ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
NGUYỄN HỮU TIẾN
Tên đề tài:
NGHIÊN CỨU PHÂN BỐ VÀ ĐẶC ĐIỂM
LÂM HỌC CỦA LOÀI CÂY SA MỘC DẦU
(Cunninghamia konishii Hayata) TẠI VƯỜN QUỐC GIA
PÙ MÁT - TỈNH NGHỆ AN
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC Hệ đào tạo : Chính quy
Chuyên ngành : Nông lâm kết hợp
Khoa : Lâm nghiệp
Khóa học : 2010 - 2014
Giảng viên hướng dẫn : TS. Hồ Ngọc Sơn
Em xin bày tỏ lòng biết ơn đến các thầy cô giáo khoa Lâm Nghiệp đã
giảng dạy và giúp đỡ em có nguồn kiến thức bổ ích trong suốt thời gian học tập.
Đồng thời, em cũng xin gửi lời cảm ơn chân thành tới ban quản lý, các
kiểm lâm viên Vườn Quốc Gia Pù Mát, ban chỉ huy cùng các chiến sĩ đồn
biên phòng 551 đã tiếp nhận và tạo mọi điều kiện giúp đỡ em trong suốt quá
trình thực tập tốt nghiệp.
Cuối cùng em xin cảm ơn tới gia đình, bạn bè, những người đã quan
tâm, giúp đỡ, dành cả tâm huyết, động viên tinh thần cho em có kết quả như
ngày hôm nay.
Em xin chân thành cảm ơn!
Thái Nguyên, ngày 18 tháng 05 năm 2014
Sinh viên Nguyễn Hữu Tiến
i
MỤC LỤC
Trang
Phần 1. MỞ ĐẦU 1
1.1. Đặt vấn đề 1
1.2. Mục đích nghiên cứu 1
1.3. Mục tiêu của đề tài 1
1.4. Ý nghĩa nghiên cứu đề tài 2
1.4.1. Ý nghĩa học tập 2
1.4.2. Ý nghĩa trong nghiên cứu khoa học 2
1.4.3. Ý nghĩa thực tiễn 2
Phần 2. TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 3
4.2.3. Đặc điểm sinh thái loài SMD tại vườn quốc gia Pù Mát 37
4.2.4. Đặc điểm tái sinh tự nhiên của loài cây Sa mộc dầu 39
4.3. Giá trị nguồn gen của loài cây Sa mộc dầu. 40
4.4. Một số giải pháp bảo tồn và phát triển loài Sa mộc dầu 40
4.4.1. Nhóm các giải pháp về kỹ thuật 40
4.4.2. Nhóm giải pháp về chính sách pháp luật 41
4.4.3. Giải pháp kinh tế - xã hội 42
Phần 5. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 43
5.1. Kết luận 43
5.3. Kiến nghị 44
TÀI LIỆU THAM KHẢO 45
PHỤ LỤC
iii
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
SMD : Sa mộc dầu
D
1.3
: Đường kính thân cây tại vị trí một mét ba
H
vn
: Chiều cao vút ngọn
Hstt : Hệ số tổ thành
VQG : Vườn Quốc Gia
QG : Quốc gia
NCKH : Nghiên cứu khoa học
m : Mét (đơn vị)
thuộc tuyến Khe Bu 30
Bảng 4.9. Hệ số tổ thành tầng cây cao ÔTC 07 tọa độ (0454548-2099233)
thuộc tuyến Tam Đình - Tam Hợp 31
Bảng 4.10. Hệ số tổ thành tầng cây cao ÔTC 08 tọa độ (0454502-2099146)
thuộc tuyến Tam Đình - Tam Hợp 31
Bảng 4.11. Hệ số tổ thành tầng cây cao ÔTC 09 tọa độ (0454486-2099208)
thuộc tuyến Tam Đình - Tam Hợp 32
Bảng 4.12. Hệ số tổ thành tầng cây cao ÔTC 10 tọa độ: (0454462-2099175)
thuộc tuyến Tam Đình - Tam Hợp 33
Bảng 4.13. Số liệu khí hậu 4 trạm khí tượng thủy văn VQG Pù Mát 38
v
DANH MỤC CÁC HÌNH Hình 2.1. Bản đồ Vườn Quốc Gia Pù Mát 10
Hình 2.2. Bản đồ hiện trạng rừng Vườn Quốc Gia Pù Mát 11
Hình 4.1. Hình thái thân cây Sa mộc dầu 34
Hình 4.2. Hình thái vỏ cây Sa mộc dầu 35
Hình 4.3. Hình thái lá cây Sa mộc dầu 35
Hình 4.4. Nơi có Sa mộc dầu phân bố 37
1
Phần 1
MỞ ĐẦU
1.1. Đặt vấn đề
Bên cạnh vấn đề trồng rừng để phủ xanh đất trống đồi núi trọc. chúng ta
cần chú ý đến việc bảo tồn, khai thác và phát triển các nguồn gen quý hiếm. Sa
mộc dầu là nguồn gen quí hiếm được phân hạng ở cấp VU A1adC1 trong sách
Đỏ Việt Nam năm 2007 và xếp nhóm 2 trong danh lục thực vật rừng động vật
phân bố, đặc điểm cấu trúc quần xã thực vật rừng nơi SMD phân bố (mật độ,
tổ thành, tầng thứ, thường gặp).
+ Đặc điểm tái sinh tự nhiên: Mật độ, cấu trúc tổ thành cây tái sinh,
chất lượng cây tái sinh, phân cấp theo chiều cao và cây có triển vọng, đặc
điểm tái sinh.
1.4. Ý nghĩa nghiên cứu đề tài
1.4.1. Ý nghĩa học tập
- Áp dụng được lý thuyết đã học vào thực tiễn và học hỏi được thêm nhiều
kiến thức bổ ích từ bên ngoài trường học.
- Củng cố được kiến thức cơ sở cũng như chuyên ngành, sau này có điều
kiện tốt hơn để phục vụ công tác phát triển ngành lâm nghiệp nước nhà.
1.4.2. Ý nghĩa trong nghiên cứu khoa học
- Tạo điều kiện cho sinh viên được tiếp xúc, làm quen với thực tế công
tác nghiên cứu khoa học.
- Góp phần hoàn chỉnh dữ liệu khoa học về việc nghiên cứu chuyên sâu
loài cây quý hiếm SMD.
- Là cơ sở khoa học để lựa chọn các giải pháp bảo tồn và phát triển SMD.
1.4.3. Ý nghĩa thực tiễn
Trên cơ sở việc nghiên cứu phân bố và đặc điểm lâm học của SMD xác
lập cụ thể các tiểu khu có SMD phân bố và giao cho các trạm quản lý bảo vệ
rừng vườn quốc gia Pù Mát. Từ đó đưa ra các giải pháp bảo tồn và phát triển loài
cây SMD.
3
Phần 2
TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU
2.1. Tổng quan các tài liệu nghiên cứu
2.1.1. Trong nước
Tại Việt Nam Sa mộc dầu phân bố ở Thanh Hóa, Nghệ An, Sơn La và
Hà Giang (Tây Côn Lĩnh). TẠi Hà Giang khi cơn sốt gỗ và tinh dầu rộ lên
học và sinh thái của loài (Trần Văn Dương, 2001) [5]. Nghiên cứu tại Vườn
Quốc Gia Pù Mát, Nghệ An (Nguyễn Văn Sinh, 2009) cho thấy tình hình
tái sinh của Sa mộc dầu (Cunninghamia konishii Hayata) rất kém [12]. Cây
tái sinh chủ yếu xuất hiện ở giai đoạn cây mạ và khi chuyển sang giai đoạn
cây con thì ít bắt gặp, tỷ lệ cây con có triển vọng rất thấp. Đây là một vấn
đề và là một thách thức lớn đang đặt ra trong công tác bảo tồn loài cây quý
hiếm này. Quả (nón) Sa mộc dầu sau khi chín thì hạt không được tách ra
mà vẫn nằm nguyên ở trên nón. Nón rụng xuống gặp điều kiện thuận lợi sẽ
nảy mầm cây tái sinh ngay trên nón. Hiện tượng này hoàn toàn khác so với
các loài thuộc ngành hạt trần mà chúng ta đã nghiên cứu và tìm hiểu. Qua
đây chúng ta có thể giải thích tại sao trong tự nhiên thường thấy Sa mộc
dầu tái sinh theo cụm hoặc theo đám. Một đặc điểm quan trọng là mật độ
cây tái sinh bắt gặp nhiều nhất ở khu vực đất trống, nhiều ánh sáng hoặc
nơi đất có sự thay đổi như: sạt lở, làm mới. Điều này chứng tỏ cây tái sinh
của SMD có nhu cầu ánh sáng rất cao, đây cũng chính là nguyên nhân dẫn
đến dưới tán rừng rất ít xuất hiện cây tái sinh của SMD. Bởi vì dưới tán
rừng có SMD phân bố có độ tàn che rất cao, thiếu hụt ánh sáng rất lớn và
làm cho cây tái sinh SMD không phát triển được.
Nghiên cứu cho thấy các kích thước quần thể Sa mộc dầu trong VQG
Pù Mát và khu vực bảo tồn Xuân Liên rất nhỏ ( dưới 100 cá thể). Trong
chương trình 661 năm 2001 có trồng một quần thể SMD khoảng 500 cá thể
trong rừng Tây Sơn (Nghệ An) (Nguyễn Minh Tâm và nnk 2013) [1]. Không
quan sát thấy tái sinh tự nhiên tại rừng thứ sinh Khe Thơi, Bát Một và Tân
Sơn (Nghệ An). Tuy nhiên có thấy tái sinh tại những vùng sạt lở tại khu vực
Tam Hợp dọc theo đường Việt - Lào. Tình trạng bảo tồn của loài hiện nay
thuộc nhóm bị đe dọa nghiêm trọng do đó đòi hỏi có biện pháp cấp thiết nhằm
baảo ệ loài và sinh cảnh [1].
5
2.1.2. Trên thế giới
Nghiên cứu khai thác và sử dụng bền vững nguồn gen thực vật là cơ sở
Nha là 19,5%; Ôxtrâylia là 14,4%; Cu Ba 13,6%; Pê Ru 13,1%; Nhật Bản
12,7%; và Braxin là 2,4% (Lê Đình Khả, Nguyễn Hoàng Nghĩa, Nguyễn
Xuân Liệu, 2006) [6].
Các ngiên cứu ở Thái Lan, Philippin và Malaysia cho thấy nhiều giống
cây trồng địa phương đã và đang bị thay thế bằng những giống cây khác, cây
nhập nôi. Báo cáo của FAO (1996) trích dẫn nghiên cứu ở Hàn Quốc cho thấy
74% của 14 loài cây trồng phổ biến trên trang trại năm 1985 thì đã bị thay thế
vào năm 1993. Tại Châu Phi thì việc suy thoái và phá hủy rừng là những
nguyên nhân chính của việc suy thoái nguồn gen. Báo cáo từ hầu hết ở các
nước Mỹ La Tinh cũng cho thấy sự suy giảm nguồn gen của những loài cây
lâm nghiệp có giá trụ kinh tế. Peru, Cô lôm bi a, Hay Panama là những ví dụ
điển hình theo báo cáo, báo cáo của bộ nông nghiệp Mỹ cho thấy rằng 95%
Giống bắp cải, 91% giống ngô, 94% đậu đỗ và 81% giống khoai tây đã không
còn tồn tại. Theo hiệp hội các vườn thực vật quốc tế (BGCI - Botanic Garden
Conservation international), khoảng 100.000 loài thực vật (tương đương 1/3
số loài thực vật trên thế giới) đang bị đe dọa tiệt chủng [3] [4].
Có sự liên quan chặt chẽ giữa vấn đề văn hóa và đa dạng dinh học. Đa
dạng sinh học có giá trị văn hóa, được thể hiện qua những kiến thức, kinh
nghiệm sử dụng, quản lý tài nguyên lâu đời của người dân. Công ước đa dạng
sinh học cũng đề cập đến điều này. Do vậy việc mất mát đa dạng sinh học sẽ
dẫn đến sự mất mát những kiến thức kinh nghiệm lâu đời của người dân địa
phương gắn với những loài sinh vật đó. Hiện nay thì chưa có một hệ thống
theo dõi giám sát sự suy giảm, mất mát nguồn gen cũng như những kiến thức
bản địa liên quan. Việc suy thoái nguồn gen sẽ làm suy giảm nguồn nguyên
liệu di truyền cho các thế hệ tương lai. Bên cạnh đó thì cánh cửa cho những
lựa chọn tiến hóa và phát triển của nhiều loài cũng sẽ đóng lại. Sự đơn điệu về
gen là một trong những thảm họa cho di truyền, tiến hóa và phát triển.
Hiện nay nhiều quốc gia, trong đó có Việt Nam đã nhận ra tầm quan
trọng của việc điều tra đánh giá toàn diện các loài cây trồng, các loài hoang
dã, các hệ sinh thái và những kiến thức liên quan. Những điều tra như vậy sẽ
gen cho một số cây trồng rừng chủ yếu. Ví dụ, ở châu Âu tập trung ở nhóm
cây lá kim, ở Trung Cận Đông là nhóm Sồi Giẻ (Quercus). Ở các nước Băc
Âu, bảo tồn nguồn gen cũng chỉ tập trung ở một số loài lá kim thuộc các chi
Picea, Pinus, Psendotauga, Larix và một số loài cây lá rộng thuộc chi Populus.
Tại Đài Loan, Sa mộc dầu cũng được coi là gỗ tốt nên bị khai thác trên
quy mô lớn , kết quả là các quần thể hiện tại bị chia cắt, nằm rải rác không tập
trung (Chung et al.,) [14]. Nguồn gen Sa mộc dầu tại Đài Loan đang được lưu
giữ bảo tồn trong ngân hàng hạt giống cùng với 152 loài thực vật khác
(Huang et al., 2008) [15].
8
Sau nhiều thập kỷ khai thác cạn kiệt, từ những năm 1950 chương trình
trồng rừng qui mô lớn được thực hiện đã góp phần bảo tồn và phát triển
nguồn gen loài này. Tại Đài Loan Sa mộc dầu phân bố ở độ cao 1300-2800m.
sinh trưởng tốt nhất ở nhiệt độ trung bình năm 17-22
0
C và lượng mưa 2000-
3500mm/năm. Trên các địa điểm phù hợp cây có thể tăng 1m chiều cao và
1cm đường kính một năm. Nhằm nâng cao chất lượng gỗ và sinh trưởng thì
nhiều chương trình nghiên cứu, khảo nghiệm đã được thực hiện từ những năm
1970. Từ những năm 1990 chính phủ đã đóng cửa rừng nhằm ngăn chặn suy
giảm nguồn gen lâm nghiệp, đồng thời nâng cao giá trị sử dụng của rừng
(Chung et al., 2009) [14].
2.1.3. Nhận xét chung
Sa mộc dầu, Sa mu dầu (Cuninghamia konishii Hayata) còn có tên gọi
khác là Ngọc am, Sa mộc Quế phong, thuộc họ Hoàng đàn (Cupressaceae)
nhưng thuộc bộ Thông (Coniferales). Sa mộc dầu là nguồn gen quý hiếm
được xếp nhóm Iia: Thực vật rừng, động vật rừng hạn chế khai thác, sử dụng
vì mục đích thương mại của nghị định 32/2006/NĐ-CP về việc quản lý thực
vật rừng, động vật rừng nguy cấp, quí, hiếm. Trên thế giới SMD phân bố ở
Đài Loan và Lào, ở Việt Nam phân bố hẹp tại một số địa phương như Hà
- 19
0
12
'
Vĩ độ Bắc.
104
0
24
'
- 104
0
56
'
Kinh độ Đông.
Ranh giới của VQG, về phía Nam có chung 61 km với biên giới quốc
gia giáp với cộng hòa Dân chủ Nhân Dân Lào.
Phía Tây giáp các xã Tam Hợp, Tam Đình, Tam Quang (Huyện
Tương Dương).
Phía Bắc giáp với các xã Lang Khê, Châu Khê, Lục Dạ, Môn Sơn
(Huyện Con Cuông) (Hình 2.1).
Phía Đông giáp các xã Phúc Sơn, Hội Sơn (Huyện Anh Sơn).
2.2.1.2. Địa giới hành chính.
Toàn bộ diện tích VQG nằm trong địa giới hành chính của 3 huyện Anh
Sơn, Con Cuông và Tương Dương Tỉnh Nghệ An. Diện tích vùng lõi là 94.804.4
ha và vùng đệm khoảng 86.000 ha nằm trên địa bàn 16 xã (Hình 2.1).
Huyện Anh Sơn gồm 5 xã: Phúc Sơn, Hội Sơn, Tường Sơn, Cẩm Sơn và
Đỉnh Sơn.
Huyện Con Cuông gồm 7 xã: Môn Sơn, Lục Dạ, Yên Khê, Bồng Khê,
Châu Khê, Chi Khê và Lạng Khê.
Huyện Tương Dương gồm 4 xã: Tam Quang, Tam Đình, Tam Hợp
Hình 2.1. Bản đồ Vườn Quốc Gia Pù Mát
11
Cuông
Anh
Sơn
Vinh
1 Nhiệt độ trung bình năm (
0
C) 23
0
6 23
0
5 23
0
7 23
0
9
2
Nhiệt độ không khí cao nhất
tuyệt đối
42,7
0
C/5
42,
0
C/5
42,1
0
C/5
81 86 86 85
10
Độ ẩm không khí tối thấp bình
quân (%)
59
64
66
68
11 Độ ẩm không khí tối thấp td (%) 9/I 14/III 21/XI 15/X
12
Tọa độ trạm:
Vĩ độ
Kinh độ
19
0
17’
104
0
26’
19
0
03’
105
đông bắc nên nhiệt độ trung bình trong các tháng này xuống tới 20
o
C và nhiệt
độ trung bình thấp nhất xuống dưới 18
0
C (tháng giêng).
+ Ngược lại trong mùa hè, do có sự hoạt động của gió Tây nên thời tiết rất
kho nóng, kéo dài tới 3 tháng (từ tháng 4 đến tháng 7) . Nhiệt độ trung bình mùa
hè lên tới 25
0
C, nóng nhất là tháng 6 và 7, nhiệt độ trung bình là 29
o
C. Nhiệt độ
tối cao lên tới 42
0
C ở Con Cuông và Tương Dương vào tháng 4, 5 nhiệt độ là
42,7
0
C, độ ẩm trong các tháng này có nhiều ngày xuống dưới 30%.
13
- Chế độ mưa ẩm:
+ Vùng nghiên cứu có lượng mưa từ ít đến trung bình, 90% lượng nước
tập trung trong mùa mưa. Lượng mưa lớn nhất là tháng 9, 10 và thường kèm
theo lũ lụt. Mùa khô từ tháng 12 đến tháng 4 năm sau. Các tháng 2, 3, 4 có
mưa phùn do chịu ảnh hưởng của gió mùa Đông Bắc. Tháng 5, 6, 7 là những
tháng nóng nhất và lượng nước bốc hơi cao nhất.
+ Độ ẩm không khí trong vùng đạt 85 - 86%, ,mùa mưa lên tới 90%.
Tuy vậy những giá trị cực thấp về độ ẩm vẫn thường đo được trong thời kì
nóng kéo dài.
- Thủy văn:
Giăng) và bờ phải sông Cả. Vùng này được cấu tọa từ các trầm tích bờ rời, dễ
bị xâm thực trong đó phổ biến là các dạng địa hình đồi khá bằng phẳng, bãi
bồi và them song khá phát triển.
- Thổ Nhưỡng:
Các loại đất trong vùng được thống kê:
Bảng 2.2. Các loại đất trong vùng
TT Loại đất Diện tích
Đặc trưng cơ bản Phân bố
1
Đất Feralit
mùn trên núi
trung bình (FH)
34511ha
(17,7%)
Đất có màu vàng đỏ hoặc vàng
xám, tầng mùn dầy thành phần
cơ giới (tpcg) nhẹ đến tru
ng
bình. Có 2 loại phụ:
Phân b
ố từ độ cao
800,900m đ
ến
1800m dọc biên gi
ới
Việt Lào
1.1 FHs
4818 ha
Đất có màu đỏ vàng
hay vàng
đỏ, tầng tích tụ dày n
ền vật chất
tạo đất chia ra các loại phụ:
Phân bố phía Bắc v
à
Đông Bắc VQG
2.1 Fs
56584 ha
(29,1%)
Đất Feralit đỏ vàng, TPCG n
ặng
đến trung bình
Phân b
ố chủ yếu
phần trung tâm v
à
phía đông VQG
2.2 Fq
87376 ha
(44,9%)
Đất Feralit vàng nhạt, tpcg nhẹ
đền trung bình, tầng đất trung
bình có nhiều đá lẫn trong tầng đất
Phân b
ố chủ yếu ở
Núi đá vôi d
ốc đứng có cây gỗ
nhỏ che phủ thấp dưới 700m
Phân bố thành d
ải
nhỏ xen kẽ nhau b
ên
hữu ngạn sông Cả
5 Tổng số 194668 (Cả vùng đệm)
(
Nguồn: Phòng NCKH Vườn Quốc Gia Pù Mát)
15
2.2.2. Điều kiện kinh tế - xã hội
2.2.2.1. Dân số
Tổng dân số 16 xã là 16.954 hộ với 93.335 nhân khẩu. Phần lớn dân cư
phân bố trong 7 xã của huyện Con Cuông (39.419 nhân khẩu, 7.167 hộ) và 5
xã thuộc huyện Anh Sơn (38.163 nhân khẩu, 6.938 hộ). Số còn lại thuộc 4 xã
của huyện Tương Dương (15.753 nhân khẩu với 2.849 hộ), trung bình mỗi hộ
gia đình có từ 5 đến 6 người. Tăng dân số trong những năm nay là áp lực lớn
Bảng (2.3).
Bảng 2.3. Mật độ và dân số các xã
TT Đơn vị hành chính
DT tự
nhiên
(km
2
)
Số khẩu
2.4.2.2. Lao động
Do dân số phân bố không đều nên lực lượng lao động cũng phân bố
không đều và tập trung chủ yếu ở các xã vùng thấp của huyện Anh Sơn. Số
liệu thống kê của các Xã trong huyện Anh Sơn, Con Cuông và Tương Dương
năm 2003 cho thấy lực lượng lao động của các xã có liên quan tới VQG như
sau (B¶ng 2.4).
Bảng 2.4. Lao động và phân bố lao động của các xã
Đơn vị hành chính
Tổng
số
Nam Nữ
Số
người
Tỷ lệ
(%)
Số
người
Tỷ lệ
(%)
Huyện Anh Sơn 16418 8511 43,9 8507 42,5
Đỉnh Sơn 2831 1384 7,1 1447 7,2
Cẩm Sơn 2813 1051 5,4 1162 5,8
Tường Sơn 3579 1722 8,9 1857 9,3
Hội Sơn 4555 2211 11,4 2344 11,7
Phúc Sơn 3240 1543 8,0 1697 8,5
H. Tương Dương 5508 2741 14,1 2767 13,8
X. Tam Quang 2471 1224 6,3 1247 6,3
Tam Đình 1237 612 3,2 625 3,1
Tam Thái 1187 604 3,1 583 2,9
Tam Hợp 613 301 1,6 312 1,6
viên
Số
học
sinh
Số
trường
Số
giáo
viên
Số học
sinh
Số
trường
Số
giáo
viên
Số học
sinh
Huyện Con Cuông 3 104
2.178
13 355
6.815
2.2.2.4. Hệ thống thông tin liên lạc
Hệ thống thông tin liên lạc trên địa bàn huyện đã và đang được hiện đại
hóa. Đến nay 100% số xã và thị trấn đã có điểm bưu điện văn hóa xã. Hệ
thống truyền thanh và truyền hình đã được xây dựng sửa chữa, nâng cấp toàn
diện để đảm bảo cung cấp kịp thời những thông tin về tình hình kinh tế xã
hội, chủ trương đường lối chính sách của Đảng và Pháp luật Nhà Nước. Thực
hiện tốt việc cấp máy phát thu hình, các loại đài thu thanh tới các đối tượng
tới các đối tượng, người dân ở các khu vực vùng cao. Tuy nhiên vẫn có những
hạn chế như việc một số khu vực vùng sâu, vùng xa trong huyện chưa được
hưởng dịch vụ internet, khiến cho bộ phận người dân ở những vùng này chưa
thể chủ động trong việc tím kiếm thông tin.