BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI
Trần Thị Ngọc Anh
SỰ CHUYỂN ĐỔI DIỄN NGÔN
LÝ LUẬN, PHÊ BÌNH VĂN HỌC VIỆT NAM
TỪ THỜI KỲ ĐỔI MỚI ĐẾN NAY
Chuyên ngành : Lý luận văn học
Mã số : 62.22.01.20
TÓM TẮT LUẬN ÁN TIẾN SĨ NGỮ VĂN
HÀ NỘI, 2015
Công trình được hoàn thành tại:
TRường Đại học Sư phạm Hà Nôi
Người hướng dẫn khoa học: GS.TS Trần Đình Sử
Phản biện 1: PGS.TS Trịnh Bá Đĩnh
Phản biện 2 PGS.TS Lí Hoài Thu
Phản biện 3: PGS.TS Đào Thủy Nguyên
Luận án sẽ được bảo vệ trước Hội đồng chấm luận án cấp Trường họp tại:
Vào hồi … giờ … ngày … tháng… năm
Có thể tìm hiểu luận án tại:
- Thư viện Quốc gia Việt Nam
- Thư viện Trường Đại học Sư phạm Hà Nội
:
MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
1.1. Lý luận, phê bình văn học từ thời kỳ đổi mới đến nay là một đề tài
lớn nhận được nhiều sự quan tâm của giới nghiên cứu văn học. Các công trình
đã được thực hiện dường như có chung một quy luật, chủ yếu bàn về lý luận,
phê bình văn học từ góc độ nhận thức luận. Đó là sự phân tích và chỉ ra những
giới hạn đúng – sai, rộng – hẹp, mới – cũ, thành tựu – hạn chế trong lý luận,
phê bình văn học mà bỏ qua vai trò trung gian của ngôn ngữ trong nhận thức
lí khoa học không chỉ phụ thuộc vào đối tượng khách quan mà còn phụ thuộc
vào chủ thể nhận thức. Nó không chỉ là hình ảnh hiện thực mà còn là sự đồng
thuận liên chủ thể trong hoạt động giao tiếp. Cũng từ góc độ tiếp cận này, lịch
1
sử khoa học nói chung, lịch sử lí luận và phê bình văn học nói riêng, sẽ hiện lên
như một tiến trình có sự bứt phá, nhưng cũng có những bước đứt gẫy, mâu
thuẫn, tiếp biến vô cùng phức tạp.
1.4. Cho đến nay, việc vận dụng lý thuyết diễn ngôn trong nghiên cứu văn
học trên thế giới cũng như ở Việt Nam vẫn còn non trẻ và có nhiều bất đồng.
Tuy nhiên, chúng tôi mong rằng, kết quả của luận án sẽ tiếp tục khẳng định
hướng tiếp cận các vấn đề của văn học nói chung và lý luận, phê bình văn học
Việt Nam thời kỳ đổi mới nói riêng từ góc nhìn diễn ngôn là khả thi, hiệu quả.
2. Đối tượng, phạm vi ngiên cứu
2.1. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận án là sự chuyển đổi diễn ngôn lý luận phê bình
văn học Việt Nam từ thời kì đổi mới đến nay.
2.2. Phạm vi nghiên cứu
Với đối tượng nghiên cứu như trên, luận án xác định phạm vi nghiên cứu
là: các công trình lý luận, phê bình văn học Việt Nam thời kì trước và sau đổi
mới dưới góc nhìn diễn ngôn. Thời gian đổi mới được chúng tôi xác định bắt
đầu từ 1986 đến nay theo dấu mốc Đại hội Đảng Cộng sản Việt Nam lần thứ VI
(1986) – Đại hội của kỷ nguyên đổi mới và hội nhập toàn cầu.
Tuy nhiên, do số lượng các công trình lý luận, phê bình văn học trước và
sau đổi mới rất lớn nên chúng tôi tập trung chủ yếu vào các công trình nghiên
cứu đã được công nhận, đánh giá cao và có ý nghĩa đối với việc tạo ra sự thay
đổi diễn ngôn lý luận, phê bình văn học như: các văn kiện, chỉ thị, nghị quyết
của Đảng về văn hóa, văn học, giáo trình lý luận văn học, giáo trình văn học
phương Tây, giáo trình văn học Việt Nam, các tập bài giảng về văn học, văn
hóa của Trường Chính trị trước, một số chuyên luận văn học trước và sau đổi
mới; các bài lý luận, phê bình văn học trên các tạp chí như: Tạp chí Cộng sản –
và sau đổi mới.
- Phương pháp miêu tả: Phương pháp này giúp chúng tôi có thể mô tả một
cách cụ thể thực tiễn lý luận, phê bình văn học thời kỳ đổi mới dưới ảnh hưởng
của chiến lược và trật tự diễn ngôn.
Ngoài ra, trong quá trình nghiên cứu, chúng tôi cũng sử dụng phối kết
hợp các thao tác trong nghiên cứu văn học nói chung và lý luận, phê bình nói
riêng như: phân tích, tổng hợp, so sánh, thống kê, đối lập
5. Đóng góp của luận án
- Luận án là công trình đầu tiên nghiên cứu một cách có hệ thống về lý
luận, phê bình văn học Việt Nam thời kỳ đổi mới như một hình thức diễn ngôn.
- Từ góc độ diễn ngôn, luận án sẽ làm rõ thực tiễn lý luận, phê bình văn
học Việt Nam thời kì đổi mới thông qua vai trò của hệ thống quyền lực trong xã
hội và sự chuyển đổi của khung tri thức biểu hiện qua: các quan niệm văn học,
hệ thuật ngữ chủ đạo, các con đường vận dụng lý luận, phê bình đối với nghiên
cứu văn học. Từ đó luận án chỉ ra quy luật vận động, chuyển đổi diễn ngôn lý
luận, phê bình văn học Việt Nam đương đại.
- Luận án cũng góp phần chỉ ra những khả năng và thách thức trong sự
phát triển của diễn ngôn lý luận, phê bình văn học cũng như nền lý luận, phê
bình văn học Việt Nam trong tương lai.
6. Cấu trúc luận án
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Thư mục tham khảo, Các công trình khoa
học đã công bố có liên quan đến luận án, Nội dung của luận án gồm 4 chương:
Chương 1: Tổng quan vấn đề nghiên cứu
Chương 2: Lý luận, phê bình văn học như một hình thức diễn ngôn
Chương 3: Diễn ngôn lý luận, phê bình văn học thời kỳ đổi mới từ
nguyên tắc đối lập đến hội nhập đa phương
Chương 4: Diễn ngôn lý luận, phê bình văn học thời kỳ đổi mới từ
nguyên tắc chính trị sang học thuật
3
NỘI DUNG
pháp để lý luận, phê bình văn học được phát triển và tiến kịp với thế giới.
1.1.3. Hướng nghiên cứu một cách toàn diện về thành tựu, hạn chế
cũng như khả năng phát triển của lý luận, phê bình văn học thời kì đổi mới
Hướng nghiên cứu về lý luận, phê bình văn học thời kì đổi mới một cách
toàn diện đã nhận được sự quan tâm đặc biệt của các tác giả: Trần Đình Sử,
Phương Lựu, Nguyễn Văn Long, Nguyễn Duy Bắc, Trịnh Bá Đĩnh, Cao Hồng
… Các công trình nghiên cứu đã đề cập đến nhiều mặt của đời sống lý luận, phê
bình văn học thời kì đổi mới, chỉ ra được thành tựu cũng như hạn chế của một
giai đoạn lý luận, phê bình văn học nhiều biến động. Tuy nhiên, tất cả các công
trình đã nghiên cứu về lý luận, phê bình văn học Việt Nam thời kì đổi mới chủ
4
yếu quan tâm đến sự chuyển đổi về các quy luật, các khuynh hướng, thành tựu
cũng như hạn chế của lý luận, phê bình văn học mà chưa quan tâm đến vấn đề
quyền lực và ưu thế tri thức đối với thực tiễn lý luận, phê bình văn học. Cơ chế
nào trong đời sống xã hội cũng như hệ hình tri thức cụ thể nào có vai trò chính
tạo ra mạng lưới tổ chức, mạng lưới quy tắc quy định mọi phương thức biểu đạt
cũng như sự chuyển đổi của lý luận, phê bình văn học trong thực tiễn văn học
và cả trong đời sống?
1.2 Những nghiên cứu các phương diện của văn học Việt Nam từ góc
độ diễn ngôn
Việc sử dụng lý thuyết diễn ngôn trong nghiên cứu văn học Việt Nam đã
được nhà lý luận, phê bình văn học Trần Đình Sử, Lã Nguyên (La Khắc Hòa)
và các tác giả trẻ như Lê Thời Tân, Trần Thiện Khanh, Nguyễn Thị Hải
Phương, Nguyễn Thị Ngọc Minh, Hoàng Thị Thu Giang… quan tâm nghiên
cứu. Các công trình nghiên cứu này đã góp phần khẳng định: sử dụng diễn ngôn
trong nghiên cứu văn học hiện là hướng nghiên cứu mới, khả thi và hiệu quả.
1.3 Vấn đề đặt ra cho luận án
1.3.1 Việc nghiên cứu lý luận, phê bình văn học không chỉ là nghiên cứu
vấn đề bản chất hay quy luật, thành tựu hay hạn chế mà còn là vấn đề lý luận,
phê bình văn học xuất hiện để làm gì, hướng đến ai, thuyết phục ai và thuyết
khi I.P.Ilin và E.A Tzurganova trong Các khái niệm và thuật ngữ của các
trường phái nghiên cứu văn học ở Tây Âu và Hoa Kỳ thế kỉ 20 cho rằng: “Diễn
ngôn được lý giải như một quá trình kí hiệu học, được thực hiện ở những dạng
thức thực tiễn diễn ngôn khác nhau” cũng có nghĩa là thừa nhận diễn ngôn như
một phạm trù mở, khó hoàn kết và thống nhất trong một định nghĩa duy nhất.
2.1.1. Diễn ngôn trong ngôn ngữ học
Sự xuất hiện của thuật ngữ diễn ngôn khiến cho các nhà ngôn ngữ học
không thể không tiến hành phân biệt ngôn ngữ và diễn ngôn. Các nhà ngữ học
như: Emil Benviniste, Zeling Harris, Giilian Brown, George Yule, M.A.K
Halliday, David Nunan, Cook đã quan niệm diễn ngôn như một phạm trù
không đồng nhất với ngôn ngữ nhưng lại có liên quan chặt chẽ với ngôn ngữ và
các chức năng ngôn ngữ. Từ đó, họ coi diễn ngôn là một đơn vị ngôn ngữ trên
câu và phụ thuộc phần lớn vào ngữ cảnh cố định.
2.1.2. Diễn ngôn theo quan niệm xã hội học
Từ góc độ xã hội học, diễn ngôn là một hiện tượng văn hóa, xã hội, ý thức
hệ. Nó không phải là công cụ, không phải hình thức ngôn ngữ, mà là bản thân
thực tiễn được biểu hiện dưới hình thức ngôn ngữ.
- Quan niệm của M. Bakhtin (1895 - 1975)
Lý thuyết diễn ngôn của Bakhtin tập trung chủ yếu vào việc phủ định sự
đồng nhất diễn ngôn và ngôn ngữ (lời nói).Với M.Bakhtin, diễn ngôn là lời nói
thấm đẫm tư tưởng hệ. Nó được hiểu là một hiện tượng xã hội, không có tác
giả, có mở đầu và có thể chưa có kết thúc.
- Quan niệm của Michel Foucault (1926 – 1984)
Theo M.Foucault, sự biểu hiện ra bên ngoài của diễn ngôn là một hình
thức ngôn ngữ, nhưng nó không phải là một vấn đề ngôn ngữ thuần túy. Diễn
ngôn được hiểu như một hành động hoặc như một sự kiện và được hình thành
trong sự tương tác phức tạp giữa tri thức và quyền lực.
Thông qua việc phân tích diễn ngôn, Foucault chỉ ra rằng, mỗi người đều
biết rất rõ là mình không có quyền nói tất cả mọi thứ, không thể nói về bất cứ
điều gì ở trong bất kỳ hoàn cảnh nào giao tiếp nào. Đây là cơ sở quan trọng để
như học thuật một cách có chiến lược, tuân theo trật tự và mang tính liên văn
bản.
Khái niệm diễn ngôn có thể được tiếp cận qua những nội dung sau:
Thứ nhất, diễn ngôn không phải là ngôn ngữ theo nghĩa thuần khiết. Đây
là điều mà M. Foucault cũng như nhiều nhà nghiên cứu khác trong suốt quá
trình phân tích diễn ngôn luôn khẳng định. Thứ hai, diễn ngôn có tính thực tiễn.
Trong một bối cảnh cụ thể nó là một thực tại đã biết, đã được chuẩn hóa. Vì
vậy, phân tích diễn ngôn là phân tích các cơ chế quyền lực của xã hội, chính trị,
tâm lí, ý thức hệ, lịch sử, văn hóa, tri thức ẩn chìm trong diễn ngôn nhưng lại
tác động mạnh mẽ đến các hành vi hiển ngôn của con người. Thứ ba, diễn ngôn
là khái niệm liên quan chặt chẽ đến văn bản, là nguyên tắc sản sinh văn bản.
Nhưng diễn ngôn không phải là văn bản. Giữa văn bản và diễn ngôn luôn tồn
tại khoảng cách khi văn bản có tác giả, có ý nghĩa, có phạm vi sử dụng, văn bản
có giới hạn ít nhất là về mặt kết cấu và câu chữ còn diễn ngôn thì không có tác
giả cụ thể và có thể không có giới hạn. Tuy nhiên, phương thức tồn tại của văn
bản lại là liên văn bản nên diễn ngôn còn có tính chất liên văn bản, liên chủ thể.
Thứ tư, diễn ngôn là khái niệm có tính chỉnh thể, hệ thống. Diễn ngôn được tạo
ra bằng sự liên kết trong tổng hoà các nhân tố ngoài ngôn ngữ, xã hội học, tâm
7
lí học…và các nhân tố khác. Thứ năm, diễn ngôn mang tính chủ thể xã hội.
Diễn ngôn không bao gồm tất cả những khác biệt cá nhân, nó tồn tại như một
ngôn ngữ chung. Thứ sáu, diễn ngôn là khái niệm có tính chiến lược và trật tự.
Bằng chiến lược và trật tự, diễn ngôn có khả năng kiểm soát và loại trừ cũng
như liên kết tư tưởng và hành vi của con người trong thực tiễn.
Chiến lược và trật tự diễn ngôn cũng là phương diện lý thuyết được chúng
tôi đặc biệt quan tâm sử dụng để giải quyết vấn đề của luận án.
2.2 Chiến lược và trật tự diễn ngôn
2.2.1 Chiến lược diễn ngôn
Chiến lược trong diễn ngôn chính là mục đích, ý đồ, phương thức chọn
điểm xuất phát, đối tượng hướng tới, mục tiêu cô lập hay liên kết các chủ thể
nghiên cứu văn học và các cách đánh giá về văn học không chỉ tồn tồn tại
8
trong hoạt động lý luận, phê bình văn học thuần túy mà nó tồn tại cả trong các
lĩnh vực khác của xã hội. Vì thế, diễn ngôn lý luận, phê bình văn học là khái
niệm có tính chất liên văn bản, liên chủ thể.
Nhìn lý luận, phê bình văn học với tư cách là một diễn ngôn sẽ cho thấy:
lịch sử văn học luôn là một thực tiễn sống động của mọi sự đổi thay, thậm chí
mất đi một số thuật ngữ cũ và sự sinh sôi, nảy nở của những thuật ngữ mới về
văn học. Vì vậy, trong từng giai đoạn lịch sử, khi một diễn ngôn lý luận, phê
bình văn học nào đó tỏ ra có ưu thế và chi phối tới các hoạt động văn học khác
bằng các công thức, các quy phạm trong mọi biểu đạt về văn học thì điều đó
chứng tỏ chiến lược của nó đã thay thế được chiến lược cũ, trật tự mới của nó tất
yếu cũng trở thành cơ chế biểu đạt chủ đạo trong thực tiễn nghiên cứu, đánh giá
văn học.
2.3.2. Những tiền đề chuyển đổi diễn ngôn lý luận phê bình văn học
2.3.2.1. Bối cảnh văn hóa xã hội
Bối cảnh văn hóa xã hội thời kỳ đổi mới là bối cảnh “toàn cầu hóa”.
Trọng tâm của “toàn cầu hóa” chính là xu hướng hội nhập đa phương trong mọi
mặt của đời sống xã hội. Nó đã tác động sâu sắc đến tính chất và cấu trúc của
hệ thống diễn ngôn của xã hội trong đó có diễn ngôn lý luận, phê bình văn học.
2.3.2.2. Bối cảnh tri thức
Tri thức là một yếu tố quan trọng cấu thành diễn ngôn. Thời kỳ đổi mới,
hệ thống tri thức của ta được phong phú nhờ sự phát triển của khoa học công
nghệ, của Internet, hoạt động dịch thuật và những chuyển động của chính bản
thân lý luận, phê bình văn học. Thực tiễn này đã trở thành cơ sở, động lực mạnh
mẽ cho sự chuyển đổi của diễn ngôn lý luận, phê bình văn học sau 1986 từ đối
lập đến hội nhập đa phương, từ chính trị sang học thuật như một tất yếu khách
quan và cũng là một nhu cầu tự thân của lý luận, phê bình văn học.
2.3.2.3. Sự chuyển đổi diễn ngôn của Đảng cộng sản Việt Nam về lý
luận, phê bình văn học
Trong nguyên tắc này, toàn bộ lý luận, phê bình văn học Mác – Lênin
được đặt vào cái đúng, tiến bộ và cách mạng. Đồng thời, đẩy các lý luận khác,
đặc biệt là lý luận tư sản phương Tây về phía đối lập, coi nó là một trở ngại cho
sự phát triển của những tư tưởng tiến bộ, nhất là của chủ nghĩa Mác. Nó đưa lý
luận, phê bình văn học Mác xít và các lý luận đồng chất khác vào vị trí thống
soái, có tính chất toàn năng và trở thành siêu lý luận. Chiến lược này đã làm cho
trật tự diễn ngôn lý luận, phê bình văn học trước đổi mới trở nên nhiều ràng
buộc nhất, nhiều “cấm kị” nhất và cũng dễ nhận diện nhất.
3.2.2. Trật tự diễn ngôn theo nguyên tắc đối lập
Trên cơ sở đối lập mà trật tự diễn ngôn sẽ phân cấp một cách triệt để giữa
việc đề cao tri thức được lựa chọn và hạ thấp hoặc phủ định tri thức không được
lựa chọn trong thực tiễn lý luận, phê bình văn học trước đổi mới.
3.2.2.1. Tri thức lý luận, phê bình văn học Mác – Lênin trong trật tự
diễn ngôn
Chiến lược diễn ngôn theo nguyên tắc đối lập khiến trật tự diễn ngôn
trước đổi mới đề cao tuyệt đối tri thức được lựa chọn. Nó quy định lý luận, phê
bình văn học theo quan điểm của Mác - Lênin, của các nhà lãnh đạo của Đảng
là hệ thống lý luận hoàn chỉnh, tiên tiến, khoa học, là kim chỉ nam và ngọn
nguồn sáng tạo. Điều này được thể hiện qua hàng loạt các công thức dùng từ
nhất, đảm bảo, tự hào, chắc chắn, tin tưởng… khi biểu đạt về vai trò, vị trí của
lý luận, phê bình văn học theo quan điểm Mác – Lênin. Đặc biệt, để thắt chặt
nguyên tắc đối lập, trật tự diễn ngôn lý luận, phê bình văn học trước đổi mới
còn lựa chọn một hệ thống từ ngữ có tính mệnh lệnh, yêu cầu hay có ý bắt buộc
trong biểu đạt về lý luận, phê bình văn học như: “phải là”, “cần”, “cần phải”,
10
“phục tùng”, “phục vụ”… tạo ra một mạng lưới “quyền lực” trong biểu đạt chắc
chắn và hiệu quả thực tiễn lý luận, phê bình văn học theo quan điểm Mác –
Lênin trước đổi mới.
Nguyên tắc đối lập trong trật tự diễn ngôn lý luận, phê bình văn học còn
được ghi dấu qua công thức biểu đạt “nhân danh tập thể”, “nhân danh nhân loại
ngôn lý luận, phê bình văn học Việt Nam trước đổi mới không có sự đối thoại
đồng hướng giữa hệ thống lý luận, phê bình văn học Mác - Lênin và các lý
thuyết văn học tư sản phương Tây. Thái độ của các nhà nghiên cứu thời kỳ này
chủ yếu là “khước từ” và “phê phán”. Do đó, trước 1986 các diễn ngôn tư sản
phương Tây hầu như không phát triển được. Nó được đưa vào tính thế phải
“cáo phó” ngay khi vừa có mong muốn “nảy nở”.
11
Có khẳng định rằng, trong hoàn cảnh lịch sử đặc biệt của xã hội Việt Nam
những năm trước đổi mới, nguyên tắc đối lập đã tạo ra một trật tự diễn ngôn
chặt chẽ và mang tính quy phạm cao. Nó chứng tỏ ưu thế tuyệt đối của tri thức
lý luận, phê bình văn học theo quan điểm Mác – Lênin so với các tri thức lý
luận, phê bình khác trong trật tự diễn ngôn. Mặc dù vậy, kiến tạo diễn ngôn
theo nguyên tắc đối lập sẽ làm cho văn học, lý luận, phê bình văn học mới chỉ
thực hiện tốt chức năng và nhiệm vụ của mình đối với các công tác xã hội, còn
vai trò đối với sự phát triển nghệ thuật theo nghĩa hình thức thể hiện thì chưa
được quan tâm thích đáng. Diễn ngôn lý luận, phê bình văn học có phần thiếu
khách quan khi triển khai các quan điểm văn học của lý luận, phê bình văn học
tư sản phương Tây trong thực tiễn.
3.2. Nguyên tắc hội nhập đa phương – bước ngoặt chuyển đổi diễn
ngôn lý luận, phê bình văn học Việt Nam thời kỳ đổi mới
3.2.1. Chiến lược diễn ngôn theo nguyên tắc hội nhập đa phương
Bối cảnh toàn cầu hóa về kinh tế, văn hóa và khoa học cùng sự đổi mới tư
duy lãnh đạo văn học nghệ thuật của Đảng sau 1986 đã tác động sâu sắc đến đời
sống văn hóa và tình hình học thuật trong nước trong đó có văn học và lý luận,
phê bình văn học. Tinh thần đổi mới của Đảng đã trực tiếp khơi nguồn và tạo
điều kiện cho văn học nói chung và lý luận, phê bình văn học nói riêng thay đổi
theo hướng dân chủ hóa. Tinh thần dân chủ tất yếu sẽ thừa nhận tư tưởng riêng,
cách lý giải riêng của mỗi người. Nguyên nhân cơ bản trên buộc diễn ngôn phải
thay đổi chiến lược nếu không muốn rơi vào hoàn cảnh giao lưu mà không biết,
không hiểu người khác nói gì. Đó chính là sự thay đổi từ chiến lược đối lập
chính trị là các thuật ngữ chủ đạo chuyển từ “phục vụ, phục tùng chính trị” sang
“định hướng chính trị” (văn kiện Đảng VII). Điều này cho thấy “Chính trị” vẫn
là vấn đề sống còn của lý luận, phê bình văn học Việt Nam đương đại. Nhưng
chuyển từ “phục tùng”, “phục vụ” sang “định hướng” đã khiến cho thực tiễn
nghiên cứu văn học Việt Nam được đi đúng quỹ đạo học thuật mà vẫn dự phần
không nhỏ vào việc chuyển hóa các mục tiêu, chính sách của Đảng và Nhà
nước về văn hóa và văn học nghệ thuật trong thực tiễn. Thứ hai, sự chuyển đổi
các thuật ngữ biểu đạt về phương pháp hiện thực xã hội chủ nghĩa trong văn
học: Việc nhìn nhận lại vai trò, vị trí của phương pháp hiện thực xã hội chủ
nghĩa trong văn học là một đổi mới quan trọng trong diễn ngôn lý luận, phê
bình văn học sau 1986. Nó đã phá vỡ tư tưởng độc tôn lý thuyết của diễn ngôn
văn học trước đổi mới. Trong diễn ngôn mới, lý luận về phương pháp hiện thực
xã hội chủ nghĩa chỉ là một lý luận giữa rất nhiều lý luận khác. Thứ ba,sự
chuyển đổi các thuật ngữ biểu đạt về lý luận, phê bình văn học Mác phương
Tây: Trước đây, diễn ngôn lý luận, phê bình văn học ở ta tồn tại sự đánh đồng
giữa chủ nghĩa Mác - Lênin và toàn bộ chủ nghĩa Mác nên những gì đi ngược
với chủ trương của Lênin bị cho là “phản mác xít” hoặc “mác xít giả hiệu” thì
sau đổi mới, trên tinh thần khách quan diễn ngôn lại chính thức quan niệm đó là
“chủ nghĩa Mác phương Tây”.
Có thể nói, sự đổi thay trật tự diễn ngôn lý luận, phê bình văn học Mác -
Lênin là sự đổi thay phù hợp với quy luật phát triển khách quan của khoa học
văn học. Sự nhìn nhận lại và mở rộng quan điểm học thuật trong diễn ngôn lý
luận, phê bình văn học theo quan điểm Mác - Lênin có ý nghĩa vô cùng quan
trọng đối với sự phát triển của văn học Việt Nam trong đó có lý luận, phê bình
văn học. Thậm chí, với tinh thần dân chủ, khách quan mà chính các đường lối
văn nghệ của Đảng, các văn kiện, chỉ thị, nghị quyết cũng được đưa ra để
nghiên cứu những mặt còn hạn chế. Đây là một điều khó có thể tìm thấy trong
diễn ngôn cũng như thực tiễn nghiên cứu văn học trước đổi mới.
Trong ý nghĩa đó, chúng tôi nhận thấy ngoài sự tác động của trật tự diễn
ngôn đối với việc lựa chọn nội dung thì cách thức tổ chức văn bản cũng buộc
luận, phê bình văn học thời kỳ đổi mới
Trong sự chuyển đổi diễn ngôn lý luận, phê bình văn học Việt Nam từ
thời kỳ đổi mới đến nay theo nguyên tắc hội nhập đa phương, ngoài sự mở rộng
các phạm vi tri thức riêng của lý luận, phê bình văn học, còn có một thực tiễn
được nảy nở và phát triển ngày càng sâu rộng trong diễn ngôn, đó là vấn đề văn
hóa trong mối quan hệ với văn học. Điểm đặc biệt của vấn đề văn hóa trong
diễn ngôn là tri thức về nó đã được tiếp nhận và kết hợp một cách linh hoạt trên
nền tảng quan điểm văn hóa của chủ nghĩa Mác – Lênin và các lý thuyết văn
hóa, văn học hiên đại khác. Điều này tạo cơ sở vững chắc cho các vấn đề của
văn hóa được khai thác trên nhiều bình diện, góc độ, góp phần mở rộng khả
năng nghiên cứu văn học từ góc nhìn văn hóa. Đồng thời nó cũng góp phần
quan trọng nhất để thực hiện các chính sách về văn hóa của Đảng thời kỳ đổi
mới và hội nhập.
3.3.1. Chiến lược chú trọng đặc biệt đến vấn đề văn hóa trong diễn ngôn
14
Văn học nghệ thuật cùng với triết học, tôn giáo, phong tục, đạo đức… là những
bộ phận hợp thành của cấu trúc văn hóa. Văn học chính là gương mặt ngôn từ
của văn hóa. Mặt khác, văn hoá học với tư cách là khoa học nghiên cứu văn hoá
trong tính thống nhất đa dạng của nó không thể không quan tâm đến văn học -
một trong những bộ phận nhạy cảm và trọng yếu của văn hoá, nhất là đối với
những nền văn hoá mà văn học đóng vai trò đặc biệt quan trọng như văn hóa
Việt Nam.
Sau đổi mới, Đảng chú trọng đặc biệt đến việc phát triển hướng nghiên
cứu văn hóa trong văn học nghệ thuật. Bởi, trong bối cảnh giao lưu hội nhập,
vấn đề bảo tồn và phát triển văn hóa có ý nghĩa quan trọng hàng đầu. Bên cạnh
đó, cũng từ thời kỳ đổi mới, tri thức về văn hóa cũng được quan niệm cụ thể
hơn. Văn hóa được quan niệm là toàn bộ các giá trị vật chất và tinh thần do con
người sáng tạo ra nhằm mục đích phục vụ cho sự tồn tại và phát triển của con
người. Có thể nói, cơ sở chính trị xã hội và những tri thức có được về văn hóa
khiến “văn hóa” trở thành một chiến lược quan trọng của diễn ngôn lý luận, phê
như những “cư dân” di chuyển từ mảnh đất “chính trị” sang văn học, chúng “có
hộ khẩu” ở “ngôi nhà chính trị” nhưng lại “tạm trú” trong “ngôi nhà văn học”.
Trong ý nghĩa đó, chúng tôi nhận thấy tự thân các vấn đề của lý luận, phê
bình văn học vẫn là “câu chuyện” của học thuật. Việc xây dựng các giáo trình
lý luận văn học, nghiên cứu các yếu tố cơ sở lý luận văn học, tác phẩm, nhà
văn, bạn đọc trước đổi mới nguyên nghĩa là vấn đề của học thuật. Tuy nhiên, do
hoàn cảnh lịch sử đương thời, nguyên tắc chính trị trực tiếp chi phối mọi lĩnh
vực của đời sống xã hội và trở thành tiêu chí thống nhất cho tất cả các lĩnh vực
khác nhau. Mọi hoạt động trong xã hội đều được nhìn từ góc độ chính trị. Mọi
nhiệm vụ trong các cơ quan khác nhau đều được coi là nhiệm vụ chính trị.
Trong quỹ đạo đó, lý luận, phê bình văn học được coi là một công tác tư tưởng
đặc thù dưới sự lãnh đạo trực tiếp của Đảng. Vì vậy, diễn ngôn lý luận, phê
bình văn học như một tất yếu khách quan phải được kiến tạo trên cơ sở các
quan điểm chính trị nói chung và quan điểm chính trị về văn học nói riêng.
Có thể nói, cơ chế trên đưa chính trị trở thành nguyên tắc có tính chiến
lược trong kiến tạo diễn ngôn lý luận, phê bình văn học trước đổi mới. Đồng
thời nó cũng làm cho trật tự diễn ngôn lý luận, phê bình văn học trước đổi mới
trở nên đặc trưng, độc đáo, quy định “cấu trúc” cũng như mọi “hành vi giao
tiếp” trong học thuật một cách đặc thù.
4.1.2. Trật tự diễn ngôn theo nguyên tắc chính trị
Chiến lược kiến tạo diễn ngôn theo nguyên tắc chính trị được hiện thực
hóa qua một trật tự chặt chẽ, điển hình quy định sự lựa chọn và tổ chức hệ
thống thuật ngữ biểu đạt về văn học và về chính lý luận, phê bình văn học. Nó
mang đậm dấu ấn của chính trị và ảnh hưởng sâu sắc đối với thực tiễn văn học.
Vượt ra ngoài trật tự này, lý luận, phê bình văn học bị gán cho các thuật ngữ
“lệch lạc”, “sai trái” và không thể tồn tại được.
Về cơ sở lý luận, đường lối văn nghệ của Đảng, ý kiến của các đồng chí
lãnh đạo Đảng và nhà nước được coi trọng hàng đầu, được coi là “kim chỉ nam”
cho mọi hoạt động văn học.
Các tác giả lý luận, phê bình văn học được chọn gọi bằng những thuật
ngôn lý luận, phê bình văn học là một câu chuyện lịch sử và người ta không thể
phủ nhận những giá trị tích cực mà nó đã đem lại cho văn học cũng như đời
sống xã hội ở những năm cách mạng.
4.2. Nguyên tắc học thuật – bước chuyển đổi quan trọng trong diễn
ngôn lý luận, phê bình văn học Việt Nam thời kỳ đổi mới
4.2.1. Chiến lược diễn ngôn theo nguyên tắc học thuật
Thời kỳ đổi mới, Đảng yêu cầu lý luận, phê bình một mặt vẫn phải căn cứ
vào triết học Mác - Lênin để giải quyết các vấn đề về văn học, nhưng mặt khác,
song song với yêu cầu này Đảng cũng đề nghị “cần chú ý phân tích và giới
thiệu những thành tựu mới và kinh nghiệm hay của nước ngoài” và “khích lệ
những tìm tòi, tôn trọng những ý kiến khác nhau về lí luận và phê bình văn
nghệ vì lợi ích chung và sự phát triển lành mạnh của văn nghệ … Mặt khác,
trong tư duy về văn học nghệ thuật, diễn ngôn của Đảng cũng chuyển hướng từ
việc coi mục đích sáng tác văn học là “phục vụ”, “phục tùng” chính trị sang
mục đích “đáp ứng đời sống tinh thần lành mạnh, bổ ích cho công chúng”. Lý
17
luận, phê bình cũng không có nhiệm vụ trực tiếp là “diễn giải đường lối văn
nghệ”, mà là để “tác động tích cực đến sự sáng tạo của các nghệ sĩ, đến thị hiếu,
nhu cầu và trình độ thẩm mỹ của nhân dân”.
Thực tiễn trên đã đặt ra yêu cầu cũng như tạo điều kiện cho sự chuyển đổi
diễn ngôn lý luận, phê bình văn học từ chiến lược chính trị sang học thuật khi lý
giải các vấn đề của văn học. Do đó, “thi pháp”, “tự sự”, “cấu trúc”, “ký hiệu”,
“ngôn từ”, “biểu tượng”, “không gian – thời gian nghệ thuật”, “cấu trúc văn bản
nghệ thuật”, “giọng điệu”, “điểm nhìn” … đã trở thành hệ thuật ngữ mới trong
diễn ngôn và làm thay đổi diện mạo của lý luận, phê bình văn học sau 1986.
4.2.2. Trật tự diễn ngôn theo nguyên tắc học thuật
Từ chính trị sang học thuật là một sự chuyển đổi diễn ngôn có ý nghĩa
quan trọng khi văn học không chỉ được xét trên lập trường chính trị mà nó đã
được xét trên lập trường khoa học với tư cách là một lĩnh vực độc lập. Vì vậy,
nếu trong trật tự của diễn ngôn có tính chính trị trước đổi mới quy định không
thể, cacnaval, sinh thái, lạ hóa, tính dục, mảnh vỡ, hiện thực thậm phồn, đứt
đoạn và tái sinh… đã làm cho lý luận, phê bình văn học Việt Nam được hiện
đại và gần vói bức tranh chung của văn học thế giới. Thứ ba, diễn ngôn lý luận
phê bình chuyển hướng biểu đạt về hình thức nghệ thuật.
Tuy nhiên, diễn ngôn lý luận phê bình theo hướng học thuật mặc dù có đóng
góp to lớn vào sự đổi mới lý luận, phê bình văn học vẫn tồn tại trạng thái rối
rắm, nhập nhằng và nhiều lúc mơ hồ không rõ nghĩa. Trước hết, các lý thuyết
được giới thiệu vào Việt Nam không thật đầy đủ, hệ thống. Thứ hai, ngôn ngữ
ngoại nhập không phải bao giờ cũng có thể dịch đúng, dịch chuẩn chưa nói là
hiểu chúng cho chính xác. Thứ ba, ta cũng vấp phải khó khăn trong văn hóa tiếp
nhận. Đa phần các lý thuyết văn học mới tiếp nhận đều xuất phát từ thực tiễn
văn học nước ngoài. Vì thế, vấn đề đặt ra là hiểu, ứng dụng các thuật ngữ học
thuật của nó thế nào ở Việt Nam một cách phù hợp nhất? Thứ tư, về mặt trình
độ, trên thực tế, đội ngũ làm lý luận phê bình của ta còn mỏng, mặt bằng tri
thức không đồng đều. Thứ năm, do xuất hiện và sử dụng một cách ồ ạt các quan
điểm nghiên cứu văn học từ nhiều lý thuyết khác nhau, cộng với tình trạng
“chưa đến nơi đến chốn” nên trong lý luận, phê bình văn học bắt đầu xuất hiện
tình trạng “loạn chuẩn” trong đánh giá, phê bình tác phẩm văn học.
Tuy nhiên, dù còn nhiều khiếm khuyết và hạn chế, song tính chất học
thuật của diễn ngôn lý luận, phê bình văn học thời kỳ đổi mới thực sự có ý
nghĩa quan trọng đối với toàn bộ hoạt động lý luận, phê bình văn học. Một mặt,
nó thúc đẩy quá trình chuyển đổi diễn ngôn lý luận, phê bình văn học được hiện
đại và đi đúng quỹ đạo văn học hơn. Mặt khác, nó đã góp phần “chuyển hóa”
những định hướng trong đường lối chính sách thành những chiến lược diễn
ngôn phù hợp, hình thành những thiết chế, trật tự khả thi, hiệu quả, tác động
đến mọi bước đi, tiếng nói của lý luận, phê bình văn học nước nhà từ thực tiễn
đổi mới đến nay.
4.3. Khả năng phát triển và những thách thức của diễn ngôn lý luận,
phê bình văn học Việt Nam đương đại
4.3.1. Khả năng phát triển của diễn ngôn lý luận, phê bình văn học
“thể nghiệm mới”. Do vậy, đời sống văn hóa nghệ thuật nhiều năm qua đã phát
huy được không khí dân chủ, thẳng thắn, khách quan trong việc tìm tòi chân lý
đời sống và chân lý nghệ thuật.
Trong khả năng phát triển của diễn ngôn lý luận, phê bình văn học Việt
Nam đương đại, chúng tôi nhận thấy, việc chủ trương phát triển một nền lý
luận, phê bình văn học Việt Nam hiện đại, khoa học và mang đậm bản sắc dân
tộc cần được khai thác, phát huy mạnh mẽ và cụ thể hơn nữa. Diễn ngôn như đã
nói là bản thể tư tưởng của con người được thể hiện qua ngôn ngữ. Ngôn ngữ
lại là hiện tượng có tính dân tộc. Ngôn ngữ của dân tộc nào cũng mang những
đặc điểm của riêng dân tộc đó. Thông qua ngôn ngữ mà các đặc điểm của nền
văn hóa dân tộc được lưu giữ rõ ràng nhất. Do đó, xét trong thực tiễn diễn ngôn
ở Việt Nam, cái gì được người Việt Nam lý giải bằng ngôn ngữ Việt Nam tất
yếu sẽ mang bản sắc Việt Nam. Chúng ta dịch một tài liệu nước ngoài tưởng
chừng chỉ đơn thuần là việc phiên âm một tư tưởng ngoài chúng ta sang ngôn
ngữ của chúng ta, kỳ thực không hẳn vậy. Sự dịch chuyển ý nghĩa từ ngôn ngữ
này sang ngôn ngữ khác là bằng trình độ và khả năng hiểu biết của người dịch,
mang bản sắc và cả quan điểm cá nhân của người dịch. Văn bản chỉ là gốc ký
hiệu còn ý nghĩa là do người dịch gán cho nó. Vì thế mới xảy ra tranh cãi dịch
đúng – sai, sát nghĩa – không sát nghĩa … Các tiêu chí đúng – sai trong dịch
thuật cũng không chỉ dựa trên từ điển mà chủ yếu dựa vào thực tiễn vận dụng
văn bản dịch vào đời sống.
Trong ý nghĩa trên chúng ta có thể nhận thấy, thực tiễn lý luận, phê bình
văn học Việt Nam đương đại là của người Việt Nam, mang bản sắc Việt Nam.
Điều này giúp chúng ta có thể đánh giá một cách công bằng, khách quan và trân
20
trọng hơn những thành quả mà chúng ta đã làm được trong những năm tháng
đổi mới nói riêng và trong chiều dài lịch sử văn học nói chung. Chúng ta hoàn
toàn tự tin và tiếp tục phát huy khả năng của riêng mình trong nghiên cứu văn
học để có thể thoát khỏi sự “ám ảnh” “sính ngoại”, “sùng tây” như nhiều người
vẫn nói.
Các chuyên gia lý luận, phê bình văn học gạo cội phần nhiều lại đã vào tuổi “xế
chiều”. Do vậy, lý luận, phê bình văn học rất cần được sự quan tâm hơn nữa của
Đảng và Nhà nước để có cơ hội phát triển sâu rộng hơn trong tương lai.
21
KẾT LUẬN
1. Lý luận, phê bình văn học nhìn từ lý thuyết diễn ngôn là một mô hình
học thuật mới, một bình diện mới của nghiên cứu văn học. Nó không nghiên
cứu lý luận, phê bình văn học như một đối tượng độc lập, có tính khách quan,
tĩnh tại với các lý thuyết trừu tượng mà nghiên cứu lý luận, phê bình văn học
trong thực tiễn giao tiếp sinh động của đời sống được thể hiện trong mọi lĩnh
vực như: văn hóa, truyền thông, văn kiện, chỉ thị, nghị quyết, tuyên truyền, giáo
dục, giảng dạy, học tập … Cũng bởi vậy, diễn ngôn lý luận, phê bình văn học
không chỉ giới hạn trong học thức của các chuyên gia mà là của tất cả mọi
người, không chỉ ở các hoạt động học thuật chính thống mà còn ở cả hoạt động
tư tưởng khác trong xã hội.
2. Diễn ngôn là một thực tiễn giao tiếp, thực tiễn biểu đạt tư tưởng của
con người. Diễn ngôn khác với ngôn ngữ vì diễn ngôn chủ yếu thuộc về lịch sử
tư tưởng, không phải do các thành tố cố định của ngôn ngữ tạo thành, mà là do
các sự kiện chân thực, liên tục trong thực tiễn tạo thành. Từ góc độ diễn ngôn,
ngôn ngữ được xem là bản thể tư tưởng của con người. Nói cách khác, trong
diễn ngôn, tư tưởng và ngôn ngữ đã được nhất thể hóa. Vì vậy, diễn ngôn tuy
không phải là ngôn ngữ nhưng lại gắn bó mật thiết với ngôn ngữ. Muốn phân
tích diễn ngôn nhất thiết phải bắt đầu từ việc phân tích ngôn ngữ đang được sử
dụng trong thực tế. Diễn ngôn thông qua quyền lực và trạng thái tri thức đã tạo
ra niềm tin và thuyết phục con người bằng những thói quen ngôn ngữ. Thói
quen và niềm tin tiếp tục là cơ sở hình thành khung tri thức mới và tri thức mới
góp phần tạo nên quyền lực. Diễn ngôn vì vậy không thể là một khái niệm bất
biến. Nó biến đổi theo thực tế cuộc sống và góp phần tạo ra những chân lý tri
thức phong phú cho đời sống của con người.
3. Nghiên cứu sự chuyển đổi diễn ngôn lý luận, phê bình văn học Việt
trong nghiên cứu, phê bình các hiện tượng văn học nghệ thuật. Các lý luận thi
pháp học, tự sự học, ký hiệu học, ngôn ngữ học, cấu trúc, chủ nghĩa hiện đại,
chủ nghĩa hậu hiện đại, liên văn bản, diễn ngôn … hiện đã trở thành những
tiếng nói khác trong lý luận, phê bình văn học và chúng đối thoại với lý luận
truyền thống cũng như đối thoại với nhau nhằm mục đích khẳng định sự phong
phú trong các con đường tiếp cận, lý giải văn học.
Hội nhập đa phương trong chiến lược và trật tự diễn ngôn thời kỳ đổi mới
đã mở rộng phạm vi quan tâm đặc biệt của lý luận, phê bình đến văn hóa trong
mối quan hệ với văn học. Từ góc độ diễn ngôn, thuật ngữ “văn hóa” trở thành
một trong những phương tiện biểu đạt quan trọng để con người hiện đại tư duy
về lý luận, phê bình văn học. Nó khiến lý luận, phê bình văn học trong thực tiễn
không thể chỉ dừng lại ở việc lý giải các vấn đề của văn học từ phương diện bản
thể nghệ thuật mà cần phải đào sâu vào những giá trị của văn hóa trong mối
quan hệ với văn học và trong sự phát triển của chính lý luận, phê bình. Sự mở
rộng “không gian văn hóa” trong diễn ngôn còn giúp cho lý luận, phê bình văn
học dự phần tích cực vào việc khắc phục khuynh hướng đề cao một chiều, tuyệt
đối hoá phương diện hình thức của văn học, đôi lúc khiến văn học giống như
một trò chơi chữ cầu kỳ, trống rỗng.
5. Bước ngoặt đổi mới văn học sau 1986 còn trở thành môi trường thuận
lợi để diễn ngôn lý luận, phê bình văn học phát triển theo hướng học thuật. Do
đó, cùng với quá trình chuyển đổi diễn ngôn từ chiến lược và trật tự theo
nguyên tắc đối lập đến hội nhập đa phương, diễn ngôn lý luận, phê bình văn học
còn tiến hành chuyển đổi từ nguyên tắc chính trị chuyển động mạnh mẽ sang
nguyên tắc học thuật. Tính chất chính trị mặc dù đã góp phần tạo ra một giai
đoạn lý luận, phê bình văn học nhiều độc đáo trong lịch sử, nhưng trong bối cảnh
mới, để hội nhập cùng đời sống văn hóa, văn học thế giới văn học còn rất cần
phải được nhìn từ góc độ bản thể nghệ thuật để được phát triển theo đúng nghĩa
nghệ thuật. Vì thế, đây là sự chuyển đổi có ý nghĩa quan trọng, tạo điều kiện cho
23