SỰ RA ĐỜI CỦA CHI BỘ ĐẢNG CỘNG SẢN ĐÔNG DƯƠNG
Ở XÃ MÔN SƠN, HUYỆN CON CUÔNG, TỈNH NGHỆ AN.
VÌ VĂN KIM
Trưởng Ban Tuyên giáo
Huyện uỷ Con Cuông, Nghệ An.
Con Cuông là huyện miền núi vùng cao nằm về phía Tây Nam của tỉnh Nghệ An,
phía Nam giáp huyện Anh Sơn, Đông giáp huyện Tân Kỳ, Quỳ Hợp, Tây Bắc giáp huyện
Tương Dương, Tây Nam giáp nước Cộng hoà dân chủ nhân dân Lào, có đường biên giới
quốc gia chung là 55,5 km.
Dân số toàn huyện hiện nay có 66 700 người, bao gồm 6 dân tộc anh em cùng
chung sống, trong đó dân tộc Thái đông nhất chiếm 63%, còn lại của huyện là dân tộc
Kinh, Thổ, Tày, Nùng và Hoa.
Huyện có 13 xã và 1 thị trấn, chia thành 2 vùng: Vùng hữu ngạn gồm các xã: Môn
Sơn, Lục Dạ, Yên Khê, Bồng Khê, Thị trấn, Chi Khê, Châu Khê và một phần lớn xã
Lạng Khê; vùng tả ngạn gồm các xã: Mậu Đức, Cam Lâm, Thạch Ngàn, Đôn Phục và xã
Bình Chuẩn.
Kinh tế Con Cuông phát triển theo cơ cấu: Nông-lâm-TTCN-DVTM và du lịch,
trong đó nông lâm nghiệp chiếm 65%. Diện đói nghèo (theo tiêu chí hiện nay) còn
17,3%.
Có 42 tổ chức cơ sở Đảng trực thuộc với trên 3000 Đảng viên (có 202 chi bộ trực
thuộc cơ sở).
Thời kỳ Pháp thuộc, cũng như các xã miền núi khác của Tây Nghệ An, Con Cuông
là huyện nằm trong chế độ bảo hộ của Trung Kỳ, chịu hình thức cai trị của thực dân,
phong kiến thông qua chính sách “bảo hộ”. Ở miền núi, thực dân Pháp dùng chế độ cai trị
bằng “Thổ quan” thay cho “Lưu quan”, duy trì, nuôi dưỡng bộ máy quan lại, chức dịch
người dân tộc thiểu số để cai trị dân tộc mình. Đứng đầu Phủ, Huyện là các Tri Phủ, Tri
huyện (thời Pháp thuộc, Con Cuông nằm trong phủ Tương Dương) và các chức dịch như:
đề lại, thừa thái, lính khố xanh, lính lệ…, dưới huyện là các tổng, đứng đầu các tổng có
Chánh tổng, Phó tổng; cấp xã có Lý trưởng, phó lý, giúp việc có ngũ hương (hương kiểm,
hương bản, hương mục, hương hộ, hương lâm).
Về kinh tế: Cùng với việc thiết lập bộ máy thống trị thực dân, giai cấp phong kiến
nguyện rời quê hương lên đường ra nhập đội quân hưởng ứng chiếu Cần Vương chống
Pháp. Được sự giác ngộ của một số chiến sỹ cách mạng, trên đường sang nước Lào, Thái
Lan đã dừng chân lại đất Môn Sơn. Tư tưởng của các đồng chí đã ảnh hưởng đến nhân
dân các dân tộc, làm cho họ giác ngộ. Một số thanh niên có học vấn, có tinh thần yêu
nước như: Vi Văn Khang, Vi Văn Hạnh, Ngân Văn Quý đã cùng nhau bàn bạc có ý
định thành lập chính quyền cách mạng Môn Sơn ngay từ những năm 1930-1931. Nhưng
do nhiếu yếu tố khách và chủ quan nên chưa có điều kiện để thực hiện.
Đầu năm 1931, đồng chí Lê Xuân Đào, cán bộ Xứ uỷ Trung Kỳ, và
đồng chí Lê Mạnh Duyệt được cử đến Môn Sơn xây dựng cơ sở Đảng.
Thời cơ đến, được sự chỉ đạo của Xứ uỷ, Tỉnh uỷ, Phủ uỷ Anh Sơn, tháng 4/1931,
chi bộ Đảng Môn Sơn được thành lập, gồm có 5 đồng chí:
Vi Văn Khang
Vi Văn Hanh
Lê Mạnh Duyệt
Ngân Văn Quý
Trần Ngân
Đồng chí Vi Văn Khang làm Bí thư chi bộ, đồng chí Lê Mạnh Duyệt làm chỉ huy
đội tự vệ đỏ.
Để đảm bảo an toàn chi bộ thường họp vào ban đêm (nhà đồng chí Vi Văn Khang
là nơi hội họp, trao đổi của chi bộ), ban ngày vào tận rừng sâu, nơi kín đáo để làm việc,
thường xuyên thay đổi địa điểm nhưng chủ yêu là cánh rừng bản Mon (nay là bản Thái
Hoà- Môn Sơn). Vợ của đồng chí Vi Văn Hanh, Vi Văn Khang được giao nhiệm vụ bảo
vệ, liên lạc; bí mật đưa cơm nước phục vụ cho các đồng chí làm việc ở trong rừng.
Sự ra đời của chi bộ Đảng ở Môn Sơn, huyện Con Cuông là do có sự chỉ đạo của
Xứ uỷ Trung Kỳ, Tỉnh Uỷ Nghệ An, Phủ uỷ Anh Sơn và các chiến sỹ cách mạng đã từng
sang Lào, Thái Lan trở về nước xây dựng cơ sở.
Sau khi thành lập, chi bộ xúc tiến các hoạt động tuyên truyền, tổ chức quần chúng.
Chỉ trong một thời gian ngắn, các tổ Nông hội đỏ đã hình thành ở các làng trong xã như:
Làng Mon, làng Bầu, làng Đồng Khùa, Cửa Rào, Kẻ Tại, làng Yên, Cồn Chùa. Tổ chức
phụ nữ cũng đã được gây dựng để vận động chị em tham gia cách mạng. Chi bộ trực tiếp
hào cho các dân tộc trong toàn quốc; đồng thời thể hiện bước phát triển quan trọng
của cao trào cách mạng 1930-1931 ở Nghệ Tĩnh, đó là: dưới sự lãnh đạo của Đảng,
cuộc đấu tranh cách mạng đã lan rộng từ miền xuôi lên miền núi, đồng bào Kinh và
đồng bào Thượng ngày càng thắt chặt hơn mối đoàn kết trong bước đường đấu tranh
cách mạng chống áp bức, bóc lột của thực dân phong kiến.
PHONG TRÀO CÁCH MẠNG Ở CAO BẰNG TRONG NHỮNG NĂM
1930-1941 LÀ NƠI TỐT NHẤT ĐỂ ĐÓN BÁC HỒ VỀ NƯỚC.
Sau hơn 30 năm bôn ba nước ngoài tìm con đường cứu nước, ngày 28/1/1941 (tức
ngày mồng 2 Tết năm Tân Tị), đồng chí Nguyễn Ái Quốc về nước trực tiếp lãnh đạo cách
mạng Việt Nam. Đồng chí đi qua cột mốc biên giới Việt Trung số 108 cùng với Lê
Quảng Ba, Phùng Chí Kiên, Hoàng Văn Lộc, Đặng Văn Cáp, Thế An.
Nơi Bác đặt bước chân đầu tiên khi trở về là Pác Bó (Nghĩa là Đầu nguồn nước);
nơi ấy có một dòng suối lớn, nước trong vắt, thoát từ lòng núi đá, Bác đặt tên là Suối Lê-
nin; hang đá Bác Hồ ở là hang Cốc Bó, ẩn trong một ngọn núi đá cao, Bác đặt tên là núi
Các Mác.
Việc Bác ở Pác Bó nói riêng và ở Cao Bằng nói chung khi ấy là rất thuận lợi, bởi
Cao Bằng là một trong những căn cứ địa vững chắc của cách mạng lúc đó.
Dân số Cao Bằng khi ấy là bao nhiêu, không có số liệu chính xác, chỉ biết hội viên
các Hội cứu quốc của Việt Minh khi ấy vẫn hát “Vỉ noong Cao Bằng hây mi cẩu vạn
đồng bào gần lầu gụng chắc… (Nghĩa là: Anh em Cao Bằng ta có chín vạn đồng bào,
chúng ta ai cũng biết).
Đồng chí Nguyễn Ái Quốc về Nước theo hướng Cao Bằng bởi thời điểm ấy, Cao
Bằng có phong trào sâu rộng, vững chắc.
Nhìn lại trong thời kỳ cách mạng 1930-1931, phong trào Xô Viết Nghệ Tĩnh dâng
cao, rạng rỡ chói lọi, một cao trào yêu nước theo tư tưởng giai cấp vô sản làm nức lòng
người.
Nhưng sau đó, thực dân Pháp áp dụng chính sách khủng bố tàn bạo, bên cạnh đó
còn dùng thủ đoạn phỉnh phờ mị dân, sử dụng các tổ chức và tư tưởng văn hoá vào việc
chống lại ảnh hưởng của trào lưu cách mạng vô sản.
của Đảng (đóng tại Thượng Hải) – tức là Ban chấp hành trung ương lâm thời của Đảng –
công nhận. Ban Tỉnh uỷ chính thức được thành lập, bao gồm: đồng chí Tú Hưu (làm bí
thư), Bác Vọng, Nam Cao.
Sau đó, các Ban châu uỷ, Tổng uỷ lần lượt thành lập.
Từ năm 1940 trở về trước, có thể kể một số hoạt động của phong trào cách mạng
sau đây:
-Năm 1932, tích cực xây dựng tờ báo Cờ đỏ, là công cụ tuyên truyền, tổ chức của
Đảng bộ Cao Bằng.
-Tổ chức cuộc biểu tình chống thuế trước Tri châu và Tuần phủ (5/1932) thắng lợi.
-Xây dựng tổ đúc tạc đạn, mìn (1932).
-Rải truyền đơn ở Nước Hai và nhiều nơi, kỷ niệm Xô Viết Nghệ Tĩnh (5/1934).
-Bảo vệ nuôi giấu cán bộ hoạt động bị lộ, bị truy nã (6/1932)
-Bố trí đảng viên bảo vệ đồng chí Hoàng Đình Giong đi dự Đại hội lần thứ nhất
của Đảng tháng 3/1935 tại Macao (Trung Quốc).
-Bảo vệ, nuôi giấu cán bộ (trung ương và địa phương) trong vụ đế quốc khủng bố
tháng 8/1935.
-Tổ chức bảo vệ đồng chí Hoàng Đình Giong, uỷ viên Trung ương Đảng về Hải
Phòng tiếp tục công tác (31/1/1936); sau đó đồng chí bị bắt và bị tù đày.
-Củng cố tổ chức các đoàn thể các giới trong Mặt trận thống nhất dân chủ Đông
Dương (theo tinh thần hội nghị tháng 7/1936 của Ban chấp hành trung ương Đảng Cộng
sản Đông Dương do đồng chí Lê Hồng Phong chủ trì).
-Biểu tình đòi cử đại biểu tham gia Đông Dương đại hội (8/19360).
-Cuộc biểu tình biểu dương lực lượng đón Gô-da (đặc phái viên của chính phủ mặt
trận bình dân Pháp) (2/1937).
-Biểu tình chống bắt phu vào ngày mùa và đòi trả tiền trước khi đi phu (4/1937).
-Hưởng ứng truyền bá quốc ngữ và đọc sách báo tiến bộ (1938).
-Đồng bào Mông đấu tranh và biểu tình chống thuế (5/1938).
-Vận động ủng hộ người Hoa tị nạn (7/1938).
-Biểu tình của dân phu Nặm Vang đòi quyền lợi (1938).
-Biểu tình đấu tranh đòi giảm thuế, chống phụ thu lạm bổ (6/1939).
ta là đồng chí Lê Hồng Phong và Minh Khai. Thời gian này ở Liên Xô, Bác có vào học
trường Lê-nin một thời gian.
Cuối năm 1938, Bác trở về Trung Quốc, vào Bát lộ quân (Hồng quân Trung
Quốc), Bác theo một đơn vị đẩy một xe bò từ Tây An đi Biên An ròng rã bốn, năm ngày
mới tới. Bác ở Diên An không lâu. Hồi ấy, Quốc dân đảng và Cộng sản đảng hợp tác,
Tưởng Giới Thạch đề nghị Đảng Cộng Sản cử một đoàn cố vấn xuống Hành Dương huấn
luyện cho quân đội Tưởng về chiến tranh du kích. Đồng chí Diệp Kiếm Anh phụ trách
đoàn cố vấn ấy. Bác phụ trách công tác Đảng trong Đoàn. Sau đó Bác xuống Liễu Châu,
Quốc Lâm…
Tháng 2/1940, Bác về Côn Minh (Vân Nam) đóng vai một giáo quan cấp thiếu tá
của quân đội ở cơ quan của Bát lộ quân. Nhưng Bác thường lui tới chỗ đồng chí Phùng
Chí Kiên để chỉ đạo công tác của Ban hải ngoại. Bác gặp các đồng chí Lâm Bá Kiệt
(Phạm Văn Đồng), Dương Hoài Nam (Võ Nguyên Giáp)…Bác kiểm tra tình hình các tổ
chức cách mạng Việt Nam ở Quảng Tây, Vân Nam, gặp gỡ cán bộ từ trong nước sang, cử
1
Tên đ úng là Hoà ng Đình Giong.
người đi dự các lớp huấn luyện do Đảng Cộng Sản Trung Quốc mở, chuẩn bị điều kiện
để trở về hoạt động nội địa.
Và điều kiện đó đã đến vào giữa năm 1940, ấy là lúc đế quốc Pháp đầu hàng phát
xít Đức. Bác chỉ thị cho các cán bộ Việt Nam đang ở Côn Minh, sau khi đã bắt liên lạc
với Trung ương Đảng ở trong nước, chuẩn bị địa điểm, lương thực…và kế hoạch mọi mặt
để vượt biên giới về nước sau khi Bác đi Trùng Khánh về.
Cuối tháng 9/1940, sau khi đã tập hợp được tin tức thế giới (Qua tài liệu Đảng
Cộng sản Trung Quốc, Quốc dân đảng Trung Quốc), Bác nhận định Đức sẽ tấn công
Liên Xô, Nhật, Pháp ở Đông Dương sớm muộn sẽ bắn nhau và “ Việt Nam sẽ giành được
độc lập”.
Cuối tháng 11/1940, qua báo chí ở Quế Lâm (Quảng Tây, Trung Quốc), có tin
Nam Kì khởi nghĩa, Bác nhận định: “Tình hình chung thế giới và Đông Dương ngày càng
hơn 40 chục anh em ra khỏi trường quân sự Tĩnh Tây (của Trương Bội Công).
Anh em về Nặm Quang, thuộc hướng Bình Văn, Tĩnh Tây, Quảng Tây, Trung
Quốc, dự lớp huấn luyện do đồng chí Nguyễn ái Quốc cùng các đồng chí Lâm Bá Kiệt,
Phùng Chí Kiên, Dương Hoài Nam giảng bài. Nội dung huấn luyện gồm các bài: tình
hình thế giới và trong nước, chủ trương thành lập các hội cứu quốc các giới và việc thành
lập Mặt trận Việt Minh, cùng các bước tổ chức và vận động quần chúng tham gia hội cứu
quốc v.v…
Gần đến tết năm mới (Tân Tị) thì lớp học bế mạc. Anh em học viên quê đâu về
đấy ăn tết với địa phương, bám sát phong trào, bắt tay vào việc thí điểm tổ chức Việt
Minh.
Ngày mồng hai tết Tân Tị (dương lịch là ngày28/01/1941) đồng chí Nguyễn ái
Quốc rời Nặm Quang về nước, qua cột mốc biên giới 108 cùng năm đồng chí Lê Quảng
Ba, Phùng Chí Kiên, Hoàng Văn Lộc, Đặng Văn Cáp và Thế An, đã nói trên kia.
*
Qua cột mốc 108 Nguyễn Ái Quốc cùng năm cán bộ đặt chân lên mảnh đất Tổ
Quốc thiêng liêng, khởi đầu là Pác Bó, mảnh đất quê hương của người Nùng, Cao Bằng.
Lê Quảng Ba đưa cụ Ké (Ké: già) tức đồng chí Nguyễn Ái Quốc về nghỉ tại nhà
ông Máy Lì, người dân tộc Nùng, họ Lý, nhà có hai gian cũ và mới cơi thêm một gian
mới để đón khách. Khách chủ cùng quây quần bên mâm cơm tết của gia đình họ Lý. Sau
bữa cơm tuy chủ nhà đã thu xếp chỗ ở, ăn nghỉ, làm việc cho đoàn cán bộ nhưng cụ Ké
lại bảo Lê Quảng Ba: “Ta có nhiều người ở lại nhà ông Máy Lì làm phiền chủ nhà quá,
thôi nên dứt khoát sáu sán thôi”. Sáu sán, tiếng Nùng, cụ Ké đã học được, có nghĩa là
vào rừng mà ở. Sáu sán gốc chữ là Thu Sơn, nên cán bộ địa phương thường gọi đồng chí
Nguyễn Ái Quốc là Thu Sơn, cụ Ké, già Thu.
Sáng sớm hôm sau, ông Máy Lì dẫn cụ Ké và mấy anh em cán bộ lên hang Cốc
Bó.
Trước cảnh sắc một sáng xuân của Tổ Quốc, Bác ngâm khe khẽ bài thơ mới sáng
tác:
Non xa xa, nước xa xa
Nào phải thênh thang mới gọi là…
Đồng chí Nguyễn Ái Quốc lấy danh nghĩa Đại diện Quốc tế cộng sản triệu tập hội
nghị Trung ương Đảng lần thứ 8. Hội nghị khai mạc vào buổi sáng ngày 10/5/1941 ở một
căn lán trên dòng Khuổi Nặm. Lán làm rất đơn sơ, trên che lá đùng đình, dưới lót một ít
tấm ván để Nguyễn Ái Quốc và các đồng chí ngồi họp. Đồng chí Nguyễn Ái Quốc chủ
tọa hội nghị.
Đồng chí Nguyễn Ái Quốc mở đầu vài câu rồi Hội nghị đi vào nhận định tình hình
thế giới, tình hình trong nước và đề ra những chủ trương nhiệm vụ mới cho cách mạng
Việt Nam, hoàn chỉnh đường lối cách mạng giải phóng dân tộc mà mấy hội nghị trước đã
đề ra.
Đây là một hội nghị có một tầm quan trọng lịch sử. Hội nghị đã quyết định chính
sách mới của đảng, đặt vấn đề giải phóng dân tộc thành nhiệm vụ trung tâm và cấp thiết
của toàn dân và đề ra chủ trương tổ chức Việt Nam độc lập đồng minh, xây dựng các căn
cứ địa cách mạng, xây dựng và phát triển các lực lượng vũ trang, chuẩn bị vũ trang khởi
nghĩa.
Sau hội nghị, đồng chí Nguyễn ái Quốc tự tay thảo ra bức thư nhân danh cá nhân
kêu gọi đồng bào “ Kính cáo đồng bào thư” ký tên Nguyễn ái Quốc. Bức thư ấy viết
bằng chữ Nôm, chữ viết rất đẹp. Bức thư rất sát tâm lý đồng bào nông thôn, khiến cho ai
đọc thư, nhất là các cụ phụ lão, cũng phải gật gù thích lắm, càng thêm tin tưởng.
Năm 1911, rời Tổ Quốc ra đi từ phía Nam, tìm đường cứu nước, ba mươi năm sau,
năm 1941, đồng chí Nguyễn ái Quốc trở về Tổ Quốc từ phía Bắc. Ngày nay, đất nước độc
lập, thống nhất toàn vẹn, đều bắt đầu từ cái mốc mùa xuân Tân Tị (1941), có đồng chí
Nguyễn ái Quốc, người sáng lập, rèn luyện Đảng ra, lãnh đạo dân tộc giành được những
thắng lợi huy hoàng.
TÀI LIỆU THAM KHẢO:
- Đầu nguồn, Tập hồi ký, NXB Văn học, 1975.
- Địa chí Cao Bằng, Tỉnh uỷ UBND tỉnh Cao Bằng, NXB Chính trị Quốc
gia, 1982.
- Lịch sử Đảng bộ tỉnh Cao Bằng, Tập I (sơ thảo), Ban nghiên cứu lịch sử
Đảng Cao Bằng, 1984.
- Lịch sử Đảng bộ huyện Hoà An, Tập I (1930-1945), Ban chấp hành đảng