Tạp chí NN&PTNT số 18 năm 2007
XÁC ĐỊNH LOÀI, VÙNG PHÂN BỐ VÀ ĐẶC ĐIỂM LÂM HỌC
CỦA CÁC LOÀI DẺ ĂN HẠT Ở TÂY NGUYÊN
Trần Lâm Đồng
1
, Nguyễn Bá Văn
1
, Nguyễn Toàn Thắng
1
, Lương Văn Dũng
2TÓM TẮT
Họ Dẻ là một họ lớn, trong đó có nhiều loài cho hạt ăn được. Đề tài nghiên cứu được tiến hành tại 5 tỉnh
Tây Nguyên với mục tiêu trong hai năm đầu (2006-2007) là xác định được loài, vùng phân bố và một số đặc điểm
lâm sinh học cơ bản của các loài Dẻ cho hạt ăn được tại Tây Nguyên làm cơ sở lựa chọn các loài có triển vọng gây
trồng lấy hạt tại Tây Nguyên. Kết quả điều tra cho thấy, họ Dẻ ở Tây Nguyên có ba chi Castanopsis, Lithocarpus và
Quercus với khoảng trên 50 loài, trong đó có 11 loài cho hạt ăn được, tập trung nhiều nhất ở chi Castanopsis (9 loài)
và Lithocarpus (2 loài). Các loài này có phân bố ở hầu hết các tỉnh Tây Nguyên, nhưng tập trung nhiều nhất ở hai
tỉnh Kon Tum và Lâm Đồng. Đề tài đã dựa vào kết quả phân tích thành phần dinh dưỡng hạt, điều tra phạm vi phân
bố và một số đặc điểm lâm sinh học cơ bản để phân tích ưu nhược điểm của từng loài. Từ đó, đã chọn ra hai loài Dẻ
anh (Castanopsis pyriformis (Seem.) Hickel & A.Camus) và Kha thụ nguyên (Castanopsis pseudoserrata Hick. &
Cam.) là hai loài có nhiều triển vọng nhất để tiếp tục nghiên cứu và thử nghiệm gây trồng tại Tây Nguyên.
Từ khóa: Dẻ anh, Dẻ ăn hạt, hạt Dẻ, Kha thụ nguyên, Tây Nguyên.
I. ĐẶT VẤN ĐỀ
Họ Dẻ (Fagaceae) là một họ lớn gồm khoảng trên 900 loài, có biên độ sinh thái rộng,
phân bố chủ yếu ở vùng ôn đới, á nhiệt đới Bắc bán cầu và nhiệt đới, tập trung nhất là ở Châu Á
(Khamleck, 2004), trong đó Việt Nam có tới 216 loài (Phạm Hoàng Hộ, 2000). Các loài thuộc họ
nhau: Dưới 600m, 600-1.000m, 1.000-1.500m và trên 1.500m. Tại mỗi vùng nhỏ, tìm hiểu các tài
liệu đã có để biết khu vực có Dẻ phân bố, đồng thời tiến hành điều tra thông qua phỏng vấn
người dân, cán bộ Lâm nghiệp địa phương, sau đó tiến hành điều tra cụ thể từng vùng. Sử dụng
GPS cầm tay để định vị và xác định vùng phân bố của từng loài. Quá trình điều tra xác định loài
được thực hiện như sau:
Điều tra, phỏng vấn người dân về khả năng ăn được của hạt, chụp ảnh, lấy mẫu; Phân tích
dinh dưỡng hạt; Xác định tên khoa học theo các tài liệu với thứ tự ưu tiên như sau: Cây cỏ Việt
Nam - tập II, của Phạm Hoàng Hộ; Flore générale de L
'
indo - Chine , của Lecomte M. H., Tome
V; Meniski Y. L., Sồi cau Châu Á, Leningrad, 1984;
So sánh mẫu tại Bảo tàng thực vật Thành phố Hồ Chí Minh (86 Trần Quốc Toản).
b. Điều tra đặc điểm lâm học
Sau khi xác định được vùng phân bố của từng loài, đề tài đã sử dụng phương pháp nghiên
cứu ô tiêu chuẩn điển hình diện tích 2.500 m
2
để xác định đặc điểm lâm học của từng loài. Tại
mỗi điểm có phân bố tự nhiên của từng loài Dẻ ăn hạt tiến hành điều tra 1 hoặc 2 ô tiêu chuẩn đại
diện, tùy thuộc vào hiện trạng rừng nơi điều tra. Trong mỗi ô tiêu chuẩn điều tra 12 ô dạng bản
4m
2
(2x2m) để nghiên cứu đặc điểm tái sinh. Tổng số ô tiêu chuẩn điều tra có các loài Dẻ ăn hạt
phân bố tự nhiên là 20 ô tiêu chuẩn. Số liệu được xử lý theo phương pháp phân tích thống kê
trong lâm nghiệp.
III. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN
1. Xác định loài và vùng phân bố các loài Dẻ ăn hạt Tây Nguyên
a Đặc điểm họ Dẻ (Fagaceae):
+ Đặc điểm hình thái:
Thuộc họ này thường là những cây gỗ lớn, ít khi cây bụi. Vỏ có nhiều tanin, để lại vết đen
sau khi vạc vỏ. Lá thường xanh hay rụng lá, lá đơn, nguyên hay khía răng cưa, mọc cách, gân nổi
hạt, giá bán trên thị trường thấp hơn giá hạt Dẻ Trùng Khánh.
b. Khóa phân loại các chi thuộc họ Dẻ:
+ Khóa phân loại các chi thuộc họ Dẻ ở Việt Nam:
1a - Cụm hoa xim mọc đơn độc ở kẽ lá, trên một cuống dài, không xếp thành cụm đuôi
sóc. Đấu quả sớm tách thành 4 mảnh. Quả có cánh Æ Fagus
1b - Cụm hoa xim xếp trên đuôi sóc dài
2a - Đuôi sóc đứng thẳng. Đầu nhụy hình chấm rất nhỏ
3a - Đấu quả có gai, bọc kín 1-3 hạt, chín tách thành nhiều mảnh.
4a - Đuôi sóc mang cả hoa cái và hoa đực trên một cuống chung,
hoa cái ở phần dưới Æ Castanea
4b - Đuôi sóc chỉ mang một thứ hoa, đuôi sóc mang hoa đực riêng,
hoa cái riêng Æ Castanopsis
3b - Đấu quả không gai, thường không bao hết quả, khi chín không tách
thành mảnh, mỗi đấu chứa một quả Æ Lithocarpus
2a - Đuôi sóc thõng xuống, đầu nhụy loe rộng Æ Quercus
b) Khoá phân loại các chi thuộc họ Dẻ ở Tây Nguyên:
- Dựa vào hình thái của lá
1a - Lá xếp hai hàng trên cành non Æ Castanopsis
1b - Lá xếp xoắn ốc trên cành non
2a - Mép lá nguyên Æ Lithocarpus
3
2b - Mép lá khía răng một phần hay hoàn toàn Æ Quercus
- Dựa vào hình thái của đấu
1a - Đấu bao kín quả, đa số có gai nhọn Æ Castanopsis
1b - Đấu không bao kín quả, không có gai nhọn
2a - Đấu nhẵn hoặc có vảy xếp lợp Æ Lithocarpus
2b - Đấu có các vẩy xếp vòng đồng tâm Æ Quercus
5
Bảng 1: Kết quả điều tra các loài Dẻ ăn hạt vùng Tây Nguyên
TT
Tên thông
thường/tên
gọi khác
Tên khoa học Phân bố tự nhiên Ưu điểm Nhược điểm
12.
Dẻ anh
Castanopsis
pyriformis
(Seem.) Hickel
& A.Camus
Rộng, đai cao từ 400-
1.500m
- Kon Tum: Kon Rẫy, Đắk
Tô, Tu Mơ Rông, Sa Thầy
- Đắk Lắk: K'Rông Bông
- Lâm Đồng: Di Linh, Đèo
Bảo Lộc, Đạ Huoai, Đức
Trọng, Lâm Hà, Đam
Rông, Lạc Dương, Đà Lạt
- Phạm vi phân bố rất rộng, số lượng nhiều.
- Hạt ăn ngon
- Sai quả (20 quả/cuống), hạt to (1,7-2,5cm)
- Chu kỳ quả hàng năm
- Tái sinh tự nhiên mạnh, đặc biệt là tái sinh
chồi, phân cành mạnh.
- Cây sớm ra hoa, kết quả
thụ Trung
Quốc
Castanopsis
chinensis
(Spreng.)
Hance
Hẹp, đai cao 1.000-1.500m
- Kon Tum: Kon P'Lông
- Lâm Đồng: Lạc Dương,
Đà Lạt
- Hạt ăn ngon, đã trở thành hàng hoá trên thị
trường với giá: 13.000-14.000đ/kg hạt tươi
(tại chợ Đà Lạt năm 2005)
- Khá sai quả (5-8 quả/cuống), kích thước
1,2-1,8cm, vỏ hạt mỏng, dễ bóc tách
- Mọc tập trung thành ưu hợp, khoảng 40%
- Chu kỳ quả dài: 4-7 năm
- Phạm vi phân bố hẹp,
chủ yếu ở độ cao trên
1.000m 6
tổ thành loài, tái sinh tự nhiên từ hạt và chồi
tốt
15. Goi / Kha
thụ
Chevalier
Castanopsis
chevalieri
Đam Rông
- Khá sai quả (7-8 quả/cuống), kích thước
1,5-1,8cm, vỏ hạt mỏng
- Cây mọc tập trung, phạm vi phân bố rộng
- Tái sinh tự nhiên nhiều
Chu kỳ quả kéo dài: 3 – 4
năm
17.
Dẻ gai Ấn
Độ/ Kha thụ
Ấn
Castanopsis
indica (Roxb.)
A. DC.
Rộng, đai cao 500-1.500m
- Gia Lai: K'Bang, Kon
Ch'Ro
- Lâm Đồng: Di Linh
- Vùng phân bố rộng: 500-1500 m
- Chu kỳ quả hàng năm
- Tán rộng, phân cành mạnh
- Cây mọc rải rác, không
tập trung
- Hạt rất bé: 0,5-1 cm
18.
Cà ổi vọng
phu/ Kha
thụ dữ
Castanopsis
ferox (Roxb.)
nai/ Kha
thụ sừng nai
Castanopsis
ceratanantha
Rehd. & Wils.
Hẹp, đai cao 1.000-1.500m
- Kon Tum: Tu Mơ Rông,
Kon P'Lông
- Sai quả
- Tái sinh tự nhiên tốt
- Cây phân cành mạnh
- Phân bố không tập trung,
số lượng ít
- Chu kỳ quả dài 2-3 năm
21. Sồi đỏ/ Sồi
ghì
Lithocarpus
corneus
(Lour.) Rehd.
Hẹp, đai cao 1.200-1.500m
- Lâm Đồng: Lang Hanh
(Di Linh)
- Tán rộng
- Hạt to: 2-2,5 cm
- Chu kỳ quả hàng năm
- Phân bố không tập trung,
số lượng ít, tái sinh ít
- Số quả/cuống ít: 2-4 quả
- Vỏ hạt dày, cứng
hạt ở Tây Nguyên. Để tài đã chọn hai loài này để nghiên cứu kỹ hơn về các đặc điểm lâm sinh
học làm cơ sở đề xuất biện pháp kỹ thuật gây trồng.
Bảng 2: Thành phần dinh dưỡng một số loài Dẻ ăn hạt (tỷ lệ % trọng lượng khô tuyệt đối)
TT Tên chỉ tiêu Đơn vị Dẻ anh Kha thụ nguyên Dẻ Bắc Giang Dẻ Trung Quốc
2 Protein %
4,45 4,32 3,49 7,31
3 Lipit %
0,15 0,94 0,84 0,35
4 Đường hòa tan %
14,05 12,90 13,28 14,53
5 Tinh bột %
73,15 68,56 66,57 71,88
Kết quả nghiên cứu được tóm tắt như sau:
Mọc tập trung cùng với các loài Cọ mai, Thành ngạnh, Bời lời trắng, Cóc rừng, Chò sót,
Cà ổi Trung Hoa, Kha thụ nguyên… trong rừng lá rộng hoặc rừng thông ở cả rừng thứ sinh
(K'Rông Bông) và nguyên sinh (Bidoup Núi Bà). Tham gia vào tầng tán chính của rừng với tỷ lệ
tổ thành cao, có thể chiếm ưu thế với tỷ lệ lên đến 30% số cây trong lâm phần. Tái sinh chồi và
hạt mạnh ở cả những trạng thái rừng có độ tàn cao đến 0,9. Cây tái sinh chịu bóng tốt. Là cây đơn
tính cùng gốc, có mùa hoa đực và cái lệch nhau để tránh thụ phấn cùng gốc. Một năm có thể có 2
mùa quả: Mùa chính ra hoa vào tháng 2-3, quả chín tháng 9-10; mùa phụ ra hoa tháng 6-7, quả
chín tháng 3-4 năm sau.
10
Bảng 03: Đặc điểm lâm phần có Dẻ anh phân bố tự nhiên ở Vườn Quốc gia Chư Mom Rây -
Sa Thầy - Kon Tum - Độ cao 685m, độ tàn che 0,7
Chỉ tiêu Tầng cây cao Tái sinh
Tổ thành loài 3,52 Cọ mai + 1,55 Thành
ngạnh + 1,55 Dẻ anh + 0,56
Cóc rừng + 2,82 Loài khác.
4,22 Dẻ anh + 1,36 Cọ mai +
0,85 Chò xót + 0,76 Thành
ngạnh + 0,68 Chòi mòi +
0,59 Bời lời trắng + 1,53
Loài khác.
Mật độ chung / mật độ tái sinh
Cám trong cả rừng thứ sinh và nguyên sinh. Tái sinh tương đối nhiều.
11
Mùa chính ra hoa chính tháng 2-3, quả chín tháng 9-10. Mùa phụ ra hoa tháng 5-6, quả
chín tháng 3-4 năm sau, số lượng quả trên một cuống lớn (8-10 quả).
Bảng 04: Đặc điểm lâm phần có Kha thụ nguyên phân bố tự nhiên Vườn Quốc gia Bidoup
Núi Bà - Klong Klanh - Lạc Dương - Lâm Đồng - Độ cao 1.507 m, độ tàn che 0,9
Chỉ tiêu Tầng cây cao Tái sinh
Tổ thành loài 4,21 Cà ổi Trung hoa +
1,4 Thạch trâu + 0,79 Bùi
+ 0,7 Cám + 0,7 Côm
cuống dài + 2,19 Loài
khác (0,35 Kha thụ
nguyên)
1,92 Dẻ đá + 1,54 Cà ổi Trung Hoa
+ 1,15 Côm cuống dài + 1,03 Cồng
+ 0,77 Trâm đỏ + 0,64 Thạch trâu
+ 0,51 Sơn trà + 2,44 Loài khác
(0,13 Kha thụ nguyên)
Mật độ chung / mật độ tái sinh
có triển vọng (cây/ha)
456 19.500 / 6.250
Mật độ Cà ổi Trung Hoa 192 3.000
Mật độ Kha thụ nguyên
(cây/ha)
16 250
Tổng tiết diện ngang (m
2
) 35,88
IV. KẾT LUẬN
, Nguyễn Toàn Thắng
1
Lương Văn Dũng
2
SUMMARY: Fagaceae is a large family of flora, in which many species produce the edible nuts or so-called
Chestnut. The research project has been carrying out in five provinces in the Central Highlands of Vietnam. The first
two year objectives (2006-2007) were to identify the species in the family whose nuts are edible, define their natural
distribution area and basic silvicultural and biological characteristics as the scientific bases to select the most
potential species to be planted to produce chestnuts in the region. The results show that there are more than 50
species in three genera: Castanopsis, Lithocarpus and Quercus in the Fagaceae family in the Central Highlands, of
which the nuts of 11 species are edible, and belong to the genera Castanopsis (9 species) and Lithocarpus (2
species). Based on the results of nutrient composition analyses, naturally distributed range, and silvicultural and
biological characteristics surveys, the two species Castanopsis pyriformis (Seem.) Hickel & A.Camus (Dẻ anh) and
Castanopsis pseudoserrata Hick. & Cam. (Kha thụ nguyên) have been considered as the most potential species to be
studied further to plant for chestnut production in the region.
Keywords: Castanopsis pseudoserrata, Castanopsis pyriformis, Central highland, Chestnut.
1
Viện Khoa học Lâm nghiệp Việt nam
2
Trường Đại học Đà Lạt
13