ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
LÊ ĐÌNH THĂNG
“NGHIÊN CỨU PHÂN BỐ VÀ ĐẶC ĐIỂM LÂM HỌC CỦA LOÀI
CÂY SA MỘC DẦU TẠI KHU BẢO TỒN THIÊN NHIÊN XUÂN LIÊN
THANH HÓA”
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC Hệ đào tạo : Chính quy
Chuyên ngành : QLTNR
Khoa : Lâm nghiệp
Khóa học : 2010 -2014
Gỉảng viên hướng dẫn: TS. Hồ Ngọc Sơn
Khoa Lâm nghiệp - Trường đại học Nông Lâm Thái Nguyên
Thái Nguyên, 2014
LỜI NÓI ĐẦU
Tài nguyên thực vật rừng ở nước ta rất phong phú và đa dạng. Tuy
nhiên, do nạn khai thác rừng bừa bãi cũng như khai hoang trồng cây nông
nghiệp vượt quá khả năng cho phép nên hiện nguồn tài nguyên nước ta bị suy
giảm nghiêm trọng, một số loài đã bị tuyệt chủng hoặc đang đứng trước nguy
cơ tiệt chủng. Vì thế bảo tồn và phát triển nguồn gen cây rừng là một nhiệm
vụ cấp bách hiện nay. Bảo tồn nguồn gen cây rừng là lưu giữ các nguồn gen
cây rừng phong phú và đa dạng hiện có, làm nền tảng cho công tác giống cây
rừng ở nước ta. Vì thế nó vừa phục vụ cho công tác giống vừa gắn liền với
việc cung cấp giống trước mắt và lâu dài, đồng thời thiết thực phục vụ cho các
chương trình trồng rừng trong nước và trao đổi giống quốc tế. Xuất phát từ
nguyện vọng của bản thân và được sự đồng ý của Khoa Lâm Nghiệp - Trường
Đại học Nông Lâm Thái nguyên tôi tiến hành thực hiện đề tài: “Nghiên cứu
phân bố và đặc điểm lâm học của loài cây Sa mộc dầu tại khu bảo tồn
thiên nhiên Xuân Liên - Thanh Hóa”.
Để hoàn thành đề tài này, tôi đã nhận được sự giúp đỡ tận tình của các
thầy, cô giáo trong khoa Lâm Nghiệp, đặc biệt là thầy giáo hướng dẫn T.S Hồ
Ngọc Sơn. Cùng sự giúp đỡ nhiệt tình của Ban quản lý KBTTN Xuân Liên và
Hạt kiểm lâm Xuân Liên, Trạm kiểm lâm Bản Vịn cùng các bạn đồng nghiệp.
Nhân dịp này, tôi xin tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến tất cả mọi người đã tận tình
Bảng 2.1. Thống kê dân số và thành phần dân tộc các xã vùng đệm 12
Bảng 2.2. Diện tích các kiểu thảm thực vật rừng đặc dụng Khu bảo tồn 17
Bảng 2.3. Cấu trúc khu hệ thực vật Khu BTTN Xuân Liên 19
Bảng 4.1. Khu vực phân bố của Sa mộc dầu tại KBTTN Xuân Liên 23
Bảng 4.2. Thống kê diện tích phân bố của loài Sa mộc dầu ở các khu vực 25
Bảng 4.3. Hệ số tổ thành tầng cây cao ôtc 01 (tọa độ:0497316-2209675) 26
Bảng 4.4. Hệ số tổ thành tầng cây cao ôtc 02 (tọa độ:0498613-2209200) thuộc
tuyến Huối Cò 27
Bảng 4.5. Hệ số tổ thành tầng cây cao ôtc 03 (tọa độ:0498613-2209200) thuộc
tuyến Huối Cò 28
Bảng 4.6. Hệ số tổ thành tầng cây cao ôtc 04(tọa độ:0498343-2209424) thuộc
tuyến Huối Pà 29
Bảng 4.7. Hệ số tổ thành tầng cây cao ôtc 05 (tọa độ:0498236-2209705) thuộc
tuyến Huối Pà 30
Bảng 4.8. Hệ số tổ thành tầng cây cao ôtc 06 (tọa độ:0498260-2209497) thuộc
tuyến Huối Pà 31
Bảng 4.9. Hệ số tổ thành tầng cây cao ôtc 07 (tọa độ:0510047-2207478) thuộc
tuyến Hang Ong 32
DANH MỤC CÁC TỪ, CỤM TỪ VIẾT TẮT
SMD : Sa mộc dầu
ÔTC : Ô tiêu chuẩn
D
1.3
: Đường kính một mét ba
H
vn
: Chiều cao vút ngọn
KBTTN : Khu bảo tồn thiên nhiên
MỤC LỤC
Trang
Phần 1: MỞ ĐẦU 1
1.1. Đặt vấn đề 1
1.2. Mục tiêu của đề tài 2
1.3. Mục đích nghiên cứu 2
1.4. Ý nghĩa nghiên cứu đề tài 2
1.4.1. Ý nghĩa học tập 2
1.4.2. Ý nghĩa trong nghiên cứu khoa học 3
2.3.3.1. Sản xuất nông nghiệp 15
2.3.3.2. Sản xuất lâm nghiệp 16
2.3.3.3. Thủy sản 16
2.3.4. Nguồn tài nguyên rừng KBTTN Xuân Liên. 16
2.3.4.1. Thảm thực vật 16
2.3.4.2. Hệ thực vật 18
Phần 3: 20ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP
NGHIÊN CỨU 20
3.1. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 20
3.1.1. Đối tượng nghiên cứu 20
- Loài cây Sa mộc dầu, Sa mu dầu, Sa mộc quế phong, Ngọc am
(Cunninghamia konishii Hayata) thuộc họ Hoàng đàn (Cupressaceae). 20
3.1.2. Phạm vi nghiên cứu. 20
3.2. Địa điểm và thời gian thực hiện 20
3.3. Nội dung nghiên cứu. 20
3.3.1. Xác định phân bố của Sa mộc dầu tại khu bảo tồn Xuân Liên 20
3.3.2. Nghiên cứu đặc điểm lâm học của Sa mộc dầu 20
4.3. Giá trị sử dụng nguồn gen Sa mộc dầu 40
4.4. Một số giải pháp bảo tồn và phát triển loài Sa mộc dầu 41
4.4.1. Nhóm các giải pháp về kỹ thuật. 41
4.4.2. Nhóm giải pháp về chính sách pháp luật, giải pháp kinh tế - xã hội. 42
4.4.3. Giải pháp giáo dục, tuyên truyền. 43
Phần 5: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 44
5.1. Kết luận 44
5.2. Kiến nghị 45
TÀI LIỆU THAM KHẢO 46
1
Phần 1
MỞ ĐẦU
1.1. Đặt vấn đề
Khu bảo tồn thiên nhiên (Khu BTTN) Xuân Liên thuộc huyện Thường
Xuân, tỉnh Thanh Hóa. Đây là khu vực không chỉ chứa đựng giá trị đa dạng
sinh học cao mà còn là rừng phòng hộ đầu nguồn xung yếu cho hồ thủy lợi -
thủy điện Cửa Đạt nói riêng và vùng hạ lưu tỉnh Thanh Hóa nói chung. Các
loài thuộc ngành Thông đóng vai trò rất quan trọng trong hệ sinh thái rừng
của khu bảo tồn. Kết quả điều tra góp phần giúp công tác quản lý và bảo tồn
lâu dài khu hệ thực vật ở đây. Nghiên cứu được thực hiện trong năm 2010, đã
xác định được 7 loài Hạt trần thuộc 4 họ và đã mô tả được đặc điểm hình thái,
- Xác định được phân bố của Sa mộc dầu tại khu bảo tồn Xuân Liên:
+ Phân bố theo đai cao.
+ Phân bố theo địa lý.
- Nghiên cứu đặc điểm lâm học của Sa mộc dầu:
+ Đặc điểm hình thái và vật hậu: thân, lá, hoa/nón quả.
+ Đặc điểm sinh thái bao gồm: hoàn cảnh rừng nơi Sa mộc dầu (SMD)
phân bố, đặc điểm cấu trúc quần xã thực vật rừng nơi Sa mộc dầu phân bố
(mật độ, tổ thành, tầng thứ, thường gặp).
+ Đặc điểm tái sinh tự nhiên (mật độ, cấu trúc tổ thành cây tái sinh,
chất lượng cây tái sinh, phân cấp theo chiều cao và cây có triển vọng, đặc
điểm tái sinh).
1.3. Mục đích nghiên cứu
- Xác định được phân bố, nghiên cứu được đặc điểm lâm học của cây
SMD tại khu bảo tồn Xuân Liên
- Đề xuất các giải pháp bảo tồn, phát triển SMD
+ Các giải pháp kỹ thuật lâm sinh
+ Các giải pháp về kinh tế, xã hội và chính sách của nhà nước.
1.4. Ý nghĩa nghiên cứu đề tài
1.4.1. Ý nghĩa học tập
- Áp dụng được lý thuyết đã học vào thực tiễn và học hỏi được thêm
nhiều kiến thức bổ ích từ bên ngoài trường học.
- Củng cố được kiến thức cơ sở cũng như chuyên ngành, sau này có
điều kiện tốt hơn để phục vụ công tác phát triển ngành lâm nghiệp nước nhà.
3
1.4.2. Ý nghĩa trong nghiên cứu khoa học
- Tạo điều kiện cho sinh viên được tiếp xúc, làm quen với thực tế công
tác nghiên cứu khoa học.
- Góp phần hoàn chỉnh dữ liệu khoa học về việc nghiên cứu chuyên sâu
loài cây quý hiếm SMD.
- Là cơ sở khoa học để lựa chọn các giải pháp bảo tồn và phát triển SMD.
Một điều rõ ràng rằng các loài thuộc họ này cho gỗ đẹp, dáng cây cao rất
thẳng được trồng rộng rãi ở các vùng có khí hậu ôn đới nóng với mục đích
làm cảnh và cho gỗ. Thuộc họ này ở Việt Nam có ba chi với 3 loài mọc hoang
dại như: Thủy tùng Glytostrobus pensilis (Staunt. Ex D. Don) K. Koch, Sa
mộc dầu Cunninghamia konishii Hayata và Bách tán Đài loan kín Taiwania
cryptomerioides Hayata và một số loài nhập trồng làm cảnh lấy bóng mát hay
trồng như: Sa mộc Cunninghamia lanceolata (Lamb.) Hook., Bụt mọc
Taxodium distichum (L.) Rich. và Cryptomeria japonica. Riêng chi Taiwania
chỉ có một loài T. Cryptomerioides được tìm thấy ở Đài Loan từ năm 1906 và
gần 100 năm chúng được coi là chỉ có phân bố ở Đài Loan, Tây Nam Vân
nam. Việc phát hiện loài này ở Việt Nam có ý nghĩa khoa học và thực tiễn
lớn, không chỉ bổ sung thêm một loài cho hệ thực vật Việt Nam, mở rộng
phân bố của loài trên thế giới mà còn đóng góp nguồn gen phục vụ cho việc
trồng rừng (Nguồn tài liệu: Dẫn theo Lê Xuân Toàn năm 2012)[11]
Ngoài ra có tài liệu nêu chi Sa mộc dầu (danh pháp khoa học:
Cunninghamia) là một chi có 1 loài cây thân gỗ, thường xanh, thuộc họ
Hoàng đàn (Cupressaceae). Chúng có nguồn gốc ở khu vực Trung Quốc, Đài
5
Loan và Việt Nam, các cây lớn có thể cao tới 50-55m. Tên gọi khoa học của
chi này được đặt theo tên của Dr. James Cunningham, một bác sĩ người Anh
đã đưa các loài này vào gieo trồng năm 1702 (Nguồn tài liệu: Dẫn theo Lê
Xuân Toàn năm 2012)[11]
Các loài trong chi Cunninghamia có các lá kim với ngạnh mềm, dai
như da, cứng, màu xanh lục tới xanh lục-lam, mọc vòng xung quanh thân theo
hình cung đi lên; các lá này dài 2-7cm và rộng 3-5 mm (tại phần gốc lá), và
mang hai dải khí khổng màu trắng hay trắng ánh lục ở phía dưới và đôi khi là
ở phía trên mặt lá. Tán lá có thể trở thành màu nâu đồng khi thời tiết quá lạnh.
Các nón nhỏ và không dễ thấy khi thụ phấn vào cuối mùa đông, các
nón đực mọc thành cụm khoảng 10-30 nón, còn các nón cái mọc đơn lẻ hoặc
2-3 nón cùng nhau (Nguồn tài liệu: Dẫn theo Lê Xuân Toàn năm 2012)[11].
Tại Đài Loan, Sa mộc dầu (Cunninghamia konishii Hayata) cũng
được coi là gỗ tốt nên bị khai thác trên quy mô lớn, kết quả là các quần thể
hiện tại bị chia cắt, nằm rải rác không tập trung. Nguồn gen Sa mộc dầu tại
Đài Loan đang được lưu giữ bảo tồn trong Ngân hàng hạt giống (Tree Seed
Bank) cùng với 152 loài thực vật khác. Bên canh đó nguồn gen Sa mộc dầu
còn được lưu tại một số Vườn thực vật ở Châu Âu.Tại Đài Loan, sau nhiều
thập kỷ khai thác cạn kiệt, từ năm 1950 chương trình trồng rừng quy mô lớn
được thực hiện đã góp phần bảo tồn và phát triển nguồn gen loài này. Tại Đài
Loan Sa mộc dầu phân bố ở độ cao 1300-2800m. Sinh trưởng tốt nhất ở nhiệt
độ trung bình năm 17-22
o
C và lượng mưa 2000-3500mm/năm. Trên các điều
kiện phù hợp cây có thể tăng 1m về chiều cao và 1cm đường kính một năm.
Nhằm nâng cao chất lượng gỗ và sinh trưởng thì nhiều chương trình nghiên
cứu, khảo nghiệm đã được thực hiện từ những năm 1970. Từ những năm 1990
chính phủ đã đóng cửa rừng nhằm ngăn chặn suy giảm nguồn gen lâm nghiệp
đồng thời nâng cao giá trị giải trí của rừng (Chung et al., 2009)[15].
2.2. Tình hình bảo tồn và phát triển loài cấy Sa mộc dầu ở Việt Nam
Tài nguyên thực vật rừng ở nước ta rất phong phú và đa dạng. tuy nhiên,
do nạn khai thác rừng bừa bãi cũng như khai hoang trồng cây nông nghiệp vượt
quá khả năng cho phép nên hiện nguồn tài nguyên nước ta bị suy giảm nghiêm
trọng, một số loài đã bị tuyệt chủng hoặc đang đứng trước nguy cơ tiệt chủng.
Vì thế bảo tồn và phát triển nguồn gen cây rừng là một nhiệm vụ cấp bách hiện
nay. Bảo tồn nguồn gen cây rừng là lưu giữ các nguồn gen cây rừng phong phú
và đa dạng hiện có, làm nền tảng cho công tác giống cây rừng ở nước ta. Vì thế
7
nó vừa phục vụ cho công tác giống vừa gắn liền với việc cung cấp giống trước
mắt và lâu dài, đồng thời thiết thực phục vụ cho các chương trình trồng rừng
trong nước và trao đổi giống quốc tế. Mặt khác, các hoạt động về cải thiện
giống và cung cấp giống cũng đang làm phong phú thêm hoạt động bảo tồn
(Cupresus torulosa), Thông đỏ bắc (Taxus chinensis), Thông pà cò (Pinus
kwangtungensis) hay Sa mộc dầu (Cunninghamia konishii Hayata) [9].
Tại Nghệ An nghiên cứu đã được tiến hành để xác định toàn bộ khu
vực phân bố của loài Sa mộc dầu trong tỉnh và nghiên cứu các đặc điểm sinh
học và sinh thái của loài. Nghiên cứu tại Vườn Quốc Gia Pù Mát, Nghệ An
cho thấy tình hình tái sinh của Sa mộc dầu rất kém. Cây tái sinh chủ yếu xuất
hiện ở giai đoạn cây mạ và khi chuyển sang giai đoạn cây con thì ít bắt gặp, tỷ
lệ cây con có triển vọng thấp. Đây là một vấn đề và là một thách thức lớn
đang đạt ra trong công tác bảo tồn loài quý hiếm này. Quả Sa mộc dầu sau khi
chín thì hạt không được tách ra mà vẫn nằm nguyên ở trên nón. Nón rụng
xuống gặp điều kiện thuận lợi sẽ nảy mầm cây tái sinh ngay trên nón. Hiện
tượng này hoàn toàn khác so với các loài thuộc ngành Hạt trần mà chúng ta đã
nghiên cứu và tìm hiểu. Qua đây chúng ta có thể giải thích được tại sao trong
tự nhiên thường thấy Sa mộc dầu tái sinh theo cụm hoặc theo đám.(Nguyễn
Văn Sinh, 2009) [10].
Tại Hà Giang, đầu năm 2006 tỉnh đã triển khai dự án “Bảo tồn và phát
triển nguồn gen quý hiếm, bảo vệ đa dạng sinh học ở xã Thài Phìn Tùng,
huyện Đồng Văn, tỉnh Hà Giang”, viết tắt là VN/02/2004, do Quỹ môi trường
toàn cầu (UNDP-GEF/SGP) tài trợ nhằm bảo tồn và phát triển 4 loài thực vật
hạt trần quý hiếm có nguy cơ bị đe dọa tuyệt chủng. Đó là Thông tre lá ngắn
(Podocarpus pilgori), Thông đỏ bắc (Taxus chinensis), Dẻ tùng sọc nâu
(Amentotaxus hatuyenensis), và Hoàng đàn rủ (Cupressus funebris). Các loài
này nằm trong số 33 loài thuộc họ Thông của thế giới, được xác định là có giá
trị kinh tế và sinh thái đặc biệt cao, góp phần thiết thực cho công tác bảo tồn
và phát triển bốn loài hạt trần này ở Hà Giang và Việt Nam.(Lê Trần Chấn và
cộng sự, 2006) [3].
2.3. Tổng quan về điều kiện tự nhiên, dân sinh, kinh tế khu vực nghiên cứu
2.3.1. Điều kiện tự nhiên
2.3.1.1. Vị trí địa lý
Khu bảo tồn thiên nhiên Xuân Liên thuộc địa bàn hành chính huyện
C, nhiệt độ cao nhất tuyệt đối
chưa quá 40
0
C.
- Độ ẩm: Độ ẩm không khí trung bình năm 85 - 86%, tháng có độ ẩm
cao nhất là tháng 04 khoảng 91%, tháng thấp nhất là tháng 11 và 12 từ 80-
83%. Mùa đông có sương muối từ 5 - 7 ngày.
- Lượng mưa: Lượng mưa trong năm là 2000 - 2200 mm, phân bố mưa
trong năm không đều, mùa mưa bắt đầu từ tháng 5 đến tháng 10, chiếm từ 60-
80% tổng lượng mưa cả năm. Các tháng có lượng mưa lớn nhất từ tháng 7
đến tháng 9 thường gây lũ lụt cục bộ. Các tháng có lượng mưa thấp nhất từ
tháng 12 cho tới tháng 2 năm sau, thường gây hạn hán.
- Lượng bốc hơi: Tổng lượng bốc hơi 761- 895mm/năm, tháng 7 có
lượng bốc hơi lớn nhất đạt 131mm; tháng 2 và 3 có lượng bốc hơi thấp nhất
40 - 43 mm.
- Nắng: Do sự ảnh hưởng của địa hình nên số ngày nắng trong khu vực
có sự thay đổi theo vùng. Số ngày nắng ở vùng thấp từ 235 - 245 ngày, vùng
cao từ 215 - 216 ngày.
- Gió: Có 2 hướng gió chính là gió mùa Đông Bắc từ tháng 10 đến
tháng 04 năm sau và gió mùa Đông Nam từ tháng 04 đến tháng 09. Ngoài ra,
còn có gió Tây khô nóng xen kẽ với gió mùa Đông Nam. Gió Tây khô nóng
thường xuất hiện vào tháng 5,6,7,8 tập trung vào các thung lũng và vùng thấp.
Gió thịnh hành là gió Đông Nam có tốc độ trung bình 1,8 m/s. Song có gió
khô nóng vào đầu mùa hạ (từ 20-30 ngày), gió cực đại đạt tới 39 m/s gây bão
(tập trung vào tháng 9).
- Thủy văn:Khu BTTN Xuân Liên là vùng đầu nguồn của Sông Khao,
sông Chu và một phần Sông Đặt; là vùng đầu nguồn cung cấp nước sạch, nước
tưới cho vùng hạ lưu của tỉnh Thanh Hoá và thành phố Thanh Hoá. Trong lòng
Khu bảo tồn có Hồ chứa nước Cửa Đạt với diện tích ngập nước 2.828,60 ha
(thuộc khu bảo tồn), là một trong những Hồ nước lớn ở Việt Nam. Bên cạnh
+ Đất màu: 636,23 ha
+ Đất rẫy: 788,60 ha
+ Đất trồng cây lâu năm: 495,43 ha
- Đất khác: 4.012,90 ha [1].
12
2.3.2. Điều kiện kinh tế - xã hội
2.3.2.1. Dân số, dân tộc, phân bố dân cư
- Dân tộc: Khu BTTN Xuân Liên nằm trên địa bàn 5 xã với 3 dân tộc
anh em cùng sinh sống. Các thông tin về dân số và thành phần dân tộc các xã
này được thể hiện ở bảng dưới đây.
Bảng 2.1. Thống kê dân số và thành phần dân tộc các xã vùng đệm
Xã
Dân số Thành phần dân tộc (người)
Số hộ Số khẩu Thái Kinh Mường
Xã Bát Mọt 730 3.436 2.829 600 8
Xã Yên Nhân 1.077 4.879 4.017 851 11
Xã Lương Sơn 1.919 8.468 6.972 1478 19
Xã Xuân Cẩm 880 3.894 3.206 680 9
Xã Vạn Xuân 1.245 5.418 4.461 945 12
Cơ cấu (%) 100 82,33 17,45 0,22
Tổng cộng 5.851 26.095 21.484 4.554 57
(Nguồn tài liệu: Niêm giám huyện Thường Xuân năm 2012)
Cộng đồng dân cư là đồng bào dân tộc ít người chiếm 82,55%. Các dân
tộc đã có quá trình cộng cư lâu đời giao lưu cả về kinh tế, văn hoá và hôn
nhân, nhưng vẫn bảo tồn những nét đặc trưng riêng về văn hoá dân gian
truyền thống. Đây là những di sản văn hóa vật thể và phi vật thể rất phong
phú, độc đáo cần phải được gìn giữ và bảo tồn.
- Phân bố dân cư: Dân cư trong vùng phân bố trên 39 thôn bản, thuộc địa
bàn 5 xã vùng KBTTN. Theo số liệu niên giám thống kê của huyện Thường
Xuân đến ngày 31/12/2012 tổng dân số hiện đang sinh sống trên có 26.095
Khu di tích đền thờ Danh nhân Cầm Bá Thước, Bà Chúa Thượng ngàn
hiện nay đã được xây dựng tôn tạo mới nằm trong trung tâm Khu Du lịch và
đô thị Cửa Đặt đã được Chủ tịch UBND tỉnh Thanh hoá phê duyệt Qui hoạch
năm 2010; đây là cụm di tích kết hợp giữa tín ngưỡng và di tích lịch sử gắn
với danh nhân yêu nước thời cần vương chống thực dân Pháp Cầm Bá Thước,
thuộc huyện Thường Xuân, tỉnh Thanh Hóa hồi đầu thế kỷ 20, đã được Nhà
nước xếp hạng và cách cụm di tích
Không xa khoảng 5 km tại xã Vạn xuân có Khu di tích lịch sử: lăng mộ,
đền thờ danh nhân Cầm bá Thước (đang được nghiên cứu xếp hạng). Bên cạnh
đền thờ Cầm Bá Thước còn có đền thờ Bà Chúa thượng ngàn được xây dựng từ
rất lâu đời, đến nay đã được trùng tu nhiều lần. Cách Cửa Đạt hơn 1km về phía
Đông Nam còn có đền Cô, đây chính là một đền “Trình” trước khi du khách vào
lễ đền Cầm Bá Thước và Bà Chúa Thượng Ngàn. Hàng năm người dân thập
14
phương đi lễ rất đông vào những ngày rằm, ngày tết, suốt từ tháng 10-11 đến
tháng 3-4 năm sau.
Một số lễ hội truyền thống như: Lễ hội Ca Sa của dân tộc Thái vào
tháng giêng âm lịch, lễ hội Lau Kha vào mồng 10 tháng 9 âm lịch của người
Thái đen, lễ hội cúng rước Thành Hoàng vào tháng giêng âm lịch tại làng Hạ
ở Thọ Thanh, lễ hội Xóc Bùa của dân tộc Mường ở Xuân Cẩm, Lương
Sơn…vào đầu tháng 12 âm lịch thường xuyên được tổ chức. Các chòm bản
người Thái tổ chức hội hè, ma chay, cưới xin với cơm lam, rượu cần, sản xuất
hàng thổ cẩm theo nghề truyền thống phong phú sẽ là rất hấp dẫn đối với
khách du lịch. Cùng với hồ chứa nước thủy lợi Cửa Đạt đã hoàn thành, kết
hợp với các thôn bản người Thái, Mường với kiến trúc nhà sàn, sản xuất
ruộng bậc thang bổ sung thêm các sản phẩm du lịch, góp phần hấp dẫn du lịch
sinh thái gắn với du lịch văn hóa.
- Giáo dục:
Khu vực có 01 trường dạy nghề; 05 trường trung học cơ sở, 11 trường
tiểu học, 24 trường mầm non. Tổng số học sinh là 5.386 em trong đó có 1.548
với khu bảo tồn [1].
2.3.3. Tình hình phát triển kinh tế
2.3.3.1. Sản xuất nông nghiệp
* Trồng trọt: Sản xuất nông nghiệp vẫn là chủ đạo trong nền kinh tế
của 05 xã khu BTTN Xuân Liên, tuy nhiên do tập quán canh tác sản xuất của
người dân còn lạc hậu chủ yếu dựa vào kinh nghiệm là chính nên hiệu quả
mang lại còn rất thấp. Theo số liệu thống kê năm 2013, diện tích đất sản xuất
nông nghiệp 5 xã là: 2.952,32 ha, chiếm 4,43% diện tích tự nhiên. Bình quân
diện tích lúa nước + màu là 0,07 ha/người. Tổng sản lượng lương thực quy
thóc đạt 7.185,8 tấn, bình quân lương thực đầu người đạt 275 kg/năm. Diện
tích lúa nước phân bố không đều trong các xã, hàng năm có một số thôn
lương thực còn thiếu ăn cục bộ 1-2 tháng đời sống còn gặp nhiều khó khăn,
cần phải tạo việc làm thông qua các mô hình, dự án nông lâm nghiệp để thúc
đẩy nền sản xuất nông nghiệp đạt giá trị cao trên một đơn vị diện tích.
Ngoài các cây trồng chính, trong khu vực còn có một số loài cây rau
đậu với diện tích là 42,5 ha chủ yếu là tự cung tự cấp, đáp ứng nhu cầu của hộ
gia đình và nhân dân quanh vùng, chưa hình thành vùng chuyên canh sản xuất
hàng hóa.
16
* Chăn nuôi: Ngành chăn nuôi có nhịp độ tăng trưởng khá, tỷ trọng về
giá trị chăn nuôi chiếm khá cao trong sản xuất nông nghiệp, theo thống kê
năm 2013 tổng số đàn trâu là: 7.134 con, đàn bò 1.991 con, đàn lợn 5.250
con, Nhím 54. Ngoài ra còn hàng chục ngàn con gia cầm các loại.
Chăn nuôi được phát triển trong các hộ gia đình chủ yếu là nhốt + chăn
dắt, cắt cỏ, cung cấp sức kéo cho sản xuất nông nghiệp và cung cấp thực
phẩm tại chỗ, các vùng lân cận [1].
2.3.3.2. Sản xuất lâm nghiệp
Sản xuất lâm nghiệp là thế mạnh của huyện Thường Xuân nói chung và
05 xã khu BTTN Xuân Liên nói riêng. Với tổng diện tích đất lâm nghiệp là
56.236,2 ha trong đó diện tích rừng sản xuất là 19.426,7 ha. Những năm gần