LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành chương trình học của mình sau 4 năm học tại Trường Đại
học Lâm Nghiệp, được sự đồng ý của nhà trường và khoa Quản lý Tài nguyên
rừng và Môi trường, tôi đã tiến hành thực hiên khóa luận tốt nghiệp:
“Nghiên cứu tính đa dạng và đề xuất giải pháp bảo tồn côn trùng
thuộc bộ Cánh cứng (Coleoptera) tại VQG Xuân Sơn – Phú Thọ”
Trong quá trình thực hiện và hoàn thành khóa luận của mình, tôi đã nhận
được sự giúp đỡ và tạo điều kiên thuận lợi của Ban giám hiệu. Ban chủ nhiệm
khoa Quản lý Tài nguyên rừng và Môi trường, Bộ môn Bảo vệ thực vật trường
Đại học Lâm Nghiệp và sự giúp đỡ tận tình của tập thể cán bộ công nhân viên,
các hộ gia đình trong VQG Xuân Sơn – Phú Thọ.
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới thầy giáo TS. Lê Bảo Thanh, người
đã tận tình hướng dẫn, chỉ bảo tôi trong quá trình thực tập và hoàn thành khóa
luận này.
Trong quá trình thực tập, tôi đã cố gắng thực hiện nghiêm túc các yêu cầu
của khóa luận nhưng do hạn chế về mặt thời gian, khí hậu và trình độ chuyên
môn của bản thân còn có hạn, nên khóa luận không thể tránh khỏi những thiếu
sót và tồn tại nhất định. Tôi rất mong nhận được sự giúp đỡ và đóng góp ý kiến
của các thầy cô giáo, bạn bè đồng nghiệp để khóa luận được hoàn thiện hơn.
Xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, ngày 17 tháng 11 năm 2014
Sinh viên thực hiện
ĐẶNG QUANG HUY
MỤC LỤC
DANH LỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
Viết tắt
vật nơi đây. Tuy nhiên, đi cùng với việc bảo tồn ngồn tài nguyên rừng quý giá
ấy, các hoạt động của con người như: du lịch, tham quan, quy hoạch sản xuất
đang ảnh hưởng không ít tới hệ sinh thái rừng nơi đây. Hậu quả là làm ảnh
hưởng tới môi trường sống của các loài động thực vật gây suy giảm đáng kể số
lượng động thực vật. Các loài côn trùng nói chung và côn trùng bộ Cánh cứng
(Coleoptera) có thành phần loài lớn và có ảnh hưởng lớn tới hệ sinh thái rừng
như: Vòi voi hại măng (Cyrtotrachelus longimanus), các loài Bọ hung hại rễ
(Banhmina pavula Moser), Mọt tre nứa (Dinoderus minnutus Fabricius) hay là
loài thiên địch thuộc họ Bọ rùa (Coccinellidae) ảnh hưởng trực tiếp đến hệ sinh
thái rừng.
Qua phân tích vai trò, ảnh hưởng của côn trùng bộ Cánh cứng tới hệ sinh
thái rừng, chúng tôi tiến hành thực hiện đề tài: “Nghiên cứu tính đa dạng và đề
xuất giải pháp bảo tồn côn trùng thuộc bộ Cánh cứng (Coleoptera) tại VQG
Xuân Sơn – Phú Thọ”
PHẦN 1: TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU
1.1Nghiên cứu về côn trùng bộ Cánh cứng trên thế giới.
Ngay từ khi con người bắt đầu các hoạt động trồng trọt, chăn nuôi, người
nông dân đã phải đối mặt với sự phá hoại nhiều mặt của côn trùng. Vì vậy, con
người đã bắt tay vào tìm hiểu và nghiên cứu về côn trùng.
Trong cuốn sách cổ của Xeri viết vào năm 3000 TCN đã nhắc tới những
cuộc bay khổng lồ và sự phá hoại khửng khiếp của những đàn châu chấu sa
mạc.
Nhà triết học cổ Hy Lạp Aristoteles (384 – 322 TCN) đã hệ thống hóa
được hơn 60 loài côn trùng, ông gọi tất cả những loài côn trùng ấy là những loài
chân có đốt.
Nhà tự nhiên học vĩ đại người Thụy Điển Carlvon Linne được coi là người
Năm 1959, Trương Chấp Trung đã cho ra đời cuốn “Sâm lâm côn trùng
học” liên tiếp từ năm 1965 giáo trình được viết lại nhiều lần, tác phẩm đó đã
giới thiệu hình thái, tập tính sinh hoạt và các biện pháp phòng trừ nhiều loại bọ
lá phá hoại cây rừng.
Ở Rumani năm 1962, M.A Ionescu đã xuất bản cuốn “Côn trùng học”
trong đó đề cập đến phân loại họ Bọ lá (Chrysomelidae), trong đó trên thế giới
đã phát hiện được 24.000 loài bọ lá và tác giả mô tả cụ thể được 14 loài.
Năm 1964, giáo sư V.N Xegolop viết cuốn “Côn trùng học” giới thiệu về
sâu cánh cứng khoai tây (Leptinotasa decemlineata Say) là loại côn trùng gây
hại rất nguy hiểm cho khoai tây và một số loài cây nông nghiệp khác.
Năm 1965, Viện hàn lâm khoa học Nga đã xuất bản 11 tập phân loại côn
trùng thuộc châu Âu, trong đó có tập thứ 5 về bộ Cánh cứng (Coleoptera). Năm
1966, Bey – Bienko đã phát hiện và mô tả được 300.000 loài côn trùng thuộc bộ
Cánh cứng.
Năm 1965 và năm 1975, N.N Padi và A.N Boronxop viết giáo trình “Côn
trùng rừng” đề cập nhiều tới côn trùng bộ cánh cứng như Mọt, Xén tóc, Sâu
đinh và Bọ lá…
Năm 1966, Bey – Bienko đã phát hiện và mô tả được 300.000 loài côn
trùng thuộc bộ Cánh cứng.
Ở Trung Quốc, việc nghiên cứu côn trùng lâm nghiệp được thúc đẩy mạnh
từ năm 1952.
Năm 1959, Trương Chấp Trung đã cho ra đời cuốn “Sâm lâm côn trùng
học” liên tiếp từ năm 1965 giáo trình được viết lại nhiều lần, tác phẩm đó đã
giới thiệu hình thái, tập tính sinh hoạt và các biện pháp phòng trừ nhiều loại bọ
lá phá hoại cây rừng trong đó có các loài: Ambrostoma quadriimpressum
Motsch, Gazercella aenescens Fairemaire, Gazercella maculli colis Motsch,
Chrysomela populi Linnaeus, Chrysomela zutea Oliver…
Năm 1987, Thai Bang Hoa và Cao Thu Lâm đã xuất bản cuốn “Côn trùng
Năm 1968, Medvedev đã công bố một công trình về họ Bọ lá
(Chrysomelidae) ở Việt Nam trong đó có 8 loài mới đối với khoa học.
Năm 1973, Đặng Vũ Cẩn đã xuất bản cuốn sách “Sâu hại rừng và cách
phòng trừ”. Trong đó giới thiệu một số loài sâu bọ hung hại lá bạch đàn, bọ
hung nâu lớn (Holotrichia sauteri Mauer); Bọ hung nâu xám bụng dẹt
(Adoretus comptessus); Bọ hung nâu nhỏ (Maladera sp), sâu trưởng thành…
Ngoài ra, còn có một số loài côn trùng khác như Bọ vừng (Lepidota bioculata),
Bọ sừng (Xylotrupes Gideon L.), Bọ cánh cam (Anomala cupripes Hope)…
Năm 1982, Hoàng Đức Nhuận cho sản xuất 2 cuốn sách “Bọ rùa ở Việt
Nam”.
Năm 2004, tạp chí sinh học, đặc san nghiên cứu về côn trùng, trang 100 –
108, của Đặng Thị Đáp, Trần Thiếu Dư: “Kết quả nghiên cứu côn trùng cánh
cứng ăn lá (Coleoptera, Chrysomelidae) tại 2 khu vực bảo tồn thiên nhiên
Mường Phăng, Hang Kia – Pà Cò và VQG Ba Bể”.
Năm 2007, báo cáo khoa học về sinh thái và tài nguyên sinh vật của Đặng
Thị Đáp và cộng sự: “Phân tích số lượng côn trùng cánh cứng (Coleoptera)
theo sinh cảnh, thời gian, thời thiết và độ cao ở VQG Tam Đảo – Vĩnh Phúc”.
Năm 2008, thông tin khoa học lâm nghiệp số 2, khoa Quản lý tài nguyên
rừng và môi trường, Bùi Trung Hiếu: “Nghiên cứu đặc điểm sinh vật học của
Vòi voi lớn (Cyrtotrachelus buqueti) và đề xuất các biện pháp phòng trừ tại khu
vực Mai Châu – Hòa Bình” đã kết luận chúng gây hại nhiều nhất vào tháng 6 –
8, trong đó biện pháp bọc bảo vệ mang lại hiệu quả cao.
Năm 2011, nghiên cứu thạc sỹ của Bùi Quang Tiếp: “Điều tra thành phần
các loài côn trùng bộ cánh cứng (Coleoptera) ở rừng keo lai, thong caribe và
bạch đàn dòng PNL bằng phương pháp bẫy”.
Phần lớn các nghiên cứu về côn trùng Cánh cứng trên thế giới và Việt
Nam đang chỉ dừng lại ở những nghiên cứu về những loài côn trùng thuộc các
phân họ: Xén tóc, Họ Bọ lá, Họ Bọ rùa, Họ Bọ hung, Họ Vòi voi…. chưa hoặc
2.1.2 Địa hình, địa thể
Địa hình Vườn quốc gia Xuân Sơn có độ dốc lớn với nhiều chỗ dốc, núi
đất xen núi đá vôi, cao dần từ Đông sang Tây, từ Nam lên Bắc. Có 3 dạng địa
hình chính:
Kiểu địa hình núi trung bình, độ cao ≥700m, chiếm khoảng 30% tổng
diện tích tự nhiên của Vườn, cao nhất là đỉnh núi Voi 1.386 m, núi Ten 1.244m,
núi Cẩn 1.144m;
Kiểu địa hình núi thấp và đồi, độ cao
2.2 Đặc điểm kinh tế - xã hội
2.2.1 Nguồn nhân lực (Theo thống kê năm 2012)
Nằm trong Vườn quốc gia Xuân Sơn và khu vực vùng đệm có 29 thôn
thuộc địa giới hành chính của 6 xã Xuân Sơn, Tân Sơn, Lai Đồng, Đồng Sơn,
Kim Thượng và Xuân Đài, huyện Tân Sơn tỉnh Phú Thọ. Các Xóm phân bố chủ
yếu dưới chân các dãy núi đá vôi và núi đất, ở độ cao từ 200 - 400 m so với mực
nước biển, tập trung ở phía Đông, một phần phía Bắc và Nam của Vườn quốc gia.
- Dân số: Theo kết quả thống kê tại các xã năm 2012, Vườn quốc gia
Xuân Sơn và khu vực vùng đệm (29 thôn/xóm) có 12.559 người với 2.908 hộ;
trong đó nằm trong vùng lõi Vườn quốc gia có 2.984 người với 794 hộ.
- Lao động: Tổng số lao động trong Vườn quốc gia và khu vực vùng đệm
là 7.391 người, chiếm 58,8% tổng dân số Vườn quốc gia và khu vực vùng đệm;
trong đó số lao động có trong Vườn quốc gia là 1.647 người, chiếm 22,3 % tổng
số lao động; số lao động khu vực vùng đệm là 5.744 người, chiếm 77,7% tổng
số lao động.
- Dân tộc: Vườn quốc gia Xuân Sơn và khu vực vùng đệm có 3 dân tộc
đang sinh sống. Trong đó: Dân tộc Mường có 2.324 hộ, chiếm 79,9%; Dân tộc
Dao có 546 hộ, chiếm 18,7 %; Dân tộc Kinh có 38 hộ, chiếm 1,4 %.
+ Dân tộc Mường: Dân tộc Mường là nhóm dân tộc có dân số lớn nhất và
vùng phân bố rộng nhất trong các dân tộc thiểu số ở Việt Nam. Người Mường
sinh sống hầu hết ở các tỉnh trung du và miền núi từ Thanh Hoá trở ra. Tại
Vườn quốc gia Xuân Sơn, người Mường sống thành từng xóm riêng biệt tại các
xóm Lấp, Lạng và Nước Thang, một số ít sinh sống trong xóm Dù. Trong sản
xuất, người Mường vẫn giữ được tính cộng đồng.
+ Dân tộc Dao: Người Dao hay còn gọi là người “Mán” là một trong
những dân tộc phân bố rộng ở miền Bắc nước ta. Tại Vườn quốc gia, người Dao
phân bố ở các xóm Dù, Cỏi, Xoan, Tân Ong, Hạ Bằng và xóm Thân. Người Dao
trong vùng, vừa nâng cao ý thức trong việc bảo vệ rừng, bảo vệ môi trường, sinh
thái, cảnh quan. Tuy nhiên, các hoạt động dịch vụ du lịch mới tập trung ở trung
tâm xã Xuân Sơn, hoạt động dịch vụ thương mại chủ yếu là bán lẻ hàng hóa tiêu
dùng thiết yếu hàng ngày và nhà nghỉ tạm cho khách đến tham quan du lịch nên
số lượng khách đến thăm Vườn chưa nhiều. Số lượng khách thăm quan chưa
tương xứng với tiềm năng do một số nguyên nhân sau:
+ Chưa có hệ thống tổ chức quản lý, hướng dẫn và dịch vụ phù trợ như:
Nhà hàng, nhà nghỉ, khu vui chơi giải trí...
+ Các hoạt động kinh doanh dịch vụ du lịch trong khu vực còn nhỏ lẻ, tự
phát và chưa phát triển.
+ Sản phẩm du lịch chưa đa dạng, lực lượng tham gia làm dịch vụ du lịch
còn mỏng, chưa khai thác hết tiềm năng sẵn có.
* Đời sống và thu nhập của người dân
- Thu nhập bình quân trên đầu người trong khu vực vùng lõi và vùng đệm
Vườn quốc gia khoảng 7,9 triệu đồng/người/năm. Nguồn thu nhập chính của người
dân trong khu vực chủ yếu từ sản xuất nông nghiệp, chăn nuôi gia súc...
- Tỷ lệ hộ nghèo của 6 xã thuộc Vườn quốc gia Xuân Sơn chiếm (35,9%)
thấp hơn mức trung bình của huyện Tân Sơn. Tỷ lệ hộ nghèo vùng lõi cao hơn
vùng đệm. Đây là thách thức cho công tác bảo tồn và phát triển bền vững Vườn
quốc gia Xuân Sơn giai đoạn 2013-2020.
2.2.3 Cơ sở hạ tầng
* Giao thông:
Hệ thống đường giao thông vào vùng lõi và vùng đệm Vườn quốc gia luôn
được quan tâm đầu tư. Tính đến năm 2012, có 94 km đường nhựa và đường bê tông
đến trung tâm các xã; 67,7 km đường bê tông được trải đến thôn.
* Y tế:
Trong khu vực Vườn quốc gia có 1 trạm y tế được xây kiên cố tại trung
tâm xã Xuân Sơn (xóm Dù) với 4 giường bệnh, 1 y sỹ, 2 y tá. Mỗi xóm có 01 y
Bảng 2.1: Hiện trạng rừng và các loại đất đai Vườn quốc gia Xuân Sơn
Phân theo xã
Loại đất loại rừng
Diện tích
(ha)
Đồng Sơn
Tổng diện tích tự nhiên
15.048,00
1.128,80
455,4
26,4
A. Đất nông nghiệp
14.929,90
1.122,10
455,4
312,4
45,6
68,6
170,2
1.094,10
455,4
26,4
2.744,50
3.975,10
6.322,00
12.715,30
892,4
450,6
26,4
2.598,00
3.228,00
715,4
53,9
2. Đất chưa có rừng
1.902,20
201,7
4,8
-
146,5
747,1
802,1
596,5
39,4
-
-
62,6
67,8
-
-
-
-
-
-
-
I. Đất SX nông nghiệp
- Không có cây gỗ tái sinh
- Có cây gỗ tái sinh
B. Đất phi Nông nghiệp
C. Đất chưa sử dụng
Tân Sơn Lai Đồng Xuân Đài
- Trữ lượng các loại rừng ở Vườn quốc gia Xuân Sơn được tổng hợp như sau:
Bảng 3.2: Hiện trạng trữ lượng các loại rừng Vườn quốc gia Xuân Sơn
Phân theo xã
83.247
261.733
350.886
1.025
-
51
-
603
224
147
732.682
45.298
22.475
2.089
61.650
220.947
176.470
+ Rừng giầu
159.045
-
-
-
-
84.397
74.648
+ Rừng trung bình
163.459
-
-
1.299
319
17.855
28.599
15.243
4.775
-
339
-
2.264
1.245
927
Tổng trữ lượng rừng
a. Rừng tự nhiên
- Rừng hỗn giao
Gỗ
Tre nứa
-
260
35
7
- Rừng núi đá
191.581
24.619
9.223
-
-
-
157.739
33.715
669
-
21.597
10.942
508
- Rừng tre nứa
-
-
-
-
-
-
-
- Rừng đặc sản
-
-
-
bố ở độ cao từ 700 - 1386 m. Kiểu rừng này bao phủ phần phía trên của núi
Voi, núi Ten, núi Cần và phía Tây của Vườn.
2.4.2 Hệ sinh thái
- Rừng kín hường xanh mưa ẩm nhiệt đới: Phân bố thành các mảng
tương đối lớn ở độ cao dưới 700m tại khu vực phía Nam của Vườn. Thực
vật tạo rừng khá phong phú, phổ biến là các loài trong họ Dầu
(Dipterocarpaceae), họ Bồ hòn (Sapindaceae), họ Trinh nữ (Mimosaceae),
họ Vang (Caesalpiniaceae)…
- Rừng kín thường xanh mưa ẩm á nhiệt đới núi trung bình: Phân bố
tập trung ở khu vực núi Ten, núi Voi và phần đất phía Tây của Vườn từ độ
cao 700m trở lên. Thực vật chủ yếu là các loài cây lá rộng thuộc các họ Dẻ
Fagaceae), họ Re (Lauraceae), họ Ngọc lan (Magnoliaceae), họ Thích
(Aceraceae), họ Chè (Theraceae), họ Sến (Sapotaceae)…
- Rừng kín thường xanh nhiệt đới trên đất đá vôi xương xẩu: Phân bố
tập trung ở hai đầu dãy núi Cẩn. Các loài đại diện chính như: Nghiến
(Excentrodendron tonkinense), Trai (Garcinia fagraeoides), Mậy tèo, Ô rô,
Teo nông (Streblus spp.), Lát hoa (Chukrasia tabularis), Sâng (Pometia
pinnata)…
- Rừng kín thường xanh á nhiệt đới trên đát đá vôi xương xấu: Phân
bố thành những mảng tương đối rộng ở khu vực núi Cần từ độ cao 700m trở
lên. Các loài lá kim như: Sam bông ((Amentotaxus argotaenia), Thông tre
(Podocarpus neriifolius) và sự gia tăng của các loài thực vật á nhiệt đới như
Re, Dẻ, Chè…
- Rừng thứ sinh phục hồi sau nương rẫy: Phân bố rải rác trong Vườn
quốc gia. Bao gồm rừng thứ sinh phục hồi sau nương rẫy nhiệt đới và rừng
thứ sinh phục hồi sau nương rẫy á nhiệt đới núi trung bình.
- Rừng thứ sinh Tre nứa: Rừng tre nứa chỉ chiếm một diện tích nhỏ,
nằm trong vành đai rèng kín thường xanh mưa ẩm nhiệt đới ở khu vực phía