BÀI KIỂM TRA HẾT MÔN
Môn: Văn hóa nghệ thuật các dân tộc thiểu số Việt Nam
hiện đại
Tìm hiểu văn hóa truyền thống của dân tộc
Thái Trắng ở xã Mường So, huyện Phong
Thổ, tỉnh Lai Châu
1. Những nét khái quát về điều kiện tự nhiên và dân cư ở xã
Mường So, huyện Phong Thổ, tỉnh Lai Châu
1.1. Điều kiện tự nhiên
- Vị trí địa ly:
Lai Châu nằm ở phía Tây Bắc của Tổ quốc, cách Hà Nội 450km về
hướng Tây Bắc ( theo đường bộ)
Phong Thổ là huyện vùng cao biên giới, có 98,95km đường biên
giới giáp với huyện Kim Bình, tỉnh Vân Nam, Trung Quốc. Là đầu cầu
thông thương giữa tỉnh Lai Châu và Trung Quốc qua cửa khẩu Ma Lù
Thàng
Phong Thổ cách tỉnh lỵ Lai Châu 30km về phía Tây Bắc dọc theo
quốc lộ 4D
Phía Đông và phía Đông Nam giáp tỉnh Lào Cai, huyện Tam
Đường tỉnh Lai Châu và Thị xã Lai Châu.
Phía Tây và Tây Nam giáp huyện Sìn Hồ
- Đăc điêm địa hình:
Huyện Phong Thổ có đăc điêm địa hình là vùng lãnh thổ nhiều dãy
nui và cao nguyên, phía đông khu vưc này là dãy nui Hoàng Liên Sơn,
phía Tây là dãy nui Sông Mã ( độ cao 1800m). Giữa hai dãy nui đồ sộ
trên là phần đất thuộc vùng nui thấp, tương đối rộng lớn và lưu vưc sông
Đà có nhiều cao nguyên đá vôi (dài 400km rộng từ 1 – 25km, cao từ 600
– 1000m) trên 60% diện tích có độ cao trên 1000m, trên 90% diện tích độ
quân hàng năm là 22-25 độ C.
- Hệ động vật và thảm thưc vật:
Với đăc thù là một huyện miền nui của tỉnh Lai Châu, có nhiều
loại rừng khác nhau: rừng thưa, rừng rụng lá và rừng nửa rụng lá…
Phong Thổ có khí hậu đa dạng nên phong phu về động vật và thưc vật: có
điều kiện phát triên nền sản xuất hàng hóa với nhiều lâm sản quy. Rừng ở
Phong Thổ có nhiều loại gỗ quy có giá trị cao như lát, chò chỉ, pơ mu,
nghiến, táu...Động vật tương đối phong phu với 84 loài có vu, 400 loài
chim, 67 loài bò sát. Độ che phủ của thảm thưc vật còn khoảng 38% ( Tài
liệu năm 2007)
Với điều kiện thuận lợi về nguyên luyện như vậy, trước đây đồng
bào Thái rất có lợi thế trong việc khai thác gỗ và các nguyên liệu đê làm
nhà sàn. Tuy nhiên, ngày nay với sư khai thác, chăt phá bừa bãi nên
lượng nguyên liệu làm nhà ngày càng khan hiếm. Và chính sách chống
chăt phá rừng của nhà nước nên bà con đã chuyên từ nhà sàn sang hình
thức nhà khác.
- Chất đất ở Phong Thổ chủ yếu là đất đỏ, vàng nhạt phát triên trên
đá cát, đá sét và đá vôi. Đất nông nghiệp đã sử dụng khoảng 9638ha,
trong đó đất ruộng lua là khoảng 2180 ha, đất nương rẫy là khoảng
4273ha, đất trồng cây hàng năm là khoảng 1739ha, đất trồng cỏ chăn
nuôi khoảng 1357ha, măt nước nuôi trồng thủy sản 89ha.
Có nhiều loại khoáng sản có giá trị cao như vàng, kim loại màu,
đất hiếm đã được khai thác. Đất hiếm gồm có các loại như quạng ba rít,
florit ở Nậm Xe, Phong Thổ với trữ lượng trên 20 triệu tấn đã được khai
thác từ năm 1980
- Hệ thống cơ sở hạ tầng :
Phong Thổ xác định quan điêm phát triên kinh tế là nhiệm vụ trọng
tâm, xóa đói giảm nghèo cho đồng bào, nhất là đồng bào dân tộc miền
sàn lẫn nhà đất , chủ yếu là nhà sàn làm bằng gỗ, tre, nứa…lợp bằng cỏ
ranh hoăc lá cọ, hiện nay nhà của người Thái ở đây đã có nhiều thay đổi,
nhiều nhà ngói xuất hiện, với nhà sàn to và đẹp, được lắp ghép to đẹp có
các công trình phụ, nhà sàn từ 3-4 gian cột kệ, nhà thoàng và có 4 mái.
Hiện nay, ngôi nhà sàn của người Thái sạch sẽ, không có chuồng trại của
trâu, bò, lợn, gà dưới sàn nhà nữa. Nếu nhà sàn thì sàn dưới được chát
vách nghiêm chỉnh và là nơi tiếp khách còn trên sàn chỉ là nơi ngủ mà
thôi.
Công cụ sản xuất đê lua gạo, ngô, sắn, nơi cất củi cũng được tách
riêng ra làm cho ngôi nhà thoáng mát và sạch sẽ hơn.
Trang phục người của người Thái hầu như đều giống nhau,phục nữ
măc váy, áo cóm, nhưng trong những năm gần đây phụ nữ không măc
váy và áo cóm nữa, họ măc quần áo bình thường, chỉ măc áo cóm vào
những ngày lễ tết hoăc khi đi diễn văn nghệ và khi cô dâu về nhà chồng.
Đồ trang sức của người Thái là bạc, vàng: vòng cổ, vòng tay, hoa
tai, nhẫn và đôi sà tích khi phụ nữ măc váy được đeo trên hông của họ.
Người Thái Trắng ở Mường So ăn cơm nếp, nấu bằng hông gỗ,
khii nấu chín có thê bỏ vào rổ hoăc “ka pếp” tư đan mà đê ăn cả ngày.
Gạo đồ xôi, cho vào cối nước, hoăc tư giã bằng cối. Thức ăn là thịt, cá,
rau, củ, quả…
Trong ngày lễ tết cổ truyền và lễ cưới hỏi, rượu là quan trọng nhất
vì nơi đây lạnh nên rượu rất phổ biến, đăc biệt là trong lễ cưới, hỏi, liên
hoan, găp măt, mừng thọ, ma chay…Đăc biệt rượu ở đây là do gia đình
tư cất.
Lương thưc, thưc phẩm của người Thái được bảo quản như: cá, thịt
sấy khô, làm chua đê khỏi bị thiu, lua được buộc lại thành chùm treo lên
gác bếp làm giống.
Hiện nay, do kinh tế thị trường thay đổi nên người Thái ở đây có
Mương phai lài tín” (Khơi mương đắp đập, dẫn nước qua chướng ngại,
đăt máng trên cánh đồng). Đăc biệt là lợi dụng sức nước dưng hệ thống
cây cọn quay đưa nước từ sông suối lên đồng.
Người Thái vẫn canh tác nương rấy bằng cách dùng cày cuốc làm đất
nương, thâm canh trồng ngô, khoai, sắn,vừng, lạc, bầu, bí, rau xanh,
trồng bông, chàm.Người Thái cũng canh tác vườn đê trồng cây ăn quả,
rau xanh.
Người Thái trước đây có tập quán nuôi trâu thả rông trong giậu kín, tư
chung sống, sinh đê, đến mùa mới bắt về cày. Nay đã nuôi trâu theo gia
đình, có chuồng trại riêng. Chăn nuôi lợn, gà, vịt, ngan rất phát triên. Vật
nuôi vừa trở thành hàng hóa, vừa đê sử dụng trong lễ,tết.
Nghề thủ công của người Thái rất phong phu, phát triên đạt trình độ cao.
Phổ biến trong mỗi gia đình làm nghề đan lát mây tre thành những vật
dụng hàng ngày như nong, nia, dần, sàng…Đăc biệt nghề kéo sợi, dệt vải
gắn liền với mỗi gia đình. Ngoài ra có những nghề thủ công mang tính
chuyên nghiệp như rèn nông cụ sản xuất…
Kinh tế hái lượm vẫn chiếm vị trí đáng kê trong đời sống của người Thái.
Rừng cung cấp rau, củ, quả, hạt, các loại thu lớn nhỏ…Ngoài ra rừng còn
cho các loại cây gỗ, tre. Khe suối cho cá to, tôm, cua, ốc... Người Thái có
câu “Pây hin pá, má kin lẩu” ( Đi ăn cá, về uống rượu) nói lên việc ăn cá
là một thu vui của người Thái.
Văn hóa tổ chức đời sống
Người Thái phổ biến sống theo kiêu gia đình nhỏ phụ quyền. Biêu
hiện ở mỗi nóc nhà được tượng trưng bằng chiếc cột chính, ở cột đầu treo
các vật thiêng như long gà, xương thu, xương cá to. Ông chủ nhà nằm
bên cột chính, cạnh bàn thờ ma nhà, như đê khẳng định tính chất phụ
quyền của gia đình. Con gái như người ngoài, không được quyết định
việc gì trong gia đình ngoài việc sinh con và nội trợ. Con dâu phải đổi họ
người Thái rất phổ biến. Người Thái từ lâu đã biết cất rượu trắng bằng
gạo, sắn, ngô, men lá. Rượu cần là loại rượu đăc trưng của người Thái,
được dùng hàng ngày, phổ biến dịp Lễ, tết.
Trang phục
Phụ nữ măc áo cánh ngắn, màu sáng, cổ chữ V, khuy cài bằng bạc
hình bướm, váy màu đen không trang trí hoa văn.
Trang sức của phụ nữ gồm: vòng cổ, vòng tay, khuyên tai bằng bạc
hay nhôm. Trong dịp Lễ, tết thường đội nón vành rộng, đan bằng nan tre.
Nam giới thường măc áo màu đen, cổ tròn, xẻ ngưc, cài cuc vải, có
hai tui dưới vạt trước, quần kiêu chân què, màu đen chàm. Dịp Lễ, tết
thường măc áo dài xẻ nách phải màu chàm, đầu quấn khăn, chân đi guốc.
Trong tang lễ, họ măc nhiều loại áo săc sỡ, tương phản màu sắc với ngày
thường.
Nếp ở
Từ lâu người Thái ở Mường So đã quần cư thành bản. Mỗi bản bao
gồm đất ở, đất canh tác, bãi cỏ chăn nuôi, khu rừng, khu nghĩa địa và
nguồn nước sông suối riêng. Nhà sàn có hai mái phẳng, có góc giao
tuyến rõ rệt, có các lan can bằng gỗ ở phía trước hoăc bao quanh nhà.
Ngoài mái phẳng thì ở hai đầu hồi không có khau cút.
Phương tiện vận chuyển
Người Thái vận chuyên bằng gánh đôi dậu đưng các thứ, đi rừng
đi nui thì đeo gùi, dùng ngưa cưỡi, thồ hàng. Người Thái ở dọc các bản
gần sông suối nổi tiếng xuôi ngược dòng bằng thuyền đuôi én.
Văn hóa tinh thần
2.4.1. Hôn nhân
Nguyên tắc cơ bản trong hôn nhân của người Thái là ngoại hôn
dòng họ, theo đó tất cả các thành viên nam nữ trong khối cộng đồng thân
Người Thái có tục mở lễ hội xên bản xên mường. Lễ được tổ chức
vào đầu mùa xuân trên đồng ruộng, mời mo luông đến cung xua đuổi tà
ma, cầu cho bản mường yên vui, mùa màng tươi tối. Sau đó thanh niên
nam nữ vui chơi: ném còn, mua xòe trong tiếng chiêng đồng, trống cái,
khèn…
2.4.4. Luật tục
Những luật tục tranh chấp ruộng đất, dưng vợ gả chồng, vợ chồng bỏ
nhau, tội giết người, trộm cắp, đánh người, tội chửi người cay nghiệt, tội
hủ hóa, loạn luân, chăm sóc vợ chồng khi ốm đau hoạn nạn, nuôi con…
Trong nhiều luật tục có nhiều điều lệ nhằm củng cố quyền hành của chua
đất nhưng cũng có nhiều điều lệ phù hợp với đời sống văn hóa mới ngày
nay, như hành vi bạc đãi vợ chồng, bố mẹ, con cái là điều xa lạ với tập
quán của đồng bào Thái; hay như đời sống của đồng bào còn nghèo
nhưng bà con rất ghét trộm cắp, vì luật tục nói người trộm cắp là đáng sỉ
nhục
2.4.5. Đời sống văn nghệ
Đồng bào Thái nơi đây có đời sống văn nghệ phong phu. Các tác phẩm
“Xống trụ Son Sao” còn được truyền tụng từ đời này sang đời khác.
Mường So là cái nôi của xòe Thái, người Thái nổi tiếng với ác điệu mua
như xòe khăn, xòe quạt, xòe nón…
Ngoài ra còn rất nhiều hoạt động văn hóa văn nghệ, lễ hội làm củng cố
đời sống của người dân, khích lệ bà con hăng say lao động, sản xuất.
3. Kết luận
Việc giữ gìn bản sắc văn hóa của mỗi dân tộc đang là yêu cầu cấp
bách hiện nay. Văn hóa đăc trưng của các dân tộc sẽ mãi trường tồn, đậm
đà bản sắc dân tộc Việt Nam, chỉ Việt Nam mới có. Bản sắc đó được
hình thành, kết tinh từ một cộng động – gia đình 54 dân tộc an hem và