lý luận, phê bình văn học dân tộc thiểu số việt nam hiện đại - Pdf 22


Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

1
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM NGUYỄN THỊ THANH TUYỀN LÝ LUẬN, PHÊ BÌNH VĂN HỌC
DÂN TỘC THIỂU SỐ VIỆT NAM HIỆN ĐẠI

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC NGỮ VĂN



Chuyên ngành: Văn học Việt Nam
Mã số : 60.22.34
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC NGỮ VĂN NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
PGS. TS TRẦN THỊ VIỆT TRUNG Thái Nguyên - Năm 2012
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

3
LỜI CẢM ƠN

4
LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan luận văn là kết quả nghiên cứu của riêng tôi, không sao
chép của ai. Nội dung luận văn có tham khảo và sử dụng các tài liệu theo
danh mục tác giả, tác phẩm đã dẫn.

Tác giả

Nguyễn Thị Thanh Tuyền Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

5
MỤC LỤC
Trang
Trang phụ bìa
Lời cam đoan
Mục lục
PHẦN MỞ ĐẦU 1
1. Lý do chọn đề tài 1
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề 2
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu đề tài 3
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 4
5. Phương pháp nghiên cứu 4
6. Đóng góp mới của luận văn 5
7. Bố cục luận văn 5
PHẦN NỘI DUNG
Chƣơng 1: VÀI NÉT VỀ VĂN HỌC CÁC DÂN TỘC THIỂU SỐ VIỆT

KẾT LUẬN 115
TÀI LIỆU THAM KHẢO

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

1
MỞ ĐẦU

1. Lý do chọn đề tài.
Văn học các dân tộc thiểu số Việt Nam hiện đại là một bộ phận quan
trọng trong nền văn học Việt Nam hiện đại. Những thành tựu của bộ phận văn
học này đã được giới nghiên cứu phê bình khẳng định bằng khá nhiều công
trình nghiên cứu mang tính tổng thể và ở một số thể loại như: tiểu thuyết,
truyện ngắn, thơ ca…Tuy nhiên mảng nghiên cứu về lý luận phê bình văn học
dân tộc thiểu số lại chưa thực sự được chú ý. Cho đến nay, theo khảo sát của
chúng tôi thì vẫn chưa thấy có một công trình nghiên cứu chuyên biệt nào về
thể loại văn học này trong đời sống văn học các dân tộc thiểu số vốn rất đa dạng
và phong phú. Trong khi đó, lý luận phê bình văn học dân tộc thiểu số cũng đã
có quá trình phát triển và cũng đã khẳng định được tiếng nói của mình với khá
nhiều các tên tuổi quen thuộc như: Nông Quốc Chấn, Triều Ân, Vi Hồng, Lâm
Tiến, Hoàng An, Hoàng Quảng Uyên, Lò Ngân Sủn, Inrasara…
Như chúng ta đã biết, muốn nghiên cứu một cách toàn diện về đời
sống văn học các dân tộc thiểu số Việt Nam hiện đại thì không thể không
nghiên cứu mảng lý luận phê bình của nền văn học này. Bởi qua một quá
trình vận động và phát triển hơn nửa thể kỉ qua, văn học các dân tộc thiểu
số Việt Nam đã có được những thành tựu đáng tự hào, và góp phần không
nhỏ vào quá trình phát triển ấy là những hoạt động tích cực của thể loại lý

tộc thiểu số và Viết về con người, cuộc sống các dân tộc thiểu số trong
cuốn “Tiếp cận văn học các dân tộc thiểu số”(NXB Văn hóa thông tin,
2011). Trong các bài viết trên, ông đã nhận định: lý luận, phê bình văn học
các dân tộc thiểu số còn rất trẻ, mới được bắt đầu vào năm 1957 với bài
“Kể ít chuyện làm thơ” của Nông Quốc Chấn. Ông cho rằng “các nhà văn
dân tộc thiểu số ít có được bài lý luận, phê bình văn học hoàn chỉnh theo
đúng nghĩa của nó do còn hạn chế về trình độ tư duy lý luận chưa cao, còn

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

3
thiếu những cuộc tranh luận, trao đổi nên nhiều bài lý luận phê bình còn
nặng cảm tính hơn là lý tính.”
Nhà thơ Lò Ngân Sủn cũng đưa ra nhận định của mình trong các bài viết
sau: Sáng tác và phê bình và Viết về văn học các dân tộc thiểu số - một công việc
còn ít được quan tâm, trong cuốn “Vấn đề đặt ra với các nhà thơ dân tộc thiểu
số”(NXB Văn hóa dân tộc, 2002). Theo ông: “hiện nay việc nghiên cứu, lý luận,
phê bình văn học dân tộc thiểu số nói chung còn ít, rời rạc và lẻ tẻ và những hạn
chế bất cập ấy do chính từ bản thân văn học dân tộc thiểu số mà ra.”
Nhà văn Hoàng Quảng Uyên với bài viết Công tác lý luận, phê bình
văn học nghệ thuật các dân tộc thiểu số, trong cuốn “Văn học nghệ thuật các
dân tộc thiểu số thời kì đổi mới”(NXB Văn hóa dân tộc, 2007), ông đã nhắc
đến đội ngũ những người làm công tác lý luận, phê bình và khẳng định những
thành tựu của lý luận, phê bình trong những năm qua với nhiều bản thảo,
nhiều cuốn sách lý luận phê bình đã cho thấy diện mạo của văn học dân tộc
thiểu số. Tuy nhiên, chúng ta vẫn chưa có nhiều tác phẩm chuyên sâu, chưa
để lại dấu ấn, chưa có nét riêng…
Có thể nói, thể loại lý luận, phê bình văn học dân tộc thiểu số Việt Nam
hiện đại bước đầu cũng đã trở thành đối tượng quan tâm của một số nhà
nghiên cứu, nhà văn, nhà thơ người dân tộc thiểu số. Tuy nhiên, các bài viết

núi (2002); Tiếp cận văn học dân tộc thiểu số (2011); Lò Ngân Sủn với Hoa
văn thổ cẩm 4 tập (1998, 1999, 2001, 2002), Thơ của các nhà thơ dân tộc
thiểu số (2001); Hoàng An với Nét đẹp văn hóa trong thơ văn và ngôn ngữ
dân tộc 3 tập (1999, 2003, 2008); Inrasara với Chưa đủ cô đơn cho sáng tạo
(2006), Song thoại với cái mới (2008); Hoàng Quảng Uyên với Một mình
trong cõi thơ (2000); Ma Trường Nguyên với Hiện đại mà dân tộc (2010);
Mai Liễu với Hương sắc miền rừng (2008)…)
5. Phƣơng pháp nghiên cứu.
Trong quá trình thực hiện luận văn này, chúng tôi đã sử dụng các
phương pháp nghiên cứu sau:

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

5
- Phương pháp nghiên cứu liên ngành (văn hóa học, dân tộc học và
văn học).
- Phương pháp khảo sát, thống kê.
- Phương pháp phân tích.
- Phương pháp so sánh, đối chiếu
Ngoài ra, chúng tôi còn sử dụng một số các phương pháp nghiên cứu
tổng hợp khác.
6. Đóng góp mới của luận văn.
- Về mặt khoa học: Nếu luận văn được hoàn thành – đây sẽ là công trình
đầu tiên nghiên cứu về thể loại nghiên cứu, lý luận, phê bình văn học dân tộc
thiểu số Việt Nam thời kì hiện đại một cách có hệ thống và khá toàn diện.
- Về mặt thực tiễn: Công trình sau khi được hoàn thành sẽ là một tài
liệu phục vụ cho việc nghiên cứu, tìm hiểu về văn học các dân tộc thiểu số
Việt Nam một cách đầy đủ và toàn diện hơn.
7. Bố cục luận văn.
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Thư mục tham khảo, nội dung chính của

khai sinh ra một nền văn học mới, nền văn học các dân tộc thiểu số Việt Nam
thời kỳ hiện đại.
Sau cách mạng tháng Tám, đặc biệt là từ khi hòa bình được lập lại ở
miền Bắc đến nay, nền văn học dân tộc thiểu số đã liên tục phát triển. Trước
hết, cách mạng đã làm sống lại vốn văn học truyền thống của các dân tộc
thiểu số. Nhà nghiên cứu về văn học dân tộc thiểu số Hà Văn Thư đã viết:
“Chế độ ta không những đã làm nảy nở những tài năng mới mà còn chú trọng
khai thác những di sản văn học nghệ thuật quý báu của các dân tộc bấy lâu

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

7
nay bị mai một dưới ách thực dân phong kiến…Những kết quả lao động nghệ
thuật hàng nghìn năm, hàng trăm năm trước còn chắt chiu được qua bao
nhiêu bão táp của thời gian cũng như những tinh hoa mới nảy nở đều cần
được trân trọng”[46, tr. 138- 139 ]. Trên tinh thần như vậy, vốn văn học cổ
phong phú các dân tộc bao gồm nhiều thể loại như: Truyện cổ, tục ngữ, dân
ca, thơ, truyện thơ, trường ca… được tích cực sưu tầm, in thành sách. Nhất là
từ sau Đại hội Văn Nghệ toàn quốc lần thứ hai (năm 1957), một số tác phẩm
văn học dân gian dân tộc thiểu số đã được dịch ra tiếng phổ thông và lưu hành
rộng rãi cho công chúng bạn đọc. Chúng ta có thể kể đến truyện thơ “Tiễn
dặn người yêu” (Xống chụ xon xao) của dân tộc Thái, các Trường ca: Đam
San, Xinh Nhã, Đam Di, Y Prao…của các dân tộc Ê đê, Gia Rai và một số
truyện cổ tích, dân ca dân gian của các dân tộc Tày, Nùng, H’mông…đã được
ra mắt bạn đọc và được đồng bào các dân tộc thiểu số rất hoan nghênh. Có
một công trình nghiên cứu khá qui mô giới thiệu được nhiều tác phẩm hay
khai thác từ vốn văn học truyền thống và một số tác phẩm mới của các dân
tộc thời kỳ này đó là: “Tuyển tập văn học các dân tộc thiểu số” (1962) – một
tập trong bộ “Hợp tuyển thơ văn Việt Nam” do Nhà xuất bản Văn hóa ấn
hành. Cuốn tuyển tập là một minh chứng chứng minh rằng: đã có một nền văn

với: Cầm Biêu, Hoàng Nó, Vương Trung, Lò Văn Cậy, Cầm Bá Lai, Lò Cao
Nhum, Lương Quý Nhân, La Quán Miên ; tiếp là dân tộc Mường với: Vương
Anh, Quách Ngọc Thiên, Hà Lý, Bùi Minh Chức, Hà Thị Cẩm Anh, Bùi Thị
Tuyết Mai…; dân tộc Nùng với Mã Thế Vinh, Hoàng Quảng Uyên, Địch Ngọc
Lân, Lâm Tiến…và một số các dân tộc khác như dân tộc Bana, H’rê, Chăm,
Hoa, Vân Kiều …với các tên tuổi như: Kim Nhất, Inrasara, Dư Thị Hoàn, Lý
Lan, Thao Khằm, Hồ Chư, Hơ Vê…Như vậy, chúng ta có thể thấy, vẫn còn
khá nhiều dân tộc thiểu số chưa có được nhà văn của dân tộc mình.
Cùng với sự phát triển khá mạnh mẽ của đội ngũ sáng tác, số lượng và
chất lượng tác phẩm văn học các dân tộc thiểu số cũng ngày càng nhiều và

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

9
được nâng cao hơn. Nếu như trước 1957, mới xuất hiện những bài thơ lẻ với
vài ba tác giả tiêu biểu - thì từ những năm 60, 70 trở đi ngày càng xuất hiện
nhiều tập thơ của nhiều tác giả đại diện cho nhiều dân tộc khác nhau. Đặc biệt
là những năm 1987 đến nay, đã có nhiều tập thơ đạt được các giải thưởng cao
trong đời sống văn học Việt Nam. Ví dụ như: Cầm Biêu với “Ánh hồng Điện
Biên” (1984) đạt giải A Hội VHNT Việt Nam (năm 1984); tập thơ “Tiếng
hát tháng giêng” của Y Phương là một trong hai tập thơ đã được Hội nhà văn
trao giải hay nhất trong năm 1987; Dương Thuấn được ba giải khuyến khích
(của Hội nhà văn, Tạp chí văn nghệ quân đội và Tuần báo Văn nghệ) trong đó
tập thơ “Cưỡi ngựa đi săn” (1991) đã đạt giải nhất về văn học viết cho thiếu
nhi; tác giả Hơvê với “Đóa hoa rừng” – Tập thơ (1990) đạt giải B Hội nhà
văn Việt Nam (năm 1992); tác giả Lò Ngân Sủn với 2 tập thơ: “Những người
con của núi”(1990) và “Tôi là ngọn gió”( 1998) đạt giải B Hội nhà văn Việt
Nam (năm 1990, 1998); tác giả Mai Liễu với hai tập thơ: “Tìm tuổi” – tập thơ
(1998) đạt giải C Hội VHNT các DTTS Việt Nam (năm 1998) và “Giấc mơ
của núi” – Tập thơ đạt giải B Hội VHNT các dân tộc thiểu số Việt Nam (năm

tiểu thuyết “Đàn trời” đạt giải A của Hội Văn học nghệ thuật các dân tộc
thiểu số Việt Nam (năm 2006), với tập truyện ngắn “Những chuyện ở lũng Cô
Sầu” - Tặng thưởng của Hội nhà văn Việt Nam (1997) và đặc biệt là tập
truyện ngắn “Ngôi nhà xưa bên suối” (2007) cùng lúc nhận hai giải thưởng
(Giải thưởng Hội nhà văn Việt Nam năm 2008 và Giải thưởng Văn học
ASEAN năm 2009) …Để có được những tác phẩm mang đậm bản sắc dân tộc
và phong cách cá nhân ấy - đằng sau là cả một quá trình phấn đấu không mệt
mỏi vì lao động nghệ thuật của các nhà văn dân tộc thiểu số. Chính họ đã góp
phần tích cực và quan trọng trong việc khẳng định một nền văn học các dân
tộc thiểu số ngày một phát triển và đủ sức để hòa vào dòng chảy chung của
nền văn học Việt Nam hiện đại.

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

11
Đặc điểm nổi bật của nền văn học dân tộc thiểu số thời kì này là: một
nền văn học phong phú, đa dạng, đặc sắc và đậm đà bản sắc văn hóa dân tộc.
Nền văn học với tính chất phong phú, đa dạng, đặc sắc ấy được thể hiện ở
trên tất cả các phương diện: đội ngũ sáng tác, nội dung phản ánh, hình thức
nghệ thuật và thể loại…Về đội ngũ: văn học các dân tộc thiểu số đã có những
bước phát triển nhanh chóng về số lượng người tham gia sáng tác. Đến nay,
chúng ta có hẳn một đội ngũ các nhà văn thuộc nhiều dân tộc ở nhiều vùng
miền khác nhau - với nhiều tác phẩm đặc sắc đã được trong và ngoài nước
biết đến. Đội ngũ này không ngừng được bổ sung từ các nguồn khác nhau qua
sự phát hiện, bồi dưỡng năng khiếu sáng tác (từ các nhà giáo, đến các học
sinh ở các trường phổ thông cho đến các trường đại học (chủ yếu đóng tại khu
vực miền núi); từ các cơ quan báo chí; từ các cuộc thi sáng tác ở địa phương
cho đến trại sáng tác của Hội nhà văn Việt Nam). Và hầu hết - họ cũng đã
được học tập khá cơ bản ở các trường phổ thông, hoặc trong các trường đại
học, cao đẳng, có một số người đã được học ở Trường Viết văn Nguyễn Du.

ống của Vi Hồng…) đều đã phản ánh khá rõ nét chủ đề bao trùm trên. Ngoài
mảng đề tài trên, các tác giả tỏ ra rất tâm đắc, say sưa viết về, giới thiệu về
những nét đẹp của văn hóa truyền thống với các lễ hội, các phong tục tập
quán, các sinh hoạt văn hóa tinh thần (có yếu tố tâm linh) của đồng bào các
dân tộc thiểu số Việt Nam. Điều đó đã góp phần mang lại một vẻ đẹp thẩm mĩ
mới cho văn học dân tộc thiểu số thời kì hiện đại.
Có thể khẳng định: các nhà văn dân tộc thiểu số đã có những đóng góp
to lớn vào sự phát triển văn học chung của cả nước trên tất cả các thể loại:
thơ, văn xuôi, kịch, lý luận phê bình Các tác phẩm của họ thực sự đã làm
giàu có, phong phú thêm cho nền văn học Việt Nam hiện đại. Một trong
những thành tựu đáng ghi nhận của văn học dân tộc thiểu số thời kì này là sự
hoàn thiện về mặt loại thể. Nếu như trước năm 1960 (thế kỉ XX) chủ yếu là sự
hình thành và phát triển của thể loại thơ thì từ những năm sau 60 trở đi - ta

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

13
thấy nền văn học các dân tộc thiểu số Việt Nam hầu như đã không thiếu một
thể loại văn học nào. Mạnh nhất là văn xuôi thì có: Truyện ngắn, truyện vừa,
tiểu thuyết, ký, ký sự, bút kí, hồi kí…; Thơ thì có: Thơ trữ tình, thơ trào
phúng, truyện thơ, trường ca…; Kịch thì có: Kịch bản sân khấu, kịch bản
phim; Lý luận, phê bình thì có: Nghiên cứu, giới thiệu, phê bình tác giả, tác
phẩm… Theo dõi từ những sáng tác thơ của Nông Quốc Chấn, Bàn Tài Đoàn,
Vương Trung, Cầm Biêu … đến truyện ngắn, tiểu thuyết của Nông Minh
Châu, Nông Viết Toại, Vi Hồng, Ma Trường Nguyên, Cao Duy Sơn…; từ kịch
của Nông Ích Đạt, Bế Dôn, Bế Sĩ Uông…đến nghiên cứu, lý luận, phê bình
của Nông Quốc Chấn, Triều Ân, Lâm Tiến, Inrasara…Chúng ta nhận thấy
rằng: Không có một thể loại nào là không có sự phát triển nhanh chóng và
không có những thành tựu đáng ghi nhận. Trong đó có hai thể loại đã đạt
được những thành tựu xuất sắc hơn cả đó là: Thơ và tiểu thuyết. Trong thời kì

quan trọng và có ý nghĩa to lớn đối với sự tồn tại và phát triển của mỗi dân
tộc - đặc biệt là trong thời kì hội nhập quốc tế hiện nay. Việc giữ gìn và phát
huy bản sắc văn hóa của một dân tộc chính là một việc làm vừa góp phần
chống lại nguy cơ đồng hóa về văn hóa, vừa góp phần khẳng định sự hiện
diện, sự tồn tại của dân tộc mình trong đời sống văn hóa toàn cầu ngày nay.
Họ coi đây là một phẩm chất đặc biệt và tất yếu của văn học các dân tộc thiểu
số “vừa là thiên bẩm tính tự nhiên, vừa là phẩm chất người cầm bút phải
phấn đấu cho đúng hướng trên hành trình hiện đại hóa sáng tác”. Bản sắc
dân tộc đã luôn được thể hiện trong thơ văn các dân tộc thiểu số trên tất cả
phương diện: từ chủ thể sáng tạo đến đối tượng phản ánh và phương thức
phản ánh. Trước hết, nó thể hiện qua chủ thể sáng tạo . Đúng như nhà nghiên
cứu Lâm Tiến nhận định: “Nhà văn bao giờ cũng thuộc về một dân tộc, một
nền văn hóa nhất định cho nên bản sắc dân tộc trong văn học liên quan chặt
chẽ tới chủ thể sáng tạo ra nó”. Chủ thể sáng tạo ở đây không ai khác chính
là các nhà văn, nhà thơ người dân tộc thiếu số - nên dù muốn hay không - nó

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

15
cũng phải mang cốt cách và tâm hồn của dân tộc mình. Các tác giả dân tộc
thiểu số là những người mà ngay từ nhỏ đã được đắm mình trong nguồn
mạch văn hóa, nghệ thuật dân gian miền núi, được hấp thụ những tinh hoa
văn hóa của dân tộc mình một cách rất tự nhiên vì thế đã cất lên tiếng nói nói
về những suy nghĩ, những tình cảm, những niềm vui, nỗi buồn, những khát
vọng…của dân tộc mình. Khi đọc những tác phẩm của họ, chúng ta rất dễ
nhận ra chất dân tộc luôn thấm đẫm trong cả nội dung phản ánh cũng như
trong nghệ thuật thể hiện.
Bản sắc ấy không phải chỉ được thể hiện qua chủ thể sáng tạo mà còn
được thể hiện sinh động qua đối tượng phản ánh. Đối tượng phản ánh ở đây
trước hết là môi trường tự nhiên và xã hội mang đậm vẻ đẹp sắc màu miền núi

Họ là những người nông dân miền núi khỏe mạnh, vô tư, yêu lao động, yêu
quê hương, làng bản, sẵn sàng hy sinh để giữ gìn bảo vệ bản làng, quê hương
nhưng họ cũng là những con người rất giàu tình yêu thương, rất lãng mạn và
phóng túng.
Phương thức và chất liệu phản ánh đặc trưng của các tác giả dân tộc
thiểu số thể hiện trước hết là ở việc sử dụng ngôn ngữ dân tộc trong sáng tác
văn học. Có khá nhiều tác phẩm văn học đã được viết bằng tiếng dân tộc,
hoặc được viết bằng hai thứ tiếng (song ngữ) góp phần thể hiện sâu sắc, chân
thực về cuộc sống, con người miền núi (như các tác phẩm: “Dọn về làng” của
Nông Quốc Chấn, “Muối của cụ Hồ” và “Kể chuyện đời” của Bàn Tài Đoàn,
“Quê hương” của Vũ Trung Thu ). Bản sắc dân tộc còn được biểu hiện ở
cách diễn đạt rất giàu hình ảnh, ở cách so sánh, ví von phù hợp với cách cảm
rất riêng phù hợp với cách nghĩ, cách cảm, cách nói của đồng bào miền núi:
(Ví dụ: “Em là nguồn nước nhỏ/ Chảy vào vại nhà anh” (Em – Người xa lạ -
Dương Thuấn); “Em là mực trong ngòi, là cơm trong nồi/ Là gà gáy nhưng
cũng là quả ớt” (Em – cơn mưa rào – ngọn lửa - Y Phương); “Chúng tôi/
Những người con của núi/ Sống ào ào như thác đổ/ Sống dữ dội như nước

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

17
cuốn” (Những người con của núi - Lò Ngân Sủn); “Anh là núi Mường
Hung/ Em là dòng sông Mã” (Núi Mường Hung- dòng sông Mã - Cẩm
Giàng); “Chim hót không hay bằng em hát ru em” (Cô gái vót chông - Môlô
Yclavi); “Em yêu anh như con chim Vơ linh yêu rừng/ Em thương anh/ Như
con cá Ra-tang thương nước/ Em nhớ anh…/ Như có kiến cắn tim/ Như có lửa
đốt bụng” (Thương lắm nhớ nhiều – Hơ vê)…
Bản sắc dân tộc còn được thể hiện rõ nét ở việc vận dụng thành công các
hình thức của thể loại thơ ca truyền thống. Do đặc điểm văn học các dân tộc
thiểu số mang nét đặc thù đi thẳng từ văn học dân gian lên văn học hiện đại nên

chiến tranh và cách mạng, kháng chiến chính cũng chính là đối tượng sáng tác
mà thơ ca các dân tộc thiểu số hướng đến ở giai đoạn này. Có thể kể đến một
số các tác phẩm tiêu biểu của thơ ca thời kì này như:“Mưa gió” (1942) và
truyện thơ dài (hai nghìn câu) “Việt Bắc đánh giặc” (1948) của Nông Quốc
Chấn; “Kể chuyện đời” của Bàn Tài Đoàn; “Vợ lính ngụy mong chồng” và
“Gái thời giặc” của Cầm Biêu Hầu hết những bài thơ này đều được sáng tác
bằng tiếng dân tộc (sau tác giả mới dịch ra tiếng Kinh).
Đến giai đoạn 1954 – 1975: Đội ngũ sáng tác ngày càng đông đảo hơn
bên cạnh những nhà thơ thuộc lớp trước, đã xuất hiện một lớp tác giả mới
như: Mã Thế Vinh, Vương Anh, Mã A Lềnh, Triều Ân Giai đoạn này, số
lượng tác phẩm ngày càng nhiều, chất lượng sáng tác ngày càng cao, đã xuất
hiện nhiều tập thơ hơn qua một số các tập thơ (bên cạnh hàng trăm bài thơ in
lẻ trên các báo), ví dụ như các tập thơ:“Người núi hoa” (1958), “Tiếng ca
người Việt Bắc” (1959), “Đèo gió” (1968), “Dám Kha Pác Bó” (1972) của
Nông Quốc Chấn;“Tung còn và suối đàn” (tập thơ in chung 1975) của Triều
Ân;“Kin ngay phuổi khát”( Ăn ngay nói thẳng) (1962), “Đét chang
chang”(1974) (Nắng ban trưa) của Nông Viết Toại; “Cầu vào bản” (1982),
“Ánh hồng Điện Biên” (1984) của Cầm Biêu; “Biên giới lòng người” (1983)
của Lương Quý Nhân;“Tiếng hát mường Hoa Ban”của Hoàng Nó;“Ing Éng”

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

19
(truyện thơ, 1967) của Vương Trung; “Sao chóp núi” (trường ca, 1968),
“Trăng mắc võng” (1973) của Vương Anh; “Rừng sáng” (in chung, 1978)
của Mã A Lềnh;“Xuân về trên núi” (1963), “Một giấc mơ” (1964), “Trùm
xấy cấu”(Kể chuyện đời) (1968), “Tháng Tám đổi mới” (1971), “Rừng
xanh” (1973), “Sáng cả hai miền” (1975) của Bàn Tài Đoàn Đây là thời kì
xây dựng chủ nghĩa xã hội và chống Mỹ leo thang ở miền Bắc, thực hiện cuộc
đấu tranh thống nhất nước nhà ở miền Nam, việc giao lưu kinh tế, văn hóa xã


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status