếm khoảng 3/ 4 diện tích đất của huyện. Những người dân ở đây, họ đang
phải đối mặt với biết bao khó khăn trở ngại, điều này làm hạn chế phát huy
hết tiềm năng về sản xuất nông lâm nghiệp. Hơn thế nữa, trong nông nghiệp,

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

- 2 -
việc lạm dụng quá nhiều phân hoá học, sử dụng nhiều loại thuốc bảo về thực
vật độc hại đã gây ô nhiễm nguồn nước, suy thoái đất như đất bị chua, bị rửa
trôi, bạc màu nghèo kiệt chất dinh dưỡng. Thêm vào đó, nguy cơ mất rừng tự
nhiên và suy giảm đa dạng sinh học do nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội và
khả năng bảo vệ rừng tự nhiên và phát triển rừng chưa tốt, làm cho rừng bị
khai thác ngày càng cạn kiệt. Số diện tích rừng trở thành nương rẫy hoặc đồi
trọc có nguy cơ tăng cao và nhiều laòi sinh vật đang có nguy cơ bị diệt chủng.
Do đó, phát triển nông nghiệp bền vững là vấn đề đặt ra cần giải quyết. Để
phát triển kinh tế nông nghiệp bền vững phải đánh giá thực trạng và đề ra
những giải pháp khoa học phù hợp. Xuất phát từ thực tế khách quan đó tôi
chọn đề tài: “Một số giải pháp nhằm phát triển kinh tế bền vững
trong hệ thống nông nghiệp trên địa bàn huyện Đồng Hỷ - tỉnh Thái
Nguyên” là yêu cầu đặt ra mang tính cấp thiết.
2. MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
- Tổng kết và hệ thống hoá cơ sở lý luận và thực tiễn để phát triển kinh
tế bền vững trong hệ thống nông nghiệp.
- Đánh giá thực trạng tình hình phát triển kinh tế bền vững trong hệ
thống nông nghiệp ở huyện Đồng Hỷ.
Đề xuất một số giải pháp chủ yếu nhằm pháp triển kinh tế bền vững
trong hệ thống nông nghiệp ở huyện Đồng Hỷ - tỉnh Thái Nguyên.
3. PHẠM VI VÀ THỜI GIAN NGHIÊN CỨU
* Về không gian: Nghiên cứu trên địa bàn của huyện Đồng Hỷ.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

- 4 -
Chƣơng 1
TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU VÀ PHƢƠNG PHÁP
NGHIÊN CỨU

1.1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ PHÁT TRIỂN KINH TẾ BỀN
VỮNG TRONG HỆ THỐNG NÔNG NGHIỆP
1.1.1 Cơ sở lý luận
1.1.1.1 Quan niệm về hệ thống
Theo Vonber Tanlafy: Hệ thống là một nhóm các thành phần qua lại với
nhau, hoạt động cùng chung mục đích. Hoạt động này mang tính tổng thể và
có thể bị thúc đẩy bởi điều kiện môi trường. Hệ thống không bị ảnh hưởng
bởi chính đầu ra của nó và mỗi hệ thống đều có ranh giới rõ rệt, ranh giới có
được là do sự phản hồi nhận ra các thành phần trong hệ thống. [21 ]
Vậy lý thuyết hệ thống nhấn mạnh đến cách nhìn mọi sự vật, hiện tượng
như một thể thống nhất chứ không phải là một số cộng đơn thuần các hợp
phần rời rạc mà nhìn sự tác động lẫn nhau giữa các thành phần trong quá trình
vận động từ đầu vào đến đầu ra.
1.1.1.2 Quan niệm về hệ thống nông nghiệp
Theo Vissac, 1979: Hệ thống nông nghiệp là biểu hiện không gian của sự
phối hợp giữa các ngành sản xuất và kỹ thuật do một xã hội thực hiện để thoả
mãn nhu cầu. Nó biểu hiện sự tác động qua lại giữa một hệ thống sinh học,
sinh thái mà môi trường tự nhiên là đại diện và một hệ thống xã hội - văn hoá

Những khả năng sau có thể xảy ra khi đánh giá khả năng bền vững trong
sử dụng đất nông nghiệp
*Khả năng không bền vững :
- Điều kiện sinh thái xấu đi hoặc bị suy giảm trong khi điều kiện hệ
thống sử dụng đất cũng bị xấu đi hoặc bị suy giảm (xói mòn rửa trôi, trơ sỏi
đá, hoá chua hoá mặn, đá ong, kết von, cạn kiệt nguồn nước).

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

- 6 -
- Điều kiện hệ sinh thái bị xấu đi hoặc bị suy giảm trong khi điều kiện hệ
thống sử dụng đất tốt hoặc được cải thiện (chặt phá rừng để trồng cây nông
nghiệp, lạm dụng phân bón, hoá chất nông dược trong sản xuất)
Điều kiện sinh thái tốt hoặc được cải thiện trong khi điều kiện hệ thống
sử dụng đất cũng bị xấu đi hoặc bị suy giảm (tăng cường mở rộng hệ thống
rừng bảo vệ, rừng ngập mặn giảm diện tích sử dụng đất).
* Khả năng bền vững chỉ tồn tại khi điều kiện sinh thái tốt hoặc được cải
thiện trong khi điều kiện hệ thống sử dụng đất cũng tốt hoặc được cải thiện
(kết hợp hài hoà giữa sử dụng đất và bảo vệ môi trường, không gây ra mâu
thuẫn giữa sử dụng đất và duy trì bảo vệ độ phì đất, không gây ra sự suy kiệt
và ô nhiễm đất).
1.1.1.4.Quan niệm về sử dụng đất đai bền vững
Trong một vài thập kỉ gần đây, dân số ở các nước đang phát triển ngày
một đồng hơn, vấn đề đảm bảo lương thực đã trở thành sức ép ngày càng
mạnh đối với đất đai. Những diện tích đất canh tác phù hợp cho sản xuất nông
nghiệp ngày càng cạn kiệt, do đó con người phải mở mang thêm diện tích
canh tác trên các vùng đất không thích hợp cho sản xuất. Hậu quả đã gây ra
các quá trình thoái hoá, rửa trôi và phá hoại đất một cách nghiêm trọng, làm
cho độ phì nhiêu của đất ngày càng suy giảm. Khi đất đã bị thoái hoá rất khó
có khả năng phục hồi hoặc phải có chi phí rất tốn kém mới có thể phục hồi

mà còn đảm bảo cải thiện những điều kiện tự nhiên mà con người đang sống
và chính sự phát triển đang dựa vào đó để ổn định bền vững. Như vậy, trong
mỗi hoàn cảnh môi trường và nguồn tài nguyên, con người phải tìm ra các
hướng phát triển tối ưu của mình phù hợp với điều kiện kinh tế xã hội, phong
tục truyền thống của dân tộc.[6,Tr 12]
Phát triển bền vững được định nghĩa như là “việc quản lý và giữ gìn cơ
sở của các nguồn tài nguyên thiên nhiên và định hướng các thay đổi về công
nghệ và thể chế nhằm đạt được và thoả mãn các nhu cầu của con người cho

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

- 8 -
thế hệ ngày nay và thế hệ mai sau. Phát triển bền vững với các kỹ thuật phù
hợp, có lợi ích lâu dài về mặt kinh tế và được xã hội chấp nhận cho phép gìn
giữ đất, nước, các nguồn tài nguyên di truyền thực vật và động vật, giữ cho
môi trường không bị huỷ hoại”{Theo FAO – Tổ chức lương thực và Nông
nghiệp thế giới, 1988}[8]
Phát triển bền vững là quản lý, bảo vệ nguồn tài nguyên tự nhiên, định
hướng sự thay đổi công nghệ và thể chế nhằm đảm bảo, đáp ứng nhu cầu
ngày càng tăng của con người trong các thế hệ hiện tại và tương lai.[ 25, tr
10]
1.1.1.6. Phát triển nông nghiệp bền vững
Phát triển nông nghiệp bền vững được nhận thức từ định nghĩa phát triển
bền vững. Theo FAO đưa ra khái niệm phát triển nông nghiệp bền vững ( năm
1992): “ Phát triển nông nghiệp bền vững là sự quản lý và bảo tồn sự thay đổi
về tổ chức và kỹ thuật nhằm đảm bảo thoả mãn ngày càng tăng của con người
cả trong hiện tại và mai sau. Sự phát triển như vậy của nền nông nghiệp sẽ
không làm tổn hại đến môi trường, không làm giảm cấp tài nguyên phù hợp
với kỹ thuật và công nghệ, có hiệu quả kinh tế được xã hội chấp nhận” [7, tr
91]

nghiệp bền vững, điều mấu chốt nhất là phải xây dựng hệ thống cây trồng, vật
nuôi sao cho các nguồn lợi đất, nước và sinh vật được khai thác và bảo vệ một
cách hợp lý nhất, đảm bảo tính bền vững hoặc không suy thoái của nguồn lợi
này.
- Đảm bảo bền vững kinh tế: Bền vững kinh tế được xác lập bởi sự biến
động về lợi nhuận kinh tế theo thời gian. Một hệ thống không thể được coi là
bền vững nếu lợi nhuận kinh tế giảm dần theo thời gian, mặc dù năng suất vẫn
giữ ở mức cao. Đây là nguyên tắc rất quan trọng trong xây dựng, phát triển hệ
thống nông nghiệp bền vững vì nó là kết quả của sự bền vững môi trường và
sinh học, cũng như có ảnh hưởng quyết định đến sự bền vững về mặt xã hội.

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

- 10 -
- Đảm bảo bền vững xã hội: Khi xây dựng hệ thống cây trồng vật nuôi
phải xem xét để đáp ứng được yêu cầu phát triển xã hội cộng đồng. Cụ thể
đảm bảo sử dụng lao động một cách có hiệu quả; đáp ứng các nhu cầu của
người dân về các loại nông sản; đảm bảo tính công bằng trong cộng đồng về
sử dụng các nguồn lợi.
- Đảm bảo bền vững theo không gian và thời gian: Con người chỉ chú ý
đến vật chất ở đầu ra mang lại lợi ích kinh tế cho họ, còn ít chú ý đến vật chất
được thải ra tới các hệ sinh thái xung quanh làm ảnh hưởng đến tính bền vững
của chúng. Mặt khác tính bền vững của hệ thống phải được duy trì trong một
thời gian dài.
1.1.2 Cơ sở thực tiễn
1.1.2.1 Tình hình phát triển kinh tế bền vững trong hệ thống nông
nghiệp trên thế giới
Sản xuất nông nghiệp bắt đầu trên thế giới cách đây khoảng 14000 -
15000 năm, khi con người lần đầu tiên biết sử dụng các công cụ lao động vào
thế giới tự nhiên, bắt tự nhiên cho sản phẩm theo ý muốn của con người. Và

nghiêm trọng đối với môi trường và sức khoẻ con người. Do vậy tính bền
vững và năng suất cao của hệ sinh thái nông nghiệp vẫn là mâu thuẫn khó giải
quyết trong tình trạng hiện nay của các nước nông nghiệp nhiệt đới, các nước
đang và kém phát triển.
* Những hậu quả của phát triển nông nghiệp theo hướng Công nghiệp
hoá và tính cấp thiết của phát triển kinh tế bền vững trong hệ thống nông
nghiệp.
Hiện nay xói mòn là một trong những nguy cơ quan trọng nhất dẫn đến
suy thoái các vùng đất nông nghiệp của thế giới, đặc biệt ở các nước nhiệt đới
có lượng mưa lớn và tập trung. Xói mòn là hiện tượng mất dần lớp đất mặt
dưới tác động bào mòn của nước hoặc gió. Xói mòn do nước thường làm suy
thoái đất mạnh nhất và xảy ra rất trầm trọng ở các nước nhiệt đới. Cùng với

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

- 12 -
xói mòn do nước, xói mòn do gió cũng góp phần làm mất dần lớp đất mặt.
Theo số liệu bảng 1.1, xói mòn hàng năm đã làm mất đi khoảng 0,7 lượng đất
đó, có nghĩa là mất đi 7% lượng đất canh tác sau mỗi thập kỷ. Sau khi tổng
kết nghiên cứu, Leon Lyles (1975) chỉ ra rằng, cứ mất đi 1 inch đất mặt do xói
mòn, năng suất cây trồng sẽ giảm đi 4% đối với ngô và 8% đối với lúa mì. Và
muốn giành năng suất như trước cần phải đầu tư thêm nhiều phân bón như N,
P, K.
Theo ước tính trong vòng vài ba thập kỷ qua, 1/3 đất nông nghiệp thế
giới bị xói mòn trầm trọng và tốc độ mất đất nông nghiệp do xói mòn hiện
nay đã lên đến 10 triệu ha/năm. Hơn thế nữa, do sử dụng nhiều phân bón hoá
học làm thay đổi về tính chất hoá học của đất, gây chua hoá đất nông nghiệp.
Và cùng với sự chua hoá là quá trình mặn hoá đất nông nghiệp do bón nhiều
phân hoá học liên tục lượng mùn trong đất giảm xuống, phá vỡ kết cấu viên
của đất và đặc biệt việc sử dụng nhiều thuốc trừ sâu, trừ cỏ sẽ dẫn đến huỷ

nhằm hướng tới phát triển kinh tế bền vững trong hệ thống nông nghiệp.
- Ở Ấn Độ, để phục vụ cho chiến lược phát triển kinh tế bền vững trong
hệ thống nông nghiệp thì chương trình phối hợp nghiên cứu từ năm 1960 -
1972 lấy hệ thống luân canh tăng vụ chu kỳ một năm ưu tiên cây lương thực
chu kỳ một năm 2 vụ ngũ cốc, đưa thêm vào một vụ đậu đỗ đã đáp ứng được
3 mục tiêu là khai thác tối ưu tiềm năng của đất đai, ảnh hưởng tích cực đến
độ phì nhiêu của đất trồng và đảm bảo lợi ích của người nông dân [3 - tr 22].
Như vậy, ở hầu hết các nước trên thế giới dù ở trình độ phát triển không
giống nhau đều phải quan tâm tới việc xây dựng “một nền nông nghiệp theo
quan điểm sinh thái và phát triển lâu bền” với mục tiêu quản lý và bảo tồn tài
nguyên thiên nhiên, định hướng sự thay đổi công nghệ và tổ chức thực hiện
nhằm đảm bảo thoả mãn liên tục các nhu cầu con người thuộc các thế hệ hôm
nay và mai sau [11].

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

- 14 -
1.1.2.2. Tình hình phát triển kinh tế bền vững trong hệ thống nông
nghiệp ở Việt Nam
Việt Nam là một nước nông nghiệp, nông dân có truyền thống trồng trọt,
chăn nuôi từ lâu đời. Ngay từ thời Hùng Vương, người dân đã di chuyển từ
vùng gò đồi xuống vùng Đồng bằng ven biển để khai hoang, xây dựng đồng
ruộng, sản xuất nông nghiệp và hình thành nên các thôn bản (Bùi Huy Đáp,
1994)[3].
Nông nghiệp là ngành quan trọng nhất của Việt Nam, hiện sản xuất ra
1/4 GDP. Trong những năm 90, nông nghiệp Việt Nam đã có những bước
phát triển tiến bộ đáng kể, sản xuất lương thực, đặc biệt là lương thực quốc
gia và đưa Việt Nam trở thành một trong những nước xuất khẩu gạo hàng đầu
thế giới. Thâm canh trở thành xu hướng chủ đạo của ngành nông nghiệp với
việc áp dụng khoa học công nghệ và chế biến sản phẩm. Cơ cấu nông nghiệp

thái.
Sự phát triển kinh tế bền vững cho hệ thống nông nghiệp còn có hệ quả
cực kỳ quan trọng là bảo vệ tài nguyên đất, tài nguyên nước và đa dạng sinh
học.
* Kinh nghiệm phát triển kinh tế bền vững trong hệ thống nông nghiệp ở
một số địa phương
- Lạng Sơn: Tình hình phát triển kinh tế nông nghiệp bền vững trong hệ
thống nông nghiệp vừa qua của tỉnh Lạng Sơn vẫn dựa vào khai thác tài
nguyên thiên nhiên là chủ yếu như: đất, rừng, nước Song với trình độ công
nghệ sản xuất thấp kém và lạc hậu, tuy tốc độ tăng trưởng kinh tế cao nhưng
không bền vững, năng suất lao động thấp, cộng với tỷ lệ tăng dân số nhanh,
dẫn đến tỷ lệ hộ đói nghèo cao. Cơ cấu kinh tế đã có những bước chuyển dịch
quan trọng đúng hướng, phù hợp với đường lối phát triển kinh tế của đất
nước, tỷ trọng ngành nông lâm thuỷ sản giảm từ 47,99% (năm 2005) xuống
45% (năm 2006).Về sản xuất nông nghiệp, bước đầu thực hiện có hiệu quả

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

- 16 -
việc chuyển đổi cơ cấu sản xuất theo hướng khai thác lợi thế sản xuất hàng
hoá, nổi bật là sự chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi, cơ cấu mùa vụ, xác
định được một số mặt hàng xuất khẩu chủ lực, từng bước hình thành vùng sản
xuất cây công nghiệp, con nuôi tập trung, chuyên canh gắn công nghiệp chế
biến và tiêu thụ sản phẩm. Sản xuất lương thực theo quan điểm sản xuất hàng
hoá, đã chú trọng thâm canh tăng vụ, ứng dụng giống mới và các tiến bộ kỹ
thuật, sản lượng lương thực có hạt tăng cao và ổn định, từ 145.016 tấn năm
1995 tăng lên 243.895 tấn năm 2000 và đạt 325.540 tấn năm 2006, tốc độ
tăng bình quân hàng năm giai đoạn 2000- 2006 là 9,65%; trong đó phần tăng
của diện tích là 3,55%. Lương thực có hạt bình quân đầu người tăng từ 217,8
kg năm 1995 lên 361 kg / người/ năm (2006). Lạng Sơn đã đảm bảo được an

- Ở Bắc Giang: Phát triển kinh tế bền vững ở Bắc Giang cần được hiểu
toàn diện bao gồm phát triển liên tục cả kinh tế và an ninh quốc phòng, cả văn
hoá xã hội và môi trường sống. Tăng trưởng kinh tế của tỉnh chủ yếu dựa vào
nguồn tài nguyên thiên nhiên đang có nguy cơ cạn kiệt. Sản xuất nông nghiệp
chiếm 40% GDP nhưng lượng nông sản được chế biến còn rất thấp.Có loại
rau quả chỉ đạt 5%, thịt 1% tổng lượng nguyên liệu hiện có. GDP bình quân
đầu người nhỏ hơn 500 đô la Mỹ nên đây là một khó khăn cho Bắc Giang
không chỉ do tỉnh thiếu cơ sở kinh tế để đảm bảo duy trì phát triển sản xuất
mà còn phải “ bóc lột” tự nhiên để thoả mãn các nhu cầu của con người. Thực
tế nguy hại của ô nhiễm và thực hành các biện pháp phòng chống ô nhiễm
trong là khá rõ đối với Bắc Giang. Thừa hưởng các kết quả phòng chống ô
nhiễm đã có, tỉnh có thể bảo vệ môi trường hiệu quả hơn.Ví dụ: Chính sách
phòng ngừa đã khẳng định là đỡ tốn kém nhất. Nếu chi phí phòng ngừa xói
mòn, thoái hoá đất chỉ mất khoảng từ 5 - 150 USD Mỹ cho 1 ha thì chi phí
phục hồi và cải tạo tốn từ 500 - 1000 USD cho 1 ha.
Tuy nhiên, tỉnh cũng sẽ gặp nhiều khó khăn trong phát triển bền vững,
khả năng cạnh tranh của một số mặt hàng là thấp hơn ngay cả ở một số nhóm

Trích đoạn Đánh giá hiệu quả kinh tế trong từng hệ thống Mục tiêu phát triển kinh tế bền vững Giải pháp chủ yếu nhằm phát triển kinh tế bền vững trong hệ
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status