ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
----------------------------------------------------ĐẬU THỊ YẾN
CƯ DÂN ĐÓNG TÀU THUYỀN Ở XÃ NGHI
THIẾT, HUYỆN NGHI LỘC, TỈNH NGHỆ AN
LUẬN VĂN THẠC SĨ
Chuyên ngành: Nhân học
Hà Nội-2016
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-----------------------------------------------------
ĐẬU THỊ YẾN
CƯ DÂN ĐÓNG TÀU THUYỀN Ở XÃ NGHI
THIẾT, HUYỆN NGHI LỘC, TỈNH NGHỆ AN
Luận văn Thạc sĩ chuyên ngành nhân học
Mã số: 60 31 03 02
Người hướng dẫn khoa học: Ts. Vũ Trường Giang
Hà Nội-2016
LỜI CAM ĐOAN
Đậu Thị Yến
2
DẪN LUẬN
1. Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu
Việt Nam là quốc gia có 3.260 km bờ biển kéo dài từ Bắc đến Nam.
Biển chứa nhiều nguồn tài nguyên quý giá cho nước ta trên hành trình hội
nhập và phát triển hôm nay. Để khai thác nguồn tài nguyên trên biển, nhiều
ngành kinh tế cần có phương tiện vận tải là tàu, thuyền. Nghề đóng tàu,
thuyền là một trong những nghề xuất hiện sớm ở nước ta. Sách “Nghề cổ đất
Việt” của Vũ Từ Trang đã dẫn: “Với tình hình địa lý nước ta, sông ngòi, kênh
rạch, dọc ngang rất nhiều, đã vậy biển Đông lại ôm dọc chiều dài đất nước, vì
thế thuyền bè là một phương tiện giao thông rất mật thiết với người dân.
Chính vì vậy, nghề đan thuyền, đóng thuyền, đóng tàu bè ở nước ta phát triển
rất sớm” [45, tr. 343]. Do đó, ngay từ rất sớm, người thợ thủ công làm nghề
đóng tàu thuyền đã cư trú ven biển để sản xuất ra tàu, thuyền phục vụ nhu cầu
đó. Tuy nhiên, hầu như các nghiên cứu về biển đang tập trung chủ yếu vào
nghiên cứu văn hoá lễ hội của ngư dân vùng biển để phục vụ phát triển du lịch
của một số địa phương có hoạt động du lịch dựa vào điều kiện tự nhiên của
vùng biển; nghiên cứu mô hình và kỹ thuật nuôi trồng, đánh bắt thuỷ hải sản
của ngư dân vùng biển, các đề tài này được thực hiện chủ yếu do các nhà
quản lý ở địa phương đặt hàng nghiên cứu; khảo sát đời sống kinh tế của
những cộng đồng ngư dân nghèo, nhằm giúp chính quyền tìm giải pháp ổn
định và nâng cao mức sống cho ngư dân, bởi thực tại họ luôn gặp nhiều khó
khăn và tổn thất do thiên tai (bão, lũ) gây nên [40]. Vì vậy, việc nghiên cứu về
cộng đồng cư dân đóng tàu thuyền hiện nay chưa được chú trọng.
Đây là một bộ phận dân cư có nhiều điểm đặc biệt, người thợ đóng tàu
đóng tàu thuyền ở ven biển Nghệ An thông qua nghiên cứu trường hợp xã
Nghi Thiết, huyện Nghi Lộc.
4
Hai là, tìm hiểu quá trình thích nghi với địa bàn cư trú của cộng đồng
cư dân này thông qua các đặc điểm về kinh tế, văn hóa, xã hội của cộng đồng.
Ba là, chỉ ra những biến đổi trong đời sống kinh tế, văn hóa, xã hội
của cư dân đóng tàu thuyền.
3. Câu hỏi nghiên cứu
- Cư dân đóng tàu thuyền sống và thích nghi với biển như thế nào (các
hoạt động sinh kế, tổ chức xã hội, đời sống văn hóa, tín ngưỡng, tâm linh, ảnh
hưởng từ các cộng đồng cư trú xung quanh)?
- Để gìn giữ và phát huy nghề nghiệp truyền thống mà cha ông để lại,
cư dân đóng tàu thuyền có được những thuận lợi nào và gặp phải những khó
khăn ra sao?
- Trong bối cảnh tình hình chung của đất nước hiện nay, cư dân đóng
tàu thuyền đã có những động thái như thế nào để gìn giữ những giá trị truyền
thống do cha ông truyền lại và hội nhập với bối cảnh xã hội đương đại?
4. Đối tượng, phạm vi và địa bàn nghiên cứu
Luận văn nghiên cứu về một số khía cạnh trong đời sống của cư dân
đóng tàu thuyền (các hoạt động sinh kế, sinh hoạt văn hóa và tổ chức xã hội).
Địa bàn nghiên cứu là xã Nghi Thiết, huyện Nghi Lộc, tỉnh Nghệ An.
Nghề đóng tàu, thuyền là hoạt động kinh tế chính của cư dân tại đây. Tại địa
bàn nghiên cứu nghề đóng tàu thuyền đã có lịch sử hơn 700 năm, trải qua
nhiều thế hệ lao động, nghề được duy trì đến ngày nay, với 13 xưởng sản
xuất, có hàng trăm lao động đang làm việc đều cư trú tại địa bàn.
Về phạm vi nghiên cứu, luận văn nghiên cứu cuộc sống hiện nay của
người làm nghề đóng tàu. Năm 1991 là thời kỳ hợp tác xã đóng tàu theo cơ
chế bao cấp nhà nước giải tán, sau đó các xưởng sản xuất tư nhân lần lượt
cư dân đóng tàu về những trăn trở, suy nghĩ của họ trong việc theo đuổi nghề
nghiệp và gìn giữ những giá trị văn hóa, lịch sử của địa phương. Cuối cùng,
6
luận văn đề xuất một số kiến nghị để các cấp chính quyền có sự quan tâm, tạo
điều kiện để cư dân đóng tàu gìn giữ và phát triển đời sống kinh tế, văn hóa,
xã hội.
7. Bố cục của luận văn
Ngoài phần dẫn luận và kết luận, luận văn được chia làm 3 chương:
Chương 1. Tổng quan nghiên cứu, cơ sở lý thuyết, phương pháp và
địa bàn nghiên cứu.
Chương 2. Đời sống kinh tế của cư dân đóng tàu, thuyền ở xã Nghi
Thiết.
Chương 3. Đời sống tinh thần và các vấn đề xã hội của cư dân đóng
tàu, thuyền ở xã Nghi Thiết
7
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. A.A. Belik (2000), Văn hóa học những lý thuyết nhân học văn hóa, Tạp
chí Văn hóa nghệ thuật, Hà Nội.
2. Trần Thị Mai An (2010), “Phác thảo yếu tố biển trong văn hóa Việt Nam”,
Tạp chí Khoa học và công nghệ, Đại học Đà Nẵng, số 6, tr 90 - 95.
3. Ban quản lý di tích lịch sử xã Nghi Thiết (2015), Tham luận “Sự hình
thành làng, xã Nghi Thiết”, in trong “Nghi Thiết trong tâm hồn xứ Nghệ”,
Nxb Nghệ An, Nghệ An.
4. Nguyễn Đổng Chi (chủ biên) (1995), Địa chí văn hoá dân gian Nghệ Tĩnh,
Nxb Nghệ An.
15. Trần Hoàng (2010), Sinh hoạt văn hoá dân gian cổ truyền làng biển Cảnh
Dương, Nxb Văn hoá Thông tin, Hà Nội.
16. Nguyễn Thanh Hùng (2015), Nghi Thiết trong tâm hồn xứ Nghệ, Nxb
Nghệ An, Nghệ An.
17. Jean Pierre Olivier De Sardan (2008), Nhân học phát triển lý thuyết,
phương pháp và kỹ thuật nghiên cứu điền dã, Nxb Khoa học xã hội, Hà
Nội.
18. Phạm Thanh Khiết (2005), “Chuyển dịch cơ cấu kinh tế nhằm tạo việc
làm cho ngư dân ven biển Miền Trung”, Tạp chí Nghiên cứu Kinh tế, số 6,
tr 57 - 66.
19. Nguyễn Văn Kim (chủ biên) (2011), Người Việt với biển, Nxb Thế giới,
Hà Nội.
9
20. Khiếu Thị Mai Lan (2014), Bảo tồn và phát triển nghề đóng tàu, thuyền
làng Cống Mương (khu 8, phường Long Hải, đảo Hà Nam, thị xã Quảng
Yên, tỉnh Quảng Ninh), khóa luận tốt nghiệp trường Đại học Khoa học xã
hội và nhân văn- Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội.
21. Nguyễn Ngọc Lan (2003), “Vai trò giới trong sản xuất và kiểm soát
nguồn lực của cộng đồng ngư dân ở Quảng Ninh (Trường hợp xã Hùng
Thắng - TP Hạ Long và xã Quan Lạn - huyện Vân Đồn)”, Tạp chí Nghiên
cứu Đông Nam Á, số 6, tr 40 - 45.
22. Trần Hồng Liên (2004), Cộng đồng ngư dân Việt ở Nam Bộ, Nhà xuất bản
Khoa học xã hội, Hà Nội.
23. Dương Hoàng Lộc 2013), “Diện mạo văn học dân gian của cộng đồng
ngư dân vùng ven biển Bến Tre”, trên trang .
24. Nguyễn Xuân Mai - Nguyễn Duy Thắng (2011), “Sinh kế của cộng đồng
ngư dân ven biển: thực trạng và giải pháp”, Tạp chí Xã hội học, số 4, tr 54
- 66.
37. Nguyễn Duy Thiệu (2007), “Suy ngẫm về văn hóa biển ở Việt Nam”, Tạp
chí Di sản văn hóa, số 1, tr 53 - 56.
38. Ngô Đức Thịnh (2004), “Tiểu vùng văn hóa xứ Nghệ”, Tạp chí Dân tộc
học, số 3, tr 12 - 25.
39. Ngô Đức Thịnh (2010), “Truyền thống văn hóa biển cận duyên của người
Việt”, trên trang .
40. Phạm Thanh Thôi (2007), “Nhận diện mấy đặc trưng về văn hóa biển”,
trên trang .
11
41. Hà Xuân Thông (2003), Đặc điểm của các cộng đồng dân cư ven biển ở
Việt Nam, Báo cáo tại khóa tập huấn Quốc gia về quản lý khu bảo tồn
biển, Nha Trang.
42. Lê Minh Thông (2012), Giải pháp chính sách phát triển kinh tế ven biển
của tỉnh Thanh Hóa, Luận án tiến sĩ Kinh tế, trường Đại học kinh tế quốc
dân, Hà Nội.
43. Đào Tam Tỉnh, Nguyễn Doãn Hương (2011), “Làng nghề đóng thuyền
Trung Kiên (Nghi Lộc)”, trên trang .
44. Vũ Thị Hoài Thu (2013), Sinh kế bền vững vùng ven biển đồng bằng sông
Hồng trong bối cảnh biến đổi khí hậu: Nghiên cứu điển hình tại tỉnh Nam
Định, Luận án Tiến sĩ Kinh tế, Trường Đại học Kinh tế Quốc dân, Hà Nội.
45. Vũ Từ Trang (2007), Nghề cổ đất Việt, Nxb Văn hóa thông tin, Hà Nội.
46. Nguyễn Thế Tràm (chủ biên) (2010), Các giải pháp giải quyết việc làm
cho ngư dân các tỉnh duyên hải miền Trung, Nxb Thông tin và Truyền
thông, Hà Nội.
47. Phạm Văn Tuấn (2007), Các loại hình làng ven biển ở huyện Hậu Lộc,
tỉnh Thanh Hóa, in trong Kỷ yếu hội nghị “Thông báo dân tộc học năm
2006”, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội.