Xây dựng mô hình Gia đình văn hóa dân tộc Thái tại xã Mường So, huyện Phong Thổ, tỉnh Lai Châu giai đoạn 2016 – 2020” - Pdf 43

A. MỞ ĐẦU
1. Lý do xây dựng đề án
Gia đình là tế bào của xã hội, là nơi duy trì nòi giống, là môi trường quan
trọng hình thành, nuôi dưỡng và giáo dục nhân cách con người, bảo tồn và phát
huy văn hóa truyền thống tốt đẹp của dân tộc, chống lại các tệ nạn xã hội, tạo
nguồn nhân lực phục vụ sự nghiệp xây dựng và bảo vệ tổ quốc. Nhận thức rõ vai
trò to lớn của gia đình trong việc xây dựng con người, xây dựng xã hội mới, Ðảng
và Nhà nước ta đã khẳng định xây dựng gia đình là vấn đề lớn, hệ trọng của dân
tộc. Chiến lược phát triển gia đình Việt Nam giai đoạn 2011-2020 của Chính phủ,
Ðề án Phát triển gia đình Việt Nam bền vững cũng như việc ban hành các luật, các
chính sách đối với gia đình đã thể hiện quyết tâm đó của Đảng, Nhà nước ta đối
với vấn đề này.
Cách trung tâm thị trần huyện lỵ Phong Thổ 12 km về phía Đông Nam,
Mường So là 1 trong 17 xã của huyện Phong Thổ và hiện là nơi cư trú của các dân
tộc Thái, Kinh, Giáy và một số thành phần dân tộc khác; trong đó dân tộc Thái
chiếm đa số với 73% dân số, cư trú ở 10 trong tổng số 11 bản của xã. Mặt khác,
dân tộc Thái là cư dân bản địa nên nói đến Mường So là nói đến dân tộc Thái với
nền văn hóa phong phú và độc đáo của họ.
Cùng với các xã/phường/thị trấn của tỉnh Lai Châu và cả nước, Đảng bộ,
Chính quyền và nhân dân các dân tộc xã Mường So nói chung, dân tộc Thái xã
Mường So nói riêng đã và đang tích cực bảo tồn và phát triển các giá trị văn hóa
truyền thống của dân tộc mình. Phong trào “TDĐKXDĐSVH”, trong đó xây dựng
GĐVH được Đảng bộ xã Mường So xác định là hạt nhân cốt lõi của phong trào.
Vấn đề xây dựng GĐVH cũng đã được nhấn mạnh trong các Nghị quyết của các
kỳ đại hội Đảng bộ xã, đặc biệt, từ sau khi Nghị quyết số 13/NQ-TU ngày 7 tháng


5 năm 2007 của Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh Lai Châu về đẩy mạnh xây dựng,
nâng cao hiệu quả và chất lượng đời sống văn hóa ở cơ sở trong giai đoạn tới; Nghị
quyết số 90/2007/NQ-HĐND ngày 17 tháng 7 năm 2007 của Hội đồng nhân dân
tỉnh Lai Châu về việc Thông qua Đề án “Đẩy mạnh xây dựng, nâng cao hiệu quả

gìn, phát huy và bảo vệ sự phát triển của gia đình để gia đình thực sự phát triển cả
về vật chất, tinh thần, làm động lực cho sự phát triển KT-XH của địa phương, góp
phần xây dựng và phát triển văn hóa gia đình mang đậm đà bản sắc dân tộc Thái tại
xã Mường So, huyện Phong Thổ, tỉnh Lai Châu.
2.2. Mục tiêu cụ thể
Phấn đấu đến năm 2020, đạt một số tiêu chí như sau:
- 100% gia đình dân tộc Thái xã Mường So có đời sống kinh tế ổn định, bảo
đảm vệ sinh môi trường, có công trình vệ sinh, xây dựng chuồng gia súc xa nhà.
- 100% gia đình dân tộc Thái xã Mường So chấp hành nghiêm chỉnh chính
sách, pháp luật của Nhà nước, hương ước.
- Từ 80% - 85% gia đình dân tộc Thái xã Mường So bảo tồn và phát huy các
giá trị gia đình; từ 70 – 75% gia đình dân tộc Thái xã Mường So gìn giữ và phát
huy các giá trị truyền thống văn hóa tộc người.
- Từ 70 – 75% gia đình dân tộc Thái xã Mường So không còn các phong tục
tập quán lạc hậu, thực hiện nếp sống chi tiêu có kế hoạch; 100% trẻ em trong độ


tuổi được đến trường; 100% gia đình dân tộc Thái xã Mường So kế thừa truyền
thống đoàn kết tương trợ cộng đồng, giúp đỡ nhau sản xuất, đời sống.
3. Giới hạn của đề án
- Đối tượng của đề án: xây dựng mô hình gia đình văn hóa dân tộc Thái.
- Phạm vi không gian: Đề án được nhiên cứu và thực hiện tại xã Mường So,
huyện Phong Thổ, tỉnh Lai Châu.
- Giới hạn thời gian: đề án thực hiện trong giai đoạn 2016 – 2020.


B. NỘI DUNG
1. Cơ sở xây dựng đề án
1.1. Cơ sở khoa học
1.1.1. Một số khái niệm cơ bản

1.1.2.1. Vài nét về dân tộc Thái tại xã Mường So, huyên Phong Thổ, tỉnh Lai
Châu
Dân tộc Thái xã Mường So thuộc nhóm Thái Trắng và là dân tộc chủ thể của
xã Mường So. Tính đến tháng 12/2015, toàn xã Mường So có 11 bản với 1.298 hộ,
5.594 nhân khẩu, gồm 6 dân tộc, trong đó dân tộc Thái chiếm đa số với 3.827 nhân
khẩu (chiếm 73% dân số toàn xã). Dù có những khác biệt so với người Thái Đen
và các nhóm Thái Trắng ở các địa phương khác nhưng văn hóa của họ vẫn “chung
một dòng chảy” trong mạch nguồn văn hóa Thái với 4 đặc trưng cơ bản: văn hóa
thung lũng; kỹ thuật tiền công nghiệp; thiết chế xã hội dựa trên tổ chức bản,
mường; tư tưởng và tri thức folklore manh nha bác học.
Dân tộc Thái xã Mường So đã định cư lâu đời ở thung lũng Mường So màu
mỡ, ven sông Nậm Na và các con suối Nậm So, Nậm Lùm và Nậm Pạt… được bao
bọc bởi các dãy núi Pú Đăng Pâu, Pú Khọ Nhọ… nên sớm có truyền thống canh
tác ruộng nước và sáng tạo ra hệ thống thủy lợi gồm mương, phai, lái, lín (lốc), cọn
độc đáo và hiệu quả. Ngoài ra, trồng trọt nương rẫy, chăn nuôi, săn bắt, hái lượm,
đánh bắt cá, thủ công gia đình và trao đổi hàng hóa cũng đóng vai trò quan trọng


trong kinh tế truyền thống. Ngựa và thuyền đuôi én trước kia là những phương tiện
giao thông phổ biến.
Dân tộc Thái xã Mường So có ba quan hệ họ hàng là: ải noọng, lúng ta và
nhinh sao, xuất phát từ hình thái hôn nhân thuận chiều. Tiểu gia đình phụ quyền là
hình thức phổ biến.
Đám cưới của dân tộc Thái xã Mường So có nhiều nghi thức cho thấy tàn dư
mẫu hệ còn đậm nét, đặc biệt là tục ở rể. Khi sinh nở, trước cửa nhà sản phụ
thường treo một tấm phên đan mắt cáo với một cục than và một cành cây xanh để
ngăn "ma ác" hay "hồn" khách lạ làm hại hồn sản phụ và trẻ sơ sinh. Tang ma có
nhiều nghi thức để người chết là tiếp tục "sống" ở thế giới bên kia, đặc biệt là tục
chia của cho người chết.
Dân tộc Thái xã Mường So từ lâu đã định cư thành từng bản, nhiều bản hợp

1.1.2.2. Mô hình gia đình văn hóa dân tộc Thái tại xã Mường So, huyện
Phong Thổ, tỉnh LaiChâu
Tiêu chuẩn một GĐVH dân tộc Thái xã Mường So bao gồm 5 nội dung cụ thể
như sau:
Một là, GĐVH dân tộc Thái xã Mường So có đời sống kinh tế ổn định, bảo vệ
môi trường, đảm bảo vệ sinh. Các hộ gia đình thực hiện định canh, định cư, có đời
sống kinh tế ổn định. Mỗi hộ gia đình đều phải có công trình vệ sinh, xây dựng
chuồng gia súc xa nhà.
Hai là, GĐVH dân tộc Thái xã Mường So chấp hành nghiêm chỉnh chính
sách, pháp luật của Nhà nước, hương ước của bản, đảm bảo an ninh, trật tự và an


toàn xã hội. Các GĐVH phải thực hiện dân số kế hoạch hoá gia đình. Tích cực
tham gia tổ tự quản, tổ hòa giải, tham gia vận động những người mắc các tệ nạn xã
hội (cờ bạc, ma túy, mại dâm…) từ bỏ tệ nạn; vận động các gia đình khác bài trừ
mê tín dị đoan; gương mẫu và vận động các gia đình khác thực hành tiết kiệm
trong chi tiêu, nghi lễ, nhất là các nghi lễ cưới và tang ma.
Ba là, GĐVH dân tộc Thái xã Mường So là nơi bảo tồn và phát huy các giá
trị gia đình để mỗi gia đình thực sự là một “tổ ấm”, là “hậu phương” vững chắc
cho mỗi thành viên. Phải khai thác triệt để bản sắc văn hóa dân tộc Thái trong
truyền thống gia đình, bao gồm các chức năng của gia đình (sinh sản, kinh tế, giáo
dục, tâm lý – tình cảm và bảo vệ - chăm sóc sức khỏe) cũng như nếp sống gia đình
(mối quan hệ vợ chồng hòa thuận, truyền thống kính già yêu trẻ, truyền thống dân
chủ, yêu thương và đùm bọc lẫn nhau và mối quan hệ tốt đẹp với các nàng dâu
chàng rể)…
Bốn là, GĐVH dân tộc Thái xã Mường So là nơi gìn giữ và phát huy các giá
trị truyền thống văn hóa tộc người để mỗi gia đình trở thành một “thành trì” vững
chắc chống lại sự xâm nhập của văn hóa ngoại lai. Các di sản văn hoá vật thể
được gìn giữ trong gia đình bao gồm: kiến trúc và bố trí không gian nhà cửa, nơi
thờ cúng tổ tiên (bên nội, bên ngoại), trang phục, ẩm thực. Các di sản văn hoá phi

thành tố bảo đảm thành công của các nhiệm vụ cách mạng. Đảng khẳng định gia
đình là tế bào của xã hội, có vai trò rất quan trọng trong sự nghiệp xây dựng chế độ
mới, nền kinh tế mới, con người mới.
Tại Hội nghị Trung ương 5 (khóa VIII), Đảng ta xác định: “Nêu cao trách
nhiệm của gia đình trong việc xây dựng và bồi dưỡng các thành viên của mình có


lối sống văn hóa, làm cho gia đình thực sự là tổ ấm của mỗi người và là tế bào
lành mạnh của xã hội. Đẩy mạnh phong trào “TDĐKXDĐSVH”; ngăn chặn việc
phục hồi các hủ tục, khắc phục tình trạng mê tín đang có xu hướng lan rộng trong
xã hội” [4, tr. 126].
Đại hội X của Đảng, năm 2006, tiếp tục khẳng định: “Phát huy những giá trị
truyền thống tốt đẹp của gia đình Việt Nam, thích ứng với những đòi hỏi của quá
trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Xây dựng gia đình no ấm, bình đẳng, tiến bộ,
hạnh phúc, thật sự là tổ ấm của mỗi người, là tế bào lành mạnh của xã hội, là môi
trường quan trọng hình thành, nuôi dưỡng và giáo dục nhân cách con người, bảo
tồn và phát huy văn hóa truyền thống tốt đẹp, tạo nguồn nhân lực phục vụ sự
nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc” [4, tr. 170, 103 - 104].
Như vậy, qua các kỳ Đại hội kể từ Đại hội VI đến nay, Đảng ta luôn coi gia
đình không chỉ đơn thuần là nơi con người - mỗi thành viên của xã hội được sinh
ra, chức năng của gia đình không chỉ để sản sinh ra con người, duy trì nòi giống,
mà hơn thế, gia đình là một tế bào cấu thành nên xã hội và mang đặc trưng của xã
hội Việt Nam theo định hướng Xã hội Chủ nghĩa.
Đến Đại hội XI, Đảng ta đã có sự phát triển nhận thức mới về gia đình, đó
là: No ấm, tiến bộ, hạnh phúc là những điều kiện cơ bản, quan trọng để gia đình
phát triển lành mạnh. Muốn có một “tế bào lành mạnh”, một “nền tảng vững chắc”
thì phải xây dựng gia đình Việt Nam no ấm, tiến bộ, hạnh phúc.
Như vậy, qua hơn 30 năm thực hiện công cuộc đổi mới đất nước, trong bối
cảnh hội nhập quốc tế ngày càng sâu và toàn cầu hóa hiện nay, Đảng ta ngày càng
nhận thức sâu sắc về vị trí, vai trò của gia đình với tư cách là “tế bào” vững chắc

Đảng bộ tỉnh Lai Châu về đẩy mạnh xây dựng, nâng cao hiệu quả và chất lượng
đời sống văn hóa cơ sở trong giai đoạn tới;
- Hướng dẫn số 331/HD-BCĐ ngày 29 tháng 7 năm 2008 của BCĐ Phong
trào “TDĐKXDĐSVH” tỉnh Lai Châu V/v Thực hiện Cuộc vận động “sạch bản
mường, tốt ruộng nương” trong phong trào “TDĐKXDĐSVH” trên địa bàn tỉnh
Lai Châu;
- Quyết định số 15/2014/QĐ-UBND ngày 2 tháng 7năm 2014 của UBND tỉnh
Lai Châu Ban hành Quy định thực hiện nếp sống văn minh trong việc cưới, việc
tang và lễ hội trên địa bàn tỉnh Lai Châu.
- Quyết định số 845/QĐ-UBND ngày 17 tháng 01 năm 2013 của UBND
huyện Phong Thổ V/v Kiện toàn BCĐ phong trào “TDĐKXDĐSVH” huyện Phong
Thổ;
- Quyết định số 1092/QĐ-BCĐ ngày 14 tháng 5 năm 2014 của phong trào
“TDĐKXDĐSVH” huyện Phong Thổ V/v Ban hành Quy chế tổ chức và hoạt động
của BCĐ phong trào “TDĐKXDĐSVH”;
- Quyết định số 921/QĐ-BCĐ ngày 15 tháng 4 năm 2016 của BCĐ phong trào
TDĐKXDĐSVH” huyện Phong Thổ V/v Ban hành Quy chế tổ chức và hoạt động
của BCĐ phong trào “TDĐKXDĐSVH”.
- Quyết định số 16/QĐ-UBND ngày 21 tháng 01 năm 2013 của UBND xã
Mường So V/v Kiện toàn BCĐ phong trào “TDĐKXDĐSVH” xã Mường So;
- Quyết định số 252/QĐ-BCĐ ngày 14 tháng 5 năm 2014 của phong trào
“TDĐKXDĐSVH” xã Mường So V/v Ban hành Quy chế tổ chức và hoạt động của
BCĐ phong trào “TDĐKXDĐSVH”;


- Quyết định số 921/QĐ-BCĐ ngày 15 tháng 4 năm 2016 của BCĐ phong trào
TDĐKXDĐSVH” xã Mường So V/v Ban hành Quy chế tổ chức và hoạt động của
BCĐ phong trào “TDĐKXDĐSVH”.
1.3. Cơ sở thực tiễn
Cuộc vận động “xây dựng GĐVH” có tiền thân ngay sau khi Cách mạng

Dù còn nhiều khó khăn nhưng những năm qua, kinh tế xã Mường So đã có
bước chuyển biến tích cực, tăng trưởng kinh tế đạt cao luôn ở mức hai con số (năm
2015 đạt 14%), thu nhập bình quân/người năm 2015 đạt 12,8 triệu đồng. Tuy
nhiên, quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế còn chậm, chưa có sự chuyển biến
mạnh sang sản xuất hàng hoá.
Sự hình thành và phát triển của xã Mường So gắn liền với lịch sử phát triển
của vùng Tây Bắc, của dân tộc Thái trong mối đoàn kết thống nhất với các dân tộc
anh em, đặc biệt là với dân tộc Việt (Kinh).
2.1.2. Khái quát về gia đình dân tộc Thái tại xã Mường So, huyện Phong Thổ,
tỉnh Lai Châu hiện nay
Cho đến thời điểm hiện nay (năm 2016), về kiểu gia đình, số lượng gia đình
hạt nhân (một cặp vợ chồng và các con của họ) hiện nay chiếm tỷ lệ đáng kể.
Trong tổng số 1.400 hộ gia đình ở xã Mường So thì có tới 770 hộ gia đình thuộc
kiểu gia đình hạt nhân (chiếm 55,0%). Tuy nhiên, ở 7 bản dân tộc Thái, tỷ lệ trung
bình khoảng 30% [Xem phụ lục: Biểu 2]. Như vậy, các tiểu gia đình ở dân tộc Thái
vẫn chiếm tỷ lệ nhỏ hơn so với các dân tộc Kinh, Giáy… nhưng theo đánh giá của


người dân nơi đây thì con số này lớn hơn rất nhiều so với 20 năm về trước cho thấy
hiện tượng hạt nhân hóa gia đình trong cộng đồng dân tộc Thái xã Mường So đang
có xu hướng gia tăng. Một trong những nguyên nhân của tình trạng này là sự phát
triển của kinh tế hộ gia đình cùng với các chính sách của Đảng, Nhà nước về phân
chia đất canh tác cho các hộ cũng góp phần tạo điều kiện cho việc tách hộ, hình
thành các gia đình hạt nhân.
Về quy mô hộ gia đình, trong tổng số 1.400 hộ gia đình ở xã Mường So có tới
799 hộ có từ 1 đến 4 nhân khẩu (chiếm 57,07%; ở 7 bản Thái, con số này là
35,03%), 481 hộ gia đình có từ 5 đến 6 nhân khẩu (chiếm 60,20%; ở 7 bản Thái là
51,95%), 120 gia đình có từ 7 đến 10 nhân khẩu (chiếm 8,57%; ở 7 bản Thái là
13,02%) [Xem phụ lục: biểu 3]. Số lượng nhân khẩu trong mỗi gia đình giảm có
nhiều nguyên nhân, nhưng nguyên nhân quan trọng hơn cả là do sức lao động được

phong tục sinh hoạt chung của đại gia đình. Các công việc như cưới xin, tang ma,
dựng nhà hay giúp đỡ nhau khi khó khăn hoạn nạn vẫn được duy trì thường xuyên
giữa các thành viên trong đại gia đình. Trong một số công việc quan trọng của gia
đình như đám cưới, đám tang,… người đứng đầu đại gia đình vẫn có vị trí quan
trọng.
2.2. Thực trạng gia đình văn hóa dân tộc Thái tại xã Mường So, huyện
Phong Thổ, tỉnh Lai Châu những năm qua
2.2.1. Đời sống kinh tế và vấn đề vệ sinh môi trường
Kinh tế của xã Mường So những năm qua đã có bước chuyển biến tích cực,
tăng trưởng luôn ở mức hai con số (năm 2015 đạt 14%). Năm 2015, thu nhập bình
quân/người toàn xã đạt 12,8 triệu đồng. Tổng sản lượng lương thực cây có hạt năm


2015 là 1.470,2 tấn; bình quân lương thực đầu người 360 kg. Toàn hiện có xã có
1024 xe máy, 611 nhà xây, 324 máy say sát, 1568 ti vi, 320 máy cày mini [Nguồn:
UBND xã Mường So cung cấp tháng 9/2016]. Đời sống nhân dân không ngừng
được cải thiện. Từ mức đói nghèo rất cao (25% hộ đói, 68% hộ nghèo) năm 1990,
đến nay toàn xã chỉ còn 30% hộ nghèo và không còn hộ đói. Các hộ gia đình đều
có chuồng chăn nuôi gia súc, gia cầm. Các hộ gia đình đều phát quang bụi rậm,
dọn vệ sinh đường giao thông, khơi thông cống rãnh thoát nước 1 lần vào sáng thứ
bảy hàng tuần…
Bên cạnh những thành tích đã đạt được, đời sống kinh tế ở xã Mường So vẫn
còn nhiều hạn chế. Quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế còn chậm, chưa có sự
chuyển biến mạnh sang sản xuất hàng hoá. Năm 2015, tỷ trọng giá trị ngành nông
- lâm nghiệp, thủy sản vẫn chiếm tỷ trọng cao trong tổng giá trị sản xuất của chiếm
60,9%; trong khi đó các ngành công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp chỉ chiếm 12,6%;
thương mại, dịch vụ cũng chỉ đạt 26,5%.
Mặc dù sản xuất nông nghiệp trồng trọt cho đến nay vẫn là nguồn thu chủ yếu
của đại bộ phận các hộ gia đình dân tộc Thái xã Mường So nhưng do nhiều nguyên
nhân nguồn thu này hiện đã giảm sút đáng kể.

trong hàng ngũ quân đội của vua Lê Thái Tổ đánh đuổi quân Minh xâm lược và
trừng trị chúa Thái Mường Lay là Đèo Cát Hãn theo giặc; tham gia phong trào Cần
Vương chống Pháp; nuôi giấu cán bộ Việt Minh và tham gia chiến dịch Điện Biên
Phủ…). Tuy nhiên, việc thực hiện pháp luật trong cộng đồng dân tộc Thái Mường
So nói chung, trong các gia đình dân tộc Thái xã Mường So nói riêng hiện nay vẫn
rất hạn chế. Điều tra 50 chủ hộ gia đình dân tộc Thái xã Mường So về mức độ hiểu
biết của một số bộ luật, luật như Bộ luật dân sự, Bộ luật Tố tụng dân sự, Bộ luật


hình sự, Bộ luật tố tụng hình sự, Luật đất đai, Luật cư trú.v.v…cho thấy chỉ có 8
người tham gia công tác xã hội (đây là những đảng viên, cán bộ đoàn thể ở bản) có
nghe nói về các bộ luật, luật đó (chiếm 16%) và có đến 100% các chủ không biết
các nội dung cơ bản của một số bộ luật, luật. Họ chỉ biết một số quy định của luật
giao thông đối với người điều khiển mô tô, xe gắn máy do đây là phương tiện đi lại
phổ biến hiện nay. Như vậy, đại bộ phân nhân dân dân tộc Thái ở xã Mường So
hiện nay vẫn sống theo tập quán pháp (những quy định về sở hữu, ứng xử… đã
được các thế hệ trao truyền thực hiện). Thực trạng trên là bởi những nguyên nhân
sau:
Một là, nhận thức của lãnh đạo các cấp, ngành từ tỉnh, huyện, xã về vai trò của
luật pháp, bộ máy và công tác tuyên truyền pháp luật chưa đầy đủ. Từ việc nhận
thức chưa đầy đủ dẫn đến công tác chỉ đạo và giám sát thực hiện nhiệm vụ tuyên
truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật trên địa bàn còn buông lỏng, phó mặc cho cấp
dưới (tư pháp, văn hóa, các đoàn thể, trưởng bản, bí thư chi bộ bản…) trong khi
trình độ hiểu biết pháp luật của hầu hết cán bộ cấp dưới về pháp luật cũng rất hạn
chế (ngoại trừ cán bộ tư pháp);
Hai là, trong một thời gian ngắn, Nhà nước ta đã ban hành gần 100 bộ luật và
luật, gần 1.000 văn bản dưới luật trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội. Vì
vậy, ngay cả cán bộ tư pháp xã cũng chỉ nắm được một số luật trong phạm vi hẹp:
hành chính, kinh tế, hình sự, dân sự… Lãnh đạo Đảng, Chính quyển, Mặt trận và
cán bộ các ngành ngoài luật cũng chưa nắm vững luật (đây cũng là tình trạng ở cấp

đình đang có xu hướng đơn giản hóa, thậm chí một số nghi lễ đã thay đổi và bị ảnh
hưởng mạnh của văn hóa đô thị và kinh tế thị trường. Các vật phẩm truyền thống
để mừng đám cưới, mừng nhà mới, chia buồn với tang gia trong đám tang (lợn, gà,


rượu, gạo, vải may mặc…) hầu hết được thay bằng tiền mặt hoặc các vật dụng hiện
đại.
Bên cạnh đó, một số tập quán lạc hậu còn tồn tại và biến tướng do sự tác động
của những điều kiện mới khiến cho truyền thống gia đình dân tộc Thái đang diễn
biến theo chiều hướng xấu và ngày càng phức tạp; biểu hiện trên những mặt sau:
Một là, “sống thử” (sống chung khi chưa/không kết hôn) và quan hệ tình dục
trước hôn nhân ngày càng bị dư luận xã hội phê phán thì ở dân tộc Thái lại được
nhìn nhận như một lẽ bình thường. Tập quán dân tộc Thái cho phép quan hệ tính
giao tiền hôn nhân. Khi con gái đến tuổi dậy thì được phép tiếp bạn tình qua đêm
để tâm sự. Luật tục chỉ cấm chửa hoang, nếu mắc phải thì phạt rất nặng. Chính vì
thế mà xưa kia dân tộc Thái Mường So có những bài thuốc tránh thai cổ truyền từ
thảo dược thiên nhiên sẵn có trong vùng và rất hiệu quả để rồi mẹ truyền cho con,
con truyền cho cháu… đời nối đời… nên trong cộng đồng dân tộc Thái ít ai mắc
tội chửa hoang. Hiện nay, hình thức xử phạt này không còn nhưng việc “trộm yêu”
thì vẫn tồn tại khá phổ biến. Và những phụ nữ, thiếu nữ có thai ngoài ý muốn nếu
không “hợp thức hóa” cái thai bằng hôn nhân thì thường tìm đến các cơ sở nạo hút
thai tư nhân để “giải quyết”.
Hai là, tuy nhu cầu về lao động cơ bắp trong các gia đình dân tộc Thái Mường
So đã giảm nhưng việc phải có con trai để nối dõi và thờ cúng cho đến nay vẫn là
nhu cầu thường trực trong ý thức của hầu hết người Thái nơi đây. Điều tra 50 hộ
gia đình dân tộc Thái xã Mường So cho thấy vẫn có tới 38 hộ đã và đang đặt ra
mục tiêu phải sinh bằng được con trai (chiếm 76%) và trên thực tế, trong năm
2015, cả xã Mường So có tới 9/33 gia đình sinh con thứ ba (chiếm 27,3%), trong
số này có 4 gia đình hiện đang là cán bộ, đảng viên. Ngày nay, với sự “hỗ trợ” của
y học hiện đại, việc “để” hay “bỏ” đứa con tùy thuộc vào thai nhi là trai hay gái ở


chủ yếu được đầu tư kinh phí từ ngân sách nhà nước và các cơ quan chức năng
đứng ra tổ chức (trước kia do dân góp công, góp của và tự tổ chức thực hiện)
nhưng do không nắm vững phương pháp thực hiện nên các di tích được trùng tu
theo khuôn mẫu của miền xuôi, các lễ hội được tổ chức theo kiểu phong trào khiến
cho các lễ hội, các di tích bị biến dạng, mất bản sắc.
Trong mấy chục năm trở lại đây, nhất là trong thời kỳ đổi mới, các bản dân tộc
Thái xã Mường So đã thay đổi. Do nhu cầu phát triển về KT-XH, địa bàn cư trú
trải rộng hơn so với trước. Nhà ở truyền thống của dân tộc Thái xã Mường So cũng
có nhiều thay đổi. Cả xã hiện có 611 nhà xây, trong đó số nhà xây trong cộng đồng
dân tộc Thái chiếm khoảng 40%. Trong các bản Thái, những ngôi nhà xây theo
kiểu nhà ống (nhiều nhà xây 2 – 3 tầng) xen kẽ với những ngôi nhà sàn truyền
thống gây mất mỹ quan, làm biến dạng không gian bản Thái cổ truyền.
Trang phục truyền thống cũng có nhiều thay đổi. Nghề dệt nổi tiếng của dân
tộc Thái xã Mường So từng bước thiếu vắng trong sinh hoạt thường ngày (trừ một
số gia đình dệt vải để may các sản phẩm truyền thống bán cho khách du lịch nhưng
khách du lịch đến với xã Mường So đang ngày một thưa vắng dần). Trang phục
truyền thống của nam giới hầu như đã thay đổi cơ bản, chỉ phụ nữ mới giữ được
trang phục truyền thống nhưng chất liệu, màu sắc, kiểu dáng, hoa văn đã thay đổi
làm mất đi vẻ đẹp vốn có của bộ trang phục và đặc biệt là làm mất bản sắc tộc
người trong trang phục truyền thống.
2.2.5. Việc bài trừ các phong tục tập quán lạc hậu và các tệ nạn xã hội
Những năm qua, nhiều phong tục tập quán lạc hậu trong cộng đồng dân tộc
Thái xã Mường So đã được bài trừ có hiệu quả như không còn tập quán thả rông
gia súc, gia cầm, các gia đình đều có công trình vệ sinh, các thiếu nữ không còn
tắm trần, trẻ em được học hành, người già được chăm sóc, người bệnh được khám
chữa ở các cơ sở y tế…


Tuy nhiên, đó là những thành tích bề nổi trong đời sống văn hóa ở các bản,


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status