BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH VÕ CÔNG ANH TUẤN
NGHIÊN CỨU TÍNH ĐA DẠNG VÀ ĐỀ XUẤT
GIẢI PHÁP BẢO TỒN CÁC LOÀI THÚ LỚN NGUY
CẤP QUÝ HIẾM Ở VƯỜN QUỐC GIA PÙ MÁT,
TỈNH NGHỆ AN
LUẬN VĂN THẠC SỸ SINH HỌC
CẤP, QUÝ HIẾM Ở VƯỜN QUỐC GIA PÙ MÁT,
TỈNH NGHỆ AN
Chuyên ngành: Động vật học
Mã số: 62 420 103 NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS. TS. Cao Tiến Trung
NGHỆ AN - 2014
i
LỜI CẢM ƠN
ii
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1. Tính cấp thiết của đề tài 1
2. Mục tiêu nghiên cứu của đề tài 2
3. Đối tượng nghiên cứu 2
4. Nội dung nghiên cứu 2
Chương 1 3
TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 3
1.1. Sơ lược tình hình nghiên cứu thú ở Việt Nam và VQG Pù Mát 3
1.1.1. Lịch sử nghiên cứu thú ở Việt Nam 3
1.1.2. Tình hình nghiên cứu thú ở VQG Pù Mát 8
1.2. Các giải pháp bảo tồn Đa dạng sinh học 10
1.3. Đặc điểm tự nhiên, kinh tế – xã hội khu vực nghiên cứu 12
1.3.1. Đặc điểm tự nhiên 12
1.3.2. Đặc điểm kinh tế - xã hội khu vực nghiên cứu 23
Chương 2 29
ĐỊA ĐIỂM, THỜI GIAN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 29
2.1. Địa điểm, thời gian nghiên cứu 29
3.3.9. Mang trường sơn Muntiacus truongsonensis Giao et al., 1997 63
3.3.10. Voọc xám Trachypithecus crepusculus (Elliot, 1909) 64
3.4. Các mối đe đọa trực tiếp và gián tiếp đến quần thể và sinh cảnh của các loài
thú lớn nguy cấp, quý hiếm ở VQG Pù Mát 65
3.4.1. Các mối đe dọa trực tiếp 65
3.4.2. Các mối đe dọa gián tiếp 70
4.5. Đề xuất các giải pháp quản lý và phát triển bền vững tài nguyên thú rừng ở
VQG Pù Mát. 75
4.5.1. Nâng cao năng lực quản lý 75
4.5.2. Tăng cường hiệu quả của các hoạt động thực thi pháp luật 77
4.5.3. Phối hợp với các cấp chính quyền địa phương 78
4.5.4. Tuyên truyền, giáo dục nâng cao nhận thức 78
4.5.5. Phát triển kinh tế cho dân cư vùng đệm 79
4.5.6. Cải thiện công tác cứu hộ và thả thú tịch thu được về rừng 80
4.5.8. Xây dựng các chương trình nghiên cứu khoa học, điều tra và giám sát thú. 82
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 83
Kết luận 83
Đề nghị 84
BÀI ĐĂNG BÁO CỦA TÁC GIẢ 85
TÀI LIỆU THAM KHẢO 86 iv
X Loài nằm trong Nghị định 160/2013/NĐ - CP
v
DANH LỤC BẢNG
Bảng 1.1. Thành phần các dân tộc sinh sống trong và quanh VQG Pù Mát 23
Bảng 1.2. Mật độ và dân số các xã 24
Bảng 1.3. Lao động và phân bố lao động của các xã 25
Bảng 1.4. Các loại đất đai trong khu vực 26
Bảng 1.8. Diện tích các loại đất nông nghiệp 27
Bảng 2.1. Thời gian và địa điểm nghiên cứu tại thực địa 29
Bảng 3.1: Danh sách các loài thú lớn ghi nhận được ở VQG Pù Mát 6
Bảng 3.2: Cấu trúc bộ, họ của các loài thú lớn ở VQG Pù Mát 43
Bảng 3.3: Danh sách các loài thú lớn nguy cấp, quý hiếm 45
Bảng 3.4. Sự phân bố của các loài thú lớn nguy cấp, quý hiếm theo các dạng sinh cảnh53
Bảng 3.5. Kết quả điều tra các mối đe dọa chính đối với động vật hoang dã 66
Bảng 3.6. Số vụ vi phạm về săn bắt động vật hoang dã bị xử lý qua các năm 67
Bảng 3.7. Số lượng các loài động vật được thu giữ và thả về rừng 69
Bảng 3.7. Biểu tổng hợp các vụ vi phạm 72
Bảng 3.9. Những khu vực thường bị khai thác gỗ 72
Bảng 3.10. Thu nhập của người dân địa phương 73
Bảng 3.11. Diện tích rừng chuyển đổi làm đường giao thông 74
DANH LỤC BẢN ĐỒ VÀ HÌNH
sumatrensis, Hươu sao Cervus nippon, Bò xám Bos sauveli) và 85 loài đang bị
đe dọa
diệt vong ở các mức độ khác nhau, chiếm gần 28% tổng số loài thú hoang dã đã biết
của Việt Nam. Danh lục đỏ IUCN (2014) đã ghi nhận và đánh giá được 5.488 loài. Do
đó, vấn đề nghiên cứu và bảo tồn các loài thú lớn nguy cấp, quý hiếm đang là vấn đề
thời sự. Nhà nước Việt Nam, cũng như các nước trên thế giới đã vào cuộc; nhiều tổ
chức quốc tế được thành lập và hoạt động về bảo tồn, phát triển các loài này.
Vườn quốc gia Pù Mát (VQG Pù Mát) được thành lập vào năm 1995 với diện
tích 94.804,4 ha, là khu bảo tồn có diện tích rừng đặc dụng lớn nhất phía Bắc Việt
Nam, đại diện cho hệ sinh thái rừng nhiệt đới và á nhiệt đới điển hình trên núi đất; độ
che phủ của rừng chiếm trên 90%, trong đó rừng nguyên sinh chưa bị tác động chiếm
gần 40%. VQG Pù Mát được xác định là khu vực có giá trị đa dạng sinh học cao với
rất nhiều loài thú lớn nguy cấp, quý hiếm có giá trị bảo tồn cấp quốc tế và trong nước
(Hổ, Voi, Vượn đen má trắng, các loài linh trưởng ). Đặc biệt, trong thế kỷ 20 các
nhà khoa học đã ghi nhận 4 loài thú lớn mới cho khoa học tại Việt Nam thì cả 4 loài
đều có mặt tại VQG Pù Mát. Cụ thể: Sao La (Pseudoryx nghetinhensis), Mang Lớn
(Muntiacus vuquangensis), Mang trường sơn (Muntiacus truongsonensis), Thỏ Vằn
(Nesolagus timminsi). Chính vì vậy, VQG Pù Mát đóng vai trò rất quan trọng trong
2
chiến lược bảo tồn đa dạng sinh học của Việt Nam, cũng như thế giới. Bên cạnh đó,
Vườn có 61 km ranh giới tiếp giáp với một khu rừng nguyên sinh ít bị tác động của
nước bạn Lào (huyện Viengthong, tỉnh Bolikhamxay). Tổng diện tích VQG Pù Mát và
khu rừng nguyên sinh của Lào khoảng 250.000ha đã thành một khu vực rộng lớn và
quan trọng để thiết lập các chương trình bảo tồn liên quốc gia nhằm bảo tồn các loài
thú lớn có phạm vi hoạt động rộng như Hổ, Voi. Tuy nhiên, công tác quản lý VQG vẫn
còn gặp nhiều khó khăn vì các số liệu về hiện trạng, sinh học, sinh thái của các loài thú
1.1. Sơ lược tình hình nghiên cứu thú ở Việt Nam và VQG Pù Mát
1.1.1. Lịch sử nghiên cứu thú ở Việt Nam
Theo “Động vật chí Việt Nam” (2008) [2]: Lịch sử nghiên cứu khu hệ thú
hoang dã Việt Nam gắn liền với lịch sử nghiên cứu động vật giới Việt Nam và có thể
chia thành 3 thời kỳ như sau: Trước 1954; từ 1955 đến 1975 và từ 1975 đến nay.
* Thời kỳ trước 1954
Nghiên cứu khu hệ thú ở Việt Nam được bắt đầu vào đầu thế kỉ 18 với các
công trình của Lê Quý Đôn (1724-1784): Sách “Văn đài loại ngữ” và “Phủ biên tạp
lục”, sách “Đại Nam nhất thống chí” của các nhà bác học Triều Nguyễn (1865-
1882), Trong thời kỳ này, việc nghiên cứu tập trung vào thống kê những loài thú có
sản phẩm quí giá (như voi, tê giác, hươu, nai, hươu xạ, gấu, hổ, báo,…) liên quan
đến việc khai thác các sản phẩm của chúng làm đồ mỹ nghệ trang trí các lâu đài
chùa chiền hoặc cống nạp cho các triều đại phong kiến nước ngoài (ngà voi, sừng tê
giác, móng trâu bò, vuốt và da hổ, báo, ) và làm thuốc chữa bệnh trong nhân dân
(mật gấu, mật các loài khỉ, vảy tê tê, xạ hương, nhung hươu,…).
Đến thế kỉ 19, các nhà khoa học nước ngoài bắt đầu các cuộc khảo sát về
động vật giới Việt Nam, đã thu thập các mẫu vật thú chuyển về các bảo tàng tự nhiên
ở Pari (Pháp) và Luân Đôn (Anh) để phân tích. George Filayson (Anh) đã tiến
hành các cuộc khảo sát thú đầu tiên ở Thái Lan, Lào, Campuchia và Việt Nam vào
những năm 1821-1822. Các tiêu bản thú thu được trong các đợt khảo sát này dần dần
được M.E. Dustales (1874, 1893, 1898), R. Germain (1887) và J. H. Gurney (1889)
phân tích và công bố.
Đến cuối thế kỉ 19, đầu thế kỉ 20, việc khảo sát động vật giới Việt Nam tiếp
tục được hàng loạt các nhà khoa học nước ngoài thực hiện: Milne-Edwards (1867-
1874), Morice (1875), Billet (1896-1898); Butan (1900-1906), Kloss (1920-1926),
Delacour (1925-1933), Kelley-Roosevelt (1928-1929), Đoàn nghiên cứu lịch sử tự
nhiên ở Đông Dương của Pavie (1879-1895) đã tiến hành khảo sát tại Lào,
Cămpuchia, Thái Lan và Việt Nam. Ở Việt Nam, đoàn chủ yếu khảo sát ở Nam Bộ.
Các tiêu bản thú của đoàn Pavie được Pousargues phân tích và công bố (1904).
4
cứu thú ở miền Bắc Việt Nam do 3 cơ
quan chính đảm nhận là: Ban Sinh vật địa
học - Uỷ ban Khoa học và Kỹ thuật Nhà Nước; Trường Đại học tổng hợp Hà Nội và
Tổng Cục Lâm nghiệp. Ngoài ra, còn có một số cơ quan khác cũng tiến hành cứu:
Viện Sốt rét – Ký sinh trùng và Côn trùng, Viện Vệ sinh Dịch tễ, Trường Đại học
quân y thuộc Bộ Y tế và Trường Đại học Sư Phạm Hà Nội. Thời kỳ này, nghiên cứu
động vật được tiến hành rộng rãi ở khắp các tỉnh miền Bắc Việt Nam. Nhiều kết quả lần
lượt được công bố trên các tạp chí trong và ngoài nước.
5
Về thú có những công trình của Đào Văn Tiến đã được công bố trên tạp chí Sinh
vật – Địa học, tạp chí Hoạt động khoa học v.v và một số tạp chí nước ngoài như: Tạp
chí động vật học của Liên Xô cũ, Zoologischer Azeiger Mitt Mus. Berlin, zeitr. Saugetier
Kunde v.v Về các loài thú ăn thịt và thú móng guốc ngón chn, có công trình của Đặng
Huy Huỳnh (1968); nghiên cứu về khu hệ sinh hoc, sinh thái của một số loài thú có công
trình của Võ Quý, Mai Đình Yên, Lê Hiền Hào, Nguyễn Thạnh (1961); Lê Hiền Hào
(1962,1964, 1969, 1973); Lê Hiền Hào và Trần Hải (1970, 1971); Đặng Huy Huỳnh và
Vũ Đình Tuân (1964); Đặng Huy Huỳnh, Đỗ Ngọc Quang và Sablina (1964); Đặng Huy
Huỳnh, Cao Văn Sung (1965); Cao Văn Sung (1971); Đặng Huy Huỳnh, Phạm Trọng
Ảnh (1973-1974); Đặng Huy Huỳnh, Phạm Trọng Ảnh, Bùi Kính (1975) …
Đáng chú ý là việc điều tra khu vực xã Thường Tiến (Kim Bôi, Hòa Bình) để lập
thành Khu bảo vệ thiên nhiên do Cục bảo vệ - Tổng cục Lâm nghiệp tiến hành (Nguyễn
Thanh Sơn, Phạm Mộng Giao, 1973).
Đặc biệt đáng kể, từ năm 1962 – 1966 Ủy ban Khoa học và Kỹ thuật Nhà nước
tổ chức một đoàn nghiên cứu liên hợp động vật – ký sinh trùng, côn trùng, gồm nhiều cơ
quan phối hợp đã tiến hành điều tra trên 12 tỉnh ở miền Bắc Việt Nam, trong đó có
nhóm nghiên cứu thú.
trình nghiên cứu điều tra động vật vùng đồng bằng sông Cửu Long, các tỉnh miền
Đông Nam Bộ do Viện Khoa học Việt Nam chủ trì, Chương trình kiểm kê tài nguyên
rừng do Bộ Lâm nghiệp chủ trì; chương trình Động vật chí Việt Nam do Viện Khoa
học và Công nghệ Việt Nam chủ trì (1996-2005); Đặc biệt, trong thời kỳ này có sự
phát triển đáng kể về hợp tác quốc tế trong điều tra nghiên cứu động vật ở nước ta.
Trước hết là sự hợp tác với Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa trước đây (Trung
Quốc, Hungary, Ba Lan, Đức, ). Đáng kể nhất là Chương trình hợp tác Việt-Xô
nghiên cứu tổng hợp hệ sinh thái rừng nhiệt đới Kon Hà Nừng (Gia Lai) giữa Viện
Sinh vật học thuộc Viện Khoa học Việt Nam và Viện Hình thái Tiến hoá và Sinh
thái động vật thuộc Viện hàn lâm Khoa học Liên Xô (1981-1985). Sau những năm
1985, với chính sách đổi mới và mở cửa, sự hợp tác được mở rộng sang các nước
không phải xã hội chủ nghĩa (Mỹ, Anh, Pháp, Hà Lan, Nhật, ). Một số tổ chức chính
phủ và phi chính phủ đã mở văn phòng đại diện và có những đóng góp tích cực vào
công tác điều tra nghiên cứu động vật ở Nước ta: Hiệp hội Bảo tồn Thiên Nhiên Thế
giới (IUCN), Quĩ Quốc tế về Bảo tồn Thiên nhiên (WWF), Tổ chức Birdlife Quốc tế,
Tổ chức Bảo tồn động thực vật Quốc tế (FFI), Trung tâm Nhiệt đới Việt-Nga,
Kết quả nghiên cứu thú trong thời kỳ này là rất to lớn với hàng nghìn công
trình được công bố trong nước và trên quốc tế của rất nhiều nhà khoa học: Đào Văn
Tiến, Đặng Huy Huỳnh, Cao Văn Sung, Lê Vũ Khôi, Hà Đình Đức, Trần Hồng
Việt, Phạm Trọng Ảnh, Hoàng Minh Khiên, Nguyễn Xuân Đặng, Lê Xuân Cảnh,
Phạm Nhật, Đặng Ngọc Cần, Nguyễn Minh Tâm, Vũ Ngọc Thành, Nguyễn Trường
7
Sơn, Lê Đình Thống, Ngoài ra, còn rất nhiều các luận án tiến sỹ của các khoa học
Việt Nam cũng góp phần tổng kết các kết quả
nghiên cứu thú ở Việt Nam.
Các công trình đã công bố về thống kê thành phần loài thú ở Việt Nam phải kể
Vượn đầu trắng ở Cát Bà.
- “Thú linh trưởng của Việt Nam” của Phạm Nhật (2002) mô tả đặc điểm sinh
học, sinh thái của 25 loài thú Linh trưởng ở Việt Nam.
- “Thú Việt Nam” của Kyznetsov (2006) ngoài việc xây dựng danh lục thú
hoang dã Việt Nam gồm 310 loài thú thuộc 44 họ và 14 bộ (kể cả các loài thú biển)
còn cung cấp nhiều tư liệu quan trọng về đặc điểm khu hệ và sinh học, sinh thái của
nhiều loài thú Việt Nam.
- “Sách Đỏ Việt Nam. Phần Động Vật” (2007), mô tả hình trạng và đặc điểm
sinh học sinh thái của 90 loài thú đang bị đe doạ diệt vong ở Việt Nam.
- “Thú rừng (Mammalia) Việt Nam - Hình thái và sinh học sinh thái một số
loài”, tập 1 của Đặng Huy Huỳnh và cs. (2008), môt tả đặc điểm sinh học sinh thái
của nhiều loài thú nhỏ (thú ăn sâu bọ Insectivora, Dơi Chiroptera) ở Việt Nam.
- “Động vật chí Việt Nam. Tập 25: Lớp Thú –Mammalia” của Đặng Huy
Huỳnh và cs. (2008) mô tả đặc điểm hình thái phân loại và sinh học sinh thái của 145
loài thú ở Việt Nam thuộc các bộ Linh trưởng (Primates), Ăn thịt (Carnivora),
Móng guốc ngón lẻ
(Perissodactyla), Móng guốc ngón chn (Artiodactyla) và bộ
Gậm nhấm (Rodentia).
Như vậy, trong suốt 3 thế kỷ qua, các nghiên cứu về khu hệ thú Việt Nam đã
từng bước phát triển cả về lượng và về chất. Theo danh lục đầy đủ nhất [2] [23], đến
nay ở Việt Nam đã thống kê được 322 loài thú thuộc 43 họ và 15 bộ (kể cả các loài
thú biển). Các nghiên cứu về các đặc điểm sinh học sinh thái của các loài cũng đã thu
được những kết quả đáng kể góp phần quan trọng vào việc quy hoạch quản lý, bảo
tồn, phát triển và sử dụng hợp lý khu hệ thú hoang dã Việt Nam. Tuy vậy, trong thiên
nhiên Việt Nam kỳ vọng rằng còn nhiều điều bí ẩn về khu hệ thú, cần được tiếp tục
nghiên cứu, tìm hiểu cả về mặt phân loại học, về sinh thái học, về giá trị và các giải
có 38 loài ghi nhận bằng quan sát trực tiếp và phân tích các di vật còn được lưu giữ
trong nhà các thợ săn gồm Tupaiidae có 1 loài, Cynocephalidae có 1 loài,
Cercopithecidae có 5 loài, Hylobatidae có 1 loài, Canidae có 1 loài, Ursidae có 2 loài,
Mustelidae có 3 loài, Vierridae có 7 loài, Herpestidae có 1 loài, Felidae có 4 loài,
Elephantidae có 1 loài, Suidae có 1 loài, Cervidae có 3 loài, Bovidae có 3 loài,
Sciuridae có 5 loài, Pteromyidae có 1 loài, Hystricidae có 1 loài.
- Năm 2007 một đoàn công tác của Viện sinh thái và tài nguyên sinh vật do PGS.
TS. Nguyễn Xuân Đặng trưởng đoàn đã phối hợp với Phòng Khoa học và HTQT thực
hiện điều tra nghiên cứu nơi cư trú và thức ăn Sao la tại VQG Pù Mát. Kết quả điều tra
đã tiếp tục khẳng định: Khu vực suối khoáng (salt lick) thuộc Khe Bống là nơi có sự
phân bố của Sao La và cũng là nơi dễ ghi nhận nhất dấu vết của Sao La tại hiện trường.
Cho đến nay đã ghi nhận được có 133 loài thú, thuộc 29 họ, 11 bộ phân bố ở
VQG Pù Mát. Trong đó có 46 loài nằm trong SĐVN (2007) bao gồm 3 loài ở mức CR
10
(Rất nguy cấp), 18 loài ở mức EN (Nguy cấp),19 loài ở mức VU (Sẽ nguy cấp), 3 loài
ở mức LR (Ít nguy cấp), 3 loài ở mức DD (Thiếu dẫn liệu). Thực tế tư liệu về đặc điểm
sinh học sinh thái, hiện trạng về khu hệ thú, đặc biệt là đối với các loài thú lớn nguy
cấp, quý hiếm còn rất nghèo nàn, dẫn đến thiếu cơ sở để đề ra các giải pháp nâng cao
hiệu quả quản lý VQG Pù Mát. Do vậy, việc nghiên cứu tính đa dạng, các đặc điểm
sinh học sinh thái, cũng như các mối đe dọa đến các loài thú lớn nguy cấp, quý hiếm
và đưa ra các giải pháp tăng cường quản lý bảo tồn nguồn tài nguyên thú rừng là rất
cần thiết và cấp bách.
1.2. Các giải pháp bảo tồn Đa dạng sinh học
Để bảo tồn, phát triển các loài đang bị đe dọa tuyệt chủng có 2 giải pháp quan
trọng nhất đang được sử dụng rộng rãi trên thế giới là bảo tồn tại chỗ và bảo tồn
chuyển chỗ.
chỗ” của Công Ước có các mục (a), (b) và (c) qui đinh rõ các nước tham gia công
ước ĐDSH có trách nhiệm thành lập hệ thống khu BTTN, xây dựng các hướng dẫn
11
lựa chọn, thành lập và quản lý các khu BTTN, và quản lý các tài nguyên sinh học
bên trong các khu BTTN để đảm bảo bảo tồn và sử dụng bền vững.
Ở Việt Nam đến nay đã có 30 VQG và khoảng 70 khu bảo tồn loài, sinh
cảnh. Đa dạng sinh học tập trung chủ yếu tại đây, nên các VQG, khu BTTN đóng
vai trò rất quan trọng trong công tác bảo tồn nguồn tài nguyên này tại Việt Nam.
* Bảo tồn chuyển chỗ (ex-situ)
Bảo vệ chuyển chỗ là bảo vệ các loài ngoài nơi chúng cư trú tự nhiên. Nói cách
khác, là đưa đại diện của các loài có nguy cơ diệt vong vào nhân nuôi trong điều kiện
nhân tạo để bảo tồn, phát triển chúng thành các quần thể mới nhằm đảm bảo sự tồn tại
của loài và tạo nguồn con giống để bổ sung cho các quần thể tự nhiên đó đang bị suy
giảm hoặc thả
lại vào thiên nhiên để hình thành những quần thể tự nhiên mới ở những
nơi mà trước đây loài đó tồn tại. Nhân nuôi nhân tạo chỉ là phương pháp bổ trợ chứ
không thể thay thế
cho phương thức bảo tồn tại chỗ.
Bảo tồn chuyển chỗ là một bộ phận quan trọng trong chiến lược tổng hợp
nhằm
bảo tồn các loài đang có nguy cơ bị tuyệt diệt (Falk, 1991). Bảo tồn chuyển
chỗ và bảo
nuôi
động vật, bể nuôi và các chương trình nhân giống động vật hoang dã. Tuy
nhiên, bảo
tồn chuyển chỗ khá tốn kém. Chi phí cho việc nuôi các con voi châu Phi
và các con tê giác
trong vườn thú lớn gấp 50 lần chi phí cho việc bảo tồn một số
lượng tương đương cá
thể tại các VQG ở Đông Phi (Leader-Williams, 1990).
Theo bản “Tuyên bố chính sách của IUCN về nhân nuôi nhân tạo” (1987) thì
tất
cả các taxon mà có số lượng cá thể ngoài thiên nhiên dưới 1000 cá thể đều cần có
12
chương trình nhân nuôi nhân tạo. Trên quan điểm đó, ở Việt Nam có rất nhiều loài
cần tiến hành nhân nuôi nhân tạo: Voi, Bò xám, Tê giác, Nai cà toong, Hươu vàng,
Hươu xạ, Voọc mông trắng, Voọc vá, Voọc đen, Voọc mũi hếch, Cầy giông sọc,
Cầy vằn, Mèo rừng, Hổ, nhiều loài công, trĩ, cá sấu và các loài bò sát, ếch nhái khác.
Tuy nhiên, nhân nuôi động vật hoang dã, nhất là động vật quý hiếm là công
việc
rất khó khăn và tốn kém vì những lý do dưới đây:
- Chúng ta cần có những hiểu biết đầy đủ về đặc điểm sinh học, sinh thái của
1.3.1. Đặc điểm tự nhiên
* Vị trí địa lý:
VQG Pù Mát được thành lập vào năm 1995, tiền thân là Khu BTTN Pù Mát,
nằm về phía Tây Nam của tỉnh Nghệ An, có độ cao tuyệt đối giao động từ 100m đến
1841m. Đỉnh cao nhất trong toàn khu vực là đỉnh Pù Mát, được lấy đặt tên cho VQG.
Toạ độ địa lý của Vườn trong khoảng: 18
0
46'30'' - 19
0
19' 42'' độ vĩ bắc và
104
0
31'57'' - 105
0
03'08'' độ kinh đông. Ranh giới hành chính: Ranh giới phía Nam của
13
vườn chạy dọc theo đường ranh giới quốc gia Việt - Lào; ranh giới các phần còn lại
của Vườn được xác định như sau:
- Phía Đông giáp với các xã Phúc Sơn, Hội Sơn thuộc huyện Anh Sơn.
- Phía Tây giáp với xã Tam Hợp, Tam Đình, Tam Quang thuộc huyện Tương
Dương.
- Phía Bắc giáp với xã Lạng Khê, Châu Khê, Lục Dạ, Môn Sơn thuộc huyện Con
Cuông (Bản đồ 1.1).
Bản đồ 1.1. Bản đồ vị trí VQG Pù Mát
* Đặc điểm địa hình:
Địa hình VQG Pù Mát rất phức tạp và hiểm trở, bị chia cắt bởi các hệ suối chính:
cao từ 1000m trở xuống. Tuy cấu trúc tương dối phức tạp, được cấu tạo bởi các trầm
tích, biến chất, địa hình có phần mềm mại và ít dốc hơn.
+ Thung lũng kiến tạo, xâm thực tuy chiếm một diện tích nhỏ nhưng lại thuận
lợi cho sản xuất nông nghiệp, độ cao nhỏ hơn 300m bao gồm thung lũng các sông
suối: Khe Thơi, Khe Choăng, Khe Khặng (Sông Giăng) và bờ phải Sông Cả. Cấu tạo
bằng các trầm tích bở rời dễ bị xâm thực. Trong đó phổ biến là các dạng địa hình đồi
khá bằng phẳng, bãi bồi và thềm sông khá phát triển.
+ Các khối đá vôi nhỏ, phân tán dạng khối uốn nếp có quá trình Karst trẻ phân
bố hữu ngạn Sông Cả cao chừng 200-300m, cấu tạo phân phiến dầy màu xám sáng
đồng nhất và tinh khiết [35].
- Thổ nhưỡng
Qua công tác khảo sát ngoài thực địa và tham khảo bản đồ thổ nhưỡng, trong
khu vực có các loại đất chính như sau:
15
- Đất Feralit mùn trên núi trung bình (FH): Đất có màu vàng đỏ hoặc vàng xám,
tầng mùn dầy thành phần cơ giới nhẹ đến trung bình. Phân bố từ độ cao 800, 900m đến
1800m dọc biên giới Việt Lào.
- Đất Feralit đỏ vàng vùng đồi và núi thấp (F): Đất có màu đỏ vàng hay vàng
đỏ, tầng tích tụ dày. Phân bố phía Bắc và Đông Bắc VQG.
- Đất dốc tụ và đất phù sa (D, P): Đất có màu nâu xám, thành phần cơ giới trung
bình, tơi xốp giàu dinh dưỡng. Phân bố ven sông suối trong VQG.
- Núi đá vôi (K2): Núi đá vôi dốc đứng có cây gỗ nhỏ che phủ thấp dưới 700m.
Phân bố thành dải nhỏ xen kẽ nhau bên hữu ngạn Sông Cả
* Khí hậu thủy văn
VQG Pù Mát nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, chịu ảnh hưởng sâu
sắc của gió mùa Đông Bắc và Tây Nam. Các yếu tố khí hậu mang tính chất phân cực
mạnh, hình thành hai mùa rõ rệt: Mùa nóng ẩm từ tháng 4 đến tháng 10, mùa khô lạnh
16
100%. Tuy vậy những giá trị cực thấp về độ ẩm vẫn thường đo được trong thời kỳ khô
nóng kéo dài.
- Chế độ gi: Hai hướng chính vào 2 mùa:
+ Gió Tây Nam (gió Lào) từ tháng 4 đến tháng 10, tập trung vào các tháng 6, 7
khô nóng và có ngày nhiệt độ không khí lên đến 41
0
C, gây ảnh hưởng xấu đến đời
sống động thực vật trong vùng.
+ Gió mùa Đông Bắc lạnh từ tháng 11 đến tháng 3 năm sau, hàng năm thường
có 16-17 đợt gió mùa Đông Bắc, mỗi đợt thường có mưa phùn nhất là vào cuối mùa.
Vì vậy, về mùa này ở huyện Anh Sơn và vùng thấp của Con Cuông có độ ẩm không
khí lớn hơn và không bị khô kiệt như Tương Dương và vùng cao của Con Cuông [39].
- Hệ thống sông ngòi
Sông suối trong VQG khá đa dạng và hiểm trở, các dốc cao và bờ đá đã tạo nên
nhiều ghềnh thác ở đây. Tất cả các sông suối thuộc VQG Pù Mát đều bắt nguồn từ mái
phía Đông của dãy Pù Xai Lai Leng và tất cả đều đổ vào Sông Cả. Các khe suối lớn
như: Khe Thơi bắt nguồn từ núi Pù Vàn, chảy theo hướng Đông Bắc qua các huyện
Tương Dương và Con Cuông đổ vào Sông Cả tại xã Lạng Khê; Khe Choăng bắt nguồn
từ núi Pù Đen Đinh và Khe Bu bắt nguồn từ núi Pù Đón Cắn chảy theo hướng Đông
Bắc trong địa phận huyện Con Cuông. Hai khe này hợp lưu ở cuối nguồn và đổ ra
Sông Cả tại xã Châu Khê; Khe Khặng (sông Giăng) bắt nguồn từ núi M-6 nằm trong
địa phận huyện Con Cuông, chảy theo hướng Đông Nam qua huyện Anh Sơn và đổ
vào Sông Cả tại địa phận huyện Thanh Chương.
- Chế độ thủy văn
Đặc điểm địa hình và khí hậu ảnh hưởng đến chế độ thuỷ văn, mạng lưới sông
suối và dòng chảy: Các khe, suối nhiều, lượng nước thay đổi theo mùa, có nhiều nơi
nhóm đi tìm trầm. Trong một số vùng của Vườn, đặc biệt là khu vực biên giới Việt -
Lào, loại rừng này chiếm ưu thế.
++ Phân kiểu rừng lùn:
Rừng lùn ở Pù Mát xuất hiện ở độ cao trên 1500m, diện tích rừng lùn khoảng
1.450ha, chiếm 1,6% diện tích vùng lõi của VQG, phân bố trên các giông và chỏm núi
dốc có đá nổi và hướng gió mạnh.
+ Kiểu rừng thường xanh mưa mùa bị tác động mạnh ở đai cao:
Thảm thực vật thường xanh ở đai độ cao trên 800m so với mực nước biển, khu
vực bị tác động mạnh bởi nhiều hoạt động của con người, thuộc kiều này gồm phân
kiểu: Rừng thường xanh thứ sinh mưa mùa hỗn giao cây lá rộng trên núi thấp. Thảm
thực vật đạt độ tàn che trung bình 78% với độ chỉ tán là 1,93. Các loài ưu thế trong các
quần xã thảm thực vật kiểu nay là Hopea hainanensis, Syzygium sp. và Aidia sp., họ
Dẻ - Fagaceae.
+ Kiểu rừng kín thường xanh mưa mùa trên đất thấp chưa bị tác động:
18
Thảm thực vật thường xanh thuộc đai độ cao dưới 800m so với mặt nước biển,
khu vực chưa bị tác động và thảm thực vật còn giữ được cấu trúc đặc trưng của kiểu
rừng kín thường xanh mưa mùa. Thuộc kiểu này có các phân kiểu: Phân kiểu rừng kín
thường xanh mưa mùa trên đất dốc địa đới đất thấp; phân kiểu rừng kín thường xanh
mưa mùa trên đất đá vôi.
+ Kiểu rừng thường xanh mưa mùa trên đất thấp bị tác động mạnh:
++ Phân kiểu rừng thường xanh mưa mưa mùa hỗn giao cây lá rộng:
Kết quả từ quá trình tái sinh thảm thực vật sau tác động của con người. Với các
hình thức tác động khác nhau và mức độ tác động cũng khác nhau nên các thảm cũng
có các hình thức tái sinh và mức độ phục hồi khác nhau. Kiểu rừng này bao gồm diện
tích rừng sau khi khai thác chọn và diện tích rừng phục hồi sau nương rẫy bỏ hóa trong
một thời gian dài.