Nghiên cứu phân bố và đặc điểm lâm học của loài Pơ mu (Fokienia hodginsii (Dunn) A. Henry et Thomas) tại Vườn quốc gia Pù Mát thuộc huyện Con Cuông tỉnh Nghệ An. - Pdf 29

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
o0o

NGUYỄN VĂN ĐÔ Chuyên đề:

NGHIÊN CỨU PHÂN BỐ VÀ ĐẶC ĐIỂM LÂM HỌC CỦA
LOÀI PƠ MU (FOKIENIA HODGINSII (DUNN) A. HENRY
ET THOMAS) TẠI VƯỜN QUỐC GIA PÙ MÁT THUỘC
HUYỆN CON CUÔNG – TỈNH NGHỆ ANCHUYÊN ĐỀ KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP Hệ đào tạo : Chính quy
Chuyên ngành : Lâm nghiệp
Khoa : Lâm nghiệp
Khóa học : 2012 – 2014 Thái Nguyên, năm 2014
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
o0o


Nguyễn Văn Đô
LỜI CẢM ƠN

Để hoàn thành chương trình đào tạo Đại học chuyên ngành lâm nghiệp
(Hệ liên thông), tại trường Đại học Thái Nguyên, tôi xin chân thành cảm ơn đến:
Quý thầy cô giáo trường Đại học Thái Nguyên, Khoa Lâm Nghiệp
Ban giám hiệu nhà trường đã tận tình giảng dạy và tạo điều kiện thuận
lợi cho tôi trong suốt thời gian khoá học.
Ban lãnh đạo VQG Pù Mát đã tạo điều kiện thuận lợi về vật chất lẫn
tinh thần trong suốt quá trình học tập để tôi đạt được kết quả này.
Tập thể cán bộ kiểm lâm các trạm và đồn biên phòng 551 đã tạo điều
kiện thuận lợi cho tôi trong quá trình điều tra hiện trường, thu thập số liệu
phục vụ cho quá trình nghiên cứu.
Đặc biệt, tôi xin trân trọng cảm ơn.TS. Hồ Ngọc Sơn đã dành nhiều
thời gian quý báu, tận tình hướng dẫn tôi trong suốt thời gian thực tập và hoàn
thành đề tài này.
Cám ơn gia đình và những người thân, bạn bè đã giúp đỡ về mọi mặt để
tôi hoàn thành được khoá học này.
Do thời gian có hạn, trình độ chuyên môn còn hạn chế và bản thân mới
bước đầu làm quen với công tác nghiên cứu khoa học, nên đề tài không tránh
khỏi những thiếu sót. Kính mong quý thầy, cô giáo và bạn bè quan tâm góp ý
để đề tài được hoàn thiện hơn.
Xin chân thành cảm ơn!
Thái nguyên, ngày 25 tháng 5 năm 2014
Sinh viên Nguyễn Văn Đô



Bảng 2.5. Cơ sở giáo dục phân theo huyện, tính đến năm 2004 19

Bảng 2.6.Tình hình đường điện lưới trên các xã 20

Bảng 2.7. Cơ sở y tế năm 2004 phân theo huyện 21

Bảng 2.8. Giường bệnh năm 2004 phân theo huyện 21

Bảng 2.9. Các kiểu thảm thực vật VQG Pù Mát 22

Bảng 2.10. Các taxon thực vật có mạch ở VQG Pù Mát 23

Bảng 4.1: Khu vực phân bố loài Pơ mu theo đài cao tại Vườn quốc gia
Pù Mát 34

Bảng 4.2. Tổng hợp loài cây Pơ mu phân bố nhiều tại tuyến Khe Thơi 34

Bảng 4.3. Tổng hợp loài cây Pơ mu phân bố trung bình tại tuyến Tam Đình -
Tam Hợp 35

Bảng 4.4. tổng hợp loài cây Pơ mu phân bố ít tại tuyến Khe Bu 35

Bảng 4.5: Tổng hợp kết quả điều tra Pơ mu theo tuyến tại khu vực
nghiên cứu 33

Bảng 4.6: Số cây theo cấp kính (N/D) của loài Pơ mu và tổng thể 37

Bảng 4.7: Cấp chiều cao (N/Hvn) của Pơ mu và lâm phần 38


1.4.1. Ý nghĩa học tập 3
1.4.2. Ý nghĩa trong nghiên cứu khoa học 3
1.4.3. Ý nghĩa thực tiễn 3
Phần 2: TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 4
2.1. Các nghiên cứu trên thế giới 4
2.1.1. Nghiên cứu về sinh học, sinh thái loài Pơ mu 4
2.1.2. Nghiên cứu về nhân giống loài Pơ mu 5
2.2. Các nghiên cứu ở Việt nam 5
2.2.1. Nghiên cứu về sinh học, sinh thái loài Pơ mu 5
2.2.2. Nghiên cứu về nhân giống loài Pơ mu 9
2.3. Thảo luận 10
2.4. Tổng quan về điều kiện tự nhiên, dân sinh, kinh tế khu vực nghiên cứu 10
2.4.1. Điều kiện tự nhiên 10
2.4.2. Điều kiện kinh tế - xã hội 17
2.4.3 Nguồn tài nguyên rừng ở Vườn quốc gia Pù Mát 22
Phần 3: MỤC TIÊU - NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP
NGHIÊN CỨU 28
3.1. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 28
3.1.1. Đối tượng nghiên cứu 28
3.1.2. phạm vi nghiên cứu 28
3.2. Địa điểm và thời gian thực tập 28
3.3. Nội dung nghiên cứu 28
3.3.1 Phương pháp kế thừa tài liệu 29
3.3.2 Phương pháp điều ngoại nghiệp 29
3.3.3 Phương pháp nội nghiệp 31
3.3.4. Phương pháp phỏng vấn người dân 31
Phần 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 33
4.1. Đặc điểm phân bố của loài cây Pơ mu với các loài khác 33
4.1.1. Cấu trúc phân bố số cây theo cấp kính (N/D) của loài Pơ mu và
tổng thể 36

do vậy chúng đang bị khai thác cạn kiệt. Những cây ít giá trị hoặc chưa được
nghiên cứu cũng bị tàn phá nhường chỗ cho việc sản xuất nông nghiệp, công
nghiệp làm cho rừng không những suy thoái về số lượng mà cả chất lượng.
Bên cạnh đó, việc nghiên cứu gây trồng cây còn hạn chế chưa đáp ứng được
nhu cầu sử dụng của thị trường cũng là nguy cơ rất lớn đối với sự tồn tại và
phát triển của những loài cây quý hiếm trong tự nhiên.
Để khắc phục tình trạng suy thoái rừng, trong những năm qua Đảng và
Nhà nước ta cùng với người dân đã có hàng loạt các biện pháp bảo vệ rừng và
tài nguyên rừng. Bên cạnh các văn bản pháp luật chúng ta áp dụng hàng loạt
các biện pháp như: Khoanh nuôi bảo vệ, sử dụng tài nguyên hợp lý, gây trồng
rừng… Trong các biện pháp đó thì việc trồng rừng và làm giàu rừng bằng cây
bản địa đang được phổ biến trên toàn quốc đặc biệt ở các khu vực có rừng.
Tại Vườn quốc gia Pù Mát trước đây là một trong những Vườn quốc
gia có giá trị dạng sinh học cao của Việt Nam; thành phần động, thực vật
phong phú, đa dạng. Tuy nhiên, trong những năm gần đây tình trạng khai thác
gỗ, săn bắt trái phép làm cho số lượng các loài giảm sút nghiêm trọng đó có
những loài quí hiếm đang bị đe doạ tuyệt chủng. Riêng về thực vật đã có hơn
50 loài nằm trong “Sách Đỏ Việt Nam” và danh sách thực vật bị đe doạ trên
thế giới cần được bảo tồn. Trong số hơn 50 loài thực vật nguy cấp, quý hiếm
có loài Pơ mu (Fokienia hodginsii (Dunn) A. Henry et Thomas) thuộc họ
Hoàng đàn (Cupressaceae) cũng đang đứng trước nguy cơ đó, là loài phân bố
rất hẹp ở Vườn quốc gia Pù Mát loài cây này không chỉ có ý nghĩa về mặt
khoa học mà còn có giá trị kinh tế rất cao. Pơ mu là một trong những loài suy
2

giảm mạnh về số lượng nếu chúng ta không có những biện pháp tác động hiệu
quả loài cây này có thể bị tuyệt chủng trong tương lai.
Làm thế nào để duy trì sử dụng lâu bền tài nguyên rừng nói chung, Pơ
mu nói riêng? Vấn đề đặt ra là chúng ta cần nghiên cứu để bảo tồn loài.
Từ những vấn đề cấp thiết trên tôi thực hiện đề tài: “Nghiên cứu phân

- Củng cố được kiến thức cơ sở cũng như chuyên ngành, sau này có
điều kiện tốt hơn để phục vụ công tác phát triển ngành lâm nghiệp nước nhà.
- Giúp cho sinh viên bước đầu làm quen, hiểu thêm về kiến thức phục
cho công tác điều tra ngoài thực tế, vận dụng cả lý thuyết và thực hành nhằm
đạt kết quả và chất lượng cao trong quá trình học tập tại nhà trường.
- Qua nghiên cứu đề tài để làm tiền đề cho mỗi sinh viên sau khi ra
trường nắm được một số kiến thức vững vàng bước sang giai đoạn phục vụ
Đảng, Nhà nước trên các cương vị khác nhau.
1.4.2. Ý nghĩa trong nghiên cứu khoa học
- Tạo điều kiện cho sinh viên được tiếp xúc, làm quen với thực tế công
tác nghiên cứu khoa học.
- Góp phần hoàn chỉnh dữ liệu khoa học về việc nghiên cứu chuyên sâu
loài cây quý hiếm Pơ mu.
- Qua kết quả nghiên cứu làm cơ sở khoa học để lựa chọn các giải pháp bảo
tồn và phát triển loài Pơ mu.
1.4.3. Ý nghĩa thực tiễn
- Trên cơ sở việc nghiên cứu phân bố và đặc điểm lâm học của Pơ mu
xác lập cụ thể các tiểu khu có Pơ mu phân bố và giao cho các trạm quản lý
bảo vệ rừng tại Pơ mu tại Vườn quốc gia Pù Mát. Từ đó, đưa ra các giải pháp
bảo tồn và phát triển loài cây Pơ mu.
4

Phần 2
TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

2.1. Các nghiên cứu trên thế giới
2.1.1. Nghiên cứu về sinh học, sinh thái loài Pơ mu
Cây Pơ mu đã được nghiên cứu khá kỷ lưỡng về mặt phân loại thực vật
và phân bố trên thế giới: Chi Pơ mu (danh pháp khoa học: Fokienia) là một
chi trong họ Hoàng đàn (Cupressaceae). Trong các đặc trưng của nó, chi

đới. Odum E.P (1971) đã nghiên cứu các vấn đề về sinh thái nói chung và
sinh thái trong rừng mưa nhiệt đới làm cơ sở khoa học cho việc nghiên cứu
sinh thái loài và cấu trúc rừng. Nghiên cứu tái sinh tự nhiên rừng nhiệt đới
châu Á, Catinot (1965)cho thấy dưới tán rừng nhiệt đới nhìn chung có đủ số
lượng cây tái sinh. Tuy nhiên, những nghiên cứu về tái sinh này chỉ chú trọng
đến các phương thức tác động vào tái sinh nhằm thúc đẩy quá trình tái sinh
rừng đối với những loài cây có giá trị kinh tế chưa chú trọng đến các đối
tượng và mục tiêu bảo tồn. Chưa tìm thấy công trình nào nghiên cứu về sinh
thái quần thể có phân bố Pơ mu và mối quan hệ về phân bố, tái sinh của nó
với các nhân tố sinh thái.
2.1.2. Nghiên cứu về nhân giống loài Pơ mu
Các loài cây lá kim được nhiều nước trên thế giới tập trung nghiên cứu,
ứng dụng giâm hom nhằm phục vụ cho các chương trình trồng rừng dòng vô
tính đã được tuyển chọn. Riêng hai nước Australia và Newzeland sản xuất
hàng năm trên 10 triệu cây hom P.ridiata, Canada sản xuất hàng năm trên 3
triệu cây hom Vân sam đen (Picea mariana), Vân sam (Picea sitchensis)
được 3 nước trên tạo ra gần 4 triệu cây hom mỗi năm. Năm 1989, Nhật Bản
sản xuất 31,4 triệu cây hom Liễu sam (Crytomeris japonica). Vân sam Na Uy
(Picea abies) là loài cây lá kim cũng thu được những thành công trong việc
nhân giống bằng hom với số lượng lớn phục vụ công tác trồng rừng dòng vô
tính, nhất là ở châu Âu. Chỉ tính riêng một số cơ sở giâm hom chính của 11
nước mà hàng năm đã sản xuất gần 11 triệu cây hom. Qua trên 10 năm khảo
nghiệm ở Mỹ, mới đưa vào sản xuất đại trà cây Thông Noel (P. attenuata x P.
radiata) với các đặc tính tốt của cây trang trí, sinh trưởng nhanh, chịu lạnh,
chịu hạn (dẫn theo Nguyễn Hoàng Nghĩa, 2004).
2.2. Các nghiên cứu ở Việt nam
2.2.1. Nghiên cứu về sinh học, sinh thái loài Pơ mu
Nghiên cứu về cây Pơ mu trong nước trong thời gian qua chủ yếu tập
6


có giá trị, nên đã được xếp vào loại gỗ quý ở Việt Nam. Đầu năm 2009, nhà
khoa học người Mỹ Brendan Buckley ở Phòng thí nghiệm Vòng cây (Tree
7

ring Laboratory) của cơ quan nổi tiếng Lamont-Doherty Earth Observatory đã
cùng một đồng nghiệp Việt Nam tìm được trong rừng quốc gia Bidoup - Núi
Bà gần Đà Lạt ở tỉnh Lâm Đồng nhiều cây Pơ mu đã sống cách đây gần ngàn
năm. Các cây Pơ mu này thuộc một loài cây Pơ mu hiếm có nguy cơ tuyệt
chủng (ghi trong Sách Đỏ) gọi là Fokienia hodginsii (cây Pơ mu) . Từ các
mẫu lấy ở thân cây Pơ mu , ông Buckley đã tái tạo lại thời tiết gió mùa ở lục
địa Á châu trong quá khứ đến tận thế kỷ 14 và từ đó chứng minh là nền văn
minh Khmer rực rỡ ở Angkor đã sụp đổ vì nạn hạn hán và môi trường thủy
lợi. Đây là một khám phá quan trọng trong lịch sử khí hậu gió mùa và hiện
tượng khí hậu toàn cầu El Nino ở Đông Nam Á Mô tả thực vật học và phân bố
cây Pơ mu cho thấy cây mọc đứng, thân thẳng với tán tròn, cao tới 30 m và
đường kính ngang ngực tới 1,5 m hoặc hơn. Đây là loài duy nhất của chi này
và rất biến động về dạng lá tuỳ theo tuổi của cây và của cành. Pơ mu gặp
thành các khu rừng gần như thuần loài trên các dông núi đá vôi hoặc núi đất,
có khi mọc từng cá thể hoặc thành các đám nhỏ rải rác trên các sườn núi và
thung lũng trong rừng nguyên sinh rậm thường xanh cây lá rộng nhiệt đới gió
mùa núi thấp và núi trung bình (nhiệt độ trung bình năm 13 - 20 độ C, lượng
mưa trên 1800 mm) với các loài ưu thế thuộc họ Dẻ (Fagaceae), Re
(Lauraceae) và Ngọc lan (Magnoliaceae) (Kuznetsov, 2001). Ở các tỉnh phía
Nam loài này mọc cùng Hoàng đàn giả (Dacrydium elatum), Thông Đà Lạt
(Pinus dalatensis) và Thông lá dẹt (P. krempfii), ở các tỉnh miền Bắc và miền
Trung loài này gặp cùng với Sa mộc dầu (Cunninghamia konishii), Bách Đài
Loan (Taiwania cryptomerioides) và Thông Pà Cò (Pinus kwangtungensis).
Trên các vùng núi đá vôi miền Bắc Việt Nam (Hà Giang, Bắc Kạn và Hoà
Bình) loài Pơ mu đôi khi hình thành các khu rừng thuần loài trên dông núi đá
vôi ở độ cao 900 -1400 m so mặt nước biển Ở Việt Nam Pơ mu gặp ở Điện

cũng được nghiên cứu tại Khu Bảo tồn Thiên nhiên Xuân Liên, được Bùi Thị
Huyền (2010) khẳng định: Cây Pơ mu phân bố rải rác ở độ cao trên 800 m so
mực nước biển và thường mọc cùng với các loài Bách xanh (Calocedrus
macrolepis), Vù hương (Cinnamomum balansae), Dẻ tùng sọc trắng
(Amentotaxus argotaenia), Chẹo tía (Engelhardtia chrysolepis), Phân mã
(Archidendron balasae) và Sơn ta (Toxicodendron succedanea). Loài Pơ mu
tái sinh kém ngoài tự nhiên, mật độ tái sinh rất thấp, chỉ với 178 cây/ ha.
Về công dụng cây Pơ mu cũng được mô tả: Người Lào và người Dao
dùng gỗ cây Pơ mu để làm nóc nhà hay vách ngăn phòng. Trước đây, gỗ Pơ
mu còn được sử dụng để làm quan tài. Tại Việt Nam, nó được coi là một loại
9

gỗ quý do mùi thơm đặc trưng, vân gỗ đẹp cũng như trọng lượng khác thường
của nó và đặc tính không bị mối mọt phá hoại; vì thế nó được sử dụng để làm
các đồ tạo tác mĩ thuật, các loại đồ gỗ gia dụng, cũng như trọng lượng khác
thường của nó có độ tỏa nhiệt cao. Nó là loài nguy cấp tại Việt Nam và được
đưa vào Sách đỏ Việt Nam năm 1996. Sản phẩm chưng cất, đặc biệt là từ rễ
Pơ mu , là tinh dầu được dùng trong hóa mỹ phẩm và y học. Các tên gọi khác
của Pơ mu trong tiếng Việt là Đinh Hương, Tô Hạp Hương, Mạy Vạc (người
thiểu số ở Lào Cai), Mạy Long Lanh (người Thái ở miền Tây Bắc và Thanh
Hóa), Khơ Mu (Hà Tĩnh), Hòng He (người Ba Na ở Gia Lai và Kon Tum) Về
nghiên cứu tinh dầu trong rễ cây Pơ mu ở Việt Nam đã được Dominique
Lesueur, Ninh Khac Ban, Ange Bighelli, Alain Muselli và Joseph Casanova
(2005) nghiên cứu. Cây cũng là nguồn tinh dầu có giá trị. Hạt được biết là có
thể dùng làm thuốc (Perry, 1980) Dầu Pơ mu được sử dụng làm hương liệu
nước hoa. Có mùi hương nồng nàn ấm áp rất dễ chịu. Dùng để pha chế nước
hoa cao cấp. Dầu Pơ mu cũng dùng làm thuốc sát trùng chữa sưng tấy, có tác
dụng sát khuẩn và giảm đau. Trong trị liệu massage hoặc xông hơi tinh dầu
Pơ mu giúp tăng cường sinh lực, làm khỏe mạnh gân cốt và làm giảm sự viêm
da. Khi xông hương giúp diệt khuẩn làm thanh lọc không khí, tẩy uế. Có tác

Pù Mát cũng như trong cả nước, thì các vấn đề sau còn cần được nghiên cứu
làm rõ:
- Mối quan hệ giữa phân bố cây Pơ mu với các nhân tố sinh thái ảnh
hưởng tổng hợp, làm cơ sở quy hoạch vùng bảo tồn nội vi (In-situ) loài này.
- Mối quan hệ giữa các yếu tố sinh thái, tiểu hoàn cảnh rừng đến khả năng
tái sinh Pơ mu làm cơ sở bảo tồn nội vi (In-situ) và bảo tồn ngoại vi (Ex-situ).
- Quy trình kỹ thuật gieo ươm, điều kiện và kỹ thuật gây trồng Pơ mu
trong từng điều kiện cụ thể.
- Thành phần hóa dược và công dụng của nó về dược học.
- Thị trường tiêu thụ gỗ và các sản phẩm từ cây Pơ mu .
Do đó, cần có các nghiên cứu tiếp theo về nhiều mặt để bảo tồn cũng
như phát triển cây Pơ mu , trước hết là ngăn chặn đà diệt chủng của loài này,
sau đó là cung cấp sản phẩm của nó cho đời sống nhiều mặt của con người.
2.4. Tổng quan về điều kiện tự nhiên, dân sinh, kinh tế khu vực nghiên cứu
2.4.1. Điều kiện tự nhiên
Vị trí địa lý
Vườn quốc gia Pù Mát nằm về phía Tây Nam Tỉnh Nghệ An, cách thành
Phố Vinh 160 km đường bộ. Tọa độ địa lý của Vườn:
11

18
0
46
'
- 19
0
12
'
Vĩ độ Bắc.
104

người dân tộc. Ở đó nhiều hoạt động Nông Lâm nghiệp đã và đang diễn ra.
Nằm trong khu vực có khoảng 7.057 ha núi đá vôi và phần lớn diện tích
nằm ở vùng đệm VQG, chỉ có khoảng 150 ha nằm trong vùng lõi (Hình 2.1) .
12 Hình 2.1. Bản đồ vườn quốc gia Pù Mát 13
7 23
0
9
2
Nhi
ệt độ không khí cao nhất tuyệt
đối
42,7
0
C/5

42,
0
C/5 42,1
0
C/5

42,
0
C/5
3
Nhi
ệt độ không khí thấp nhất tuyệt
đối
1,7
0
C/1 2,0
0
C/1 5
0

03’
105
0
53’
18
0
54’
105
0
18’
18
0
40’
105
0
40’
13 Độ cao (m) 97 27 6 6
14 Thời gian quan trắc (năm) 40 40 40 86
(Nguồn: 4 trạm khi tượng thủy văn VQG Pù Mát)
Số liệu bảng trên cho thấy:
- Chế độ nhiệt:
+ Nhiệt độ trung bình năm 23 - 24
o
C, tổng nhiệt năng 8500 - 8700
o
C
+ Mùa đông từ tháng 12 đến tháng 2,do chịu ảnh hưởng của gió mùa
đông bắc nên nhiệt độ trung bình trong các tháng này xuống tới 20
o
C và nhiệt

chạy theo hướng Tây Nam lên Đông Bắc và đổ nước vào sông Cả.
+ Dưới góc độ giao thong thủy thì cả 3 con sông trên đều có thể dung
bè mảng đi qua một số đoạn nhất định, riêng Khe Choang và Khe Khặng có
thể dung thuyền máy ngược dòng ở phía hạ lưu.
+ Nhìn chung mạng sông suối khá dày đặc. Với lượng mưa trung bình năm từ
1300 - 1400 mm, nguồn nước mặt trên diện tích VQG Pù Mát lên tới 3 tỷ m
3
.
Do lượng nước đó phân bố không đều giữa các mùa và các khu vực nên tình
trạng lũ lụt và hạn hán thường xuyên xảy ra.
Địa chất thổ nhưỡng:
- Địa chất:
Vườn quốc gia Pù Mát nằm trên dãy Trường Sơn Bắc. Quá trình kiến tạo
địa chất được hình thành qua các hỷ Palêzôi, Devon, Cacbon, Pecmi, Triat,
Heximi… đến Miroxen cho đến ngày nay. Trong suốt quá trình phát triển của
dãy Trường Sơn thì chu kỳ tạo núi Hecximi, địa hình luôn bị ngoại lực tác động
mạnh mẽ tạo nên địa mạo chủ yếu:
+ Núi cao trung bình: Uốn nếp khối nâng lên mạnh, tạo nên một dải cao
và hẹp nằm ngay biên giới Việt Lào với vài đỉnh cao trên 2000m (Pulaileng
2711m, Rào cỏ 2286m).
Địa hình vùng này rất nguy hiểm trở, đi lại cực kì khó khăn,
+ Kiểu địa hình núi thấp và đồi cao: Kiểu này chiếm phần lớn diện tích của
miền và có độ cao từ 1000m trở xuống. Tuy cấu trúc tương đối phức tạp, được cấu
tạo bởi các trầm tích, biến chất, địa hình có phần mềm mại và ít dốc hơn.
16

+ Thung lũy kiến tạo, xâm thực: Kiểu này tuy chiếm một diện tích nhỏ
nhưng lại thuận lợi cho sản xuất nông nghiệp. độ cao nhỏ thua 300m và bao gồm
thung lũng các song suối Khe Thơi, Khe Choang, Khe Khặng (Sông Giăng) và
bờ phải sông Cả. Vùng này được cấu tọa từ các trầm tích bờ rời, dễ bị xâm thực

ến chất có kết
cấu hạt mịn, tpcg trung bình
Phân b
ố nhiều ở phía
Nam và Đông Nam
VQG
1.3 FHq
29693 ha
(15,2%)
Feralit vàng nhạt hay v
àng xám,
phát triển trên đá trầm tích v
à
bi
ến chất có kết cấu hạt thô,
tpcg nhẹ đến trung bình
Phân b
ố nhiều ở phía
Tây Nam VQG
2
Đất Feralit đỏ
vàng vùng đồi
và núi thấp (F)
151017 ha
(77,6%)
Đất có màu đỏ v
àng hay vàng
đỏ, tầng tích tụ dày n
ền vật chất
tạo đất chia ra các loại phụ:

Đất Feralit đỏ vàng hay nâu đỏ,

TPCG n
ặng, tầng dầy (trong
thung lũng)
Phân bố ven đư
ờng 7
phía Bắc và Đông
Bắc VQG
3
Đất dốc tụ và đất
phù sa D, P
9140 ha
(4,7%)
Đất có màu nâu xám, tpcg
trung
bình, tơi xốp giàu dinh dưỡng
Phân b
ố ven sông suối
trong VQG
4 Núi đá vôi (K
2
)
7057 ha
(3,6%)
Núi đá vôi d
ốc đứng có cây gỗ
nhỏ che phủ thấp dưới 700m
Phân bố thành d
ải nhỏ


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status