Nghiên cứu tính đa dạng và đề suất biện pháp quản lý các loài bướm ngày tại vườn quốc gia PÙ MÁT - Pdf 42

MỤC LỤC

1


ĐẶT VẤN ĐỀ
Côn trùng có mặt trên trái đất cách đây 370 triệu năm, chúng sinh sôi và
phát triển 1 cách nhanh chóng trong các khu rừng nguyên sinh và là giống
sinh vật đầu tiên biết bay. Trong khoảng 1.200.000 loài động vật có mặt trên
trái đất thì côn trùng chiếm hơn 1.000.000 loài và hơn nữa có những loài côn
trùng chưa được biết đến còn rất nhiều, phạm vi phân bố của chúng rất rộng.
Côn trùng có vai trò hết sức quan trọng trong hệ sinh thái tự nhiên, chúng
là mắt xích quan trọng trong chuỗi thức ăn góp phần vào quá trình tuần hoàn
vật chất, tham gia tích cực vào quá trình hình thành đất nhờ ăn và phân hủy
các chất hữu cơ. Bên cạnh đó côn trùng là người bạn của con người trong việc
nâng cao năng suất cây trồng và tạo ra những dòng tiến hóa mới thông qua
việc thụ phấn cho các loài thực vật…
Trong lớp côn trùng, bộ Cánh vẩy (Lepidoptera) là một bộ rất đa dạng và
phong phú. Các loài bướm hoạt động vào ban ngày (Rhopalocera) có vai trò
quan trọng trong đời sống con người. Chúng tham gia vào quá trình thụ phấn
cho hoa màu, tăng năng suất cho cây trồng. Đây là nhóm côn trùng rất phong
phú và đa dạng cả về nơi ở và số lượng của chúng, chúng có khả năng thích
ứng cao với sự biến đổi của môi trường, chúng thường được dùng làm sinh
vật chỉ thị để đánh giá chất lượng rừng, đánh giá hiệu quả của công tác bảo
tồn thông quá sự biến động của quần thể loài bướm theo thời gian.
Khi nghiên cứu về các loài bướm ngày, ngoài việc nghiên cứu đặc điểm
về hình thái, cần phải quan tâm đến đặc điểm của cả quần thể để quần thể đó
đề xuất các giải pháp thích hợp làm cho chúng đa dạng về thành phần loài,
phong phú về số lượng và có lợi cho sản xuất, phục vụ tham quan du lịch…
Vườn Quốc Gia Pù Mát-Nghệ An có tính đa dạng sinh học ở đây cao, có
nhiều loài quý hiếm được phát hiện và một số loài mới xuất hiện ở Việt Nam.

thuộc 746 giống và 45 họ.
Theo Wilson (1988) tổng số loài sinh vật đã được biết đến trên Trái đất là
1.413.000 loài, trong đó côn trùng có tổng số là 751.000 loài chiếm 53,15%
các loài và chiếm 70,66% trên tổng số động vật. Các nhà phân loài học dự
đoán có thể từ 5 triệu đến 30 triệu loài sinh vật trên trái đất và chiếm phần lớn
là vi sinh vật và côn trùng. Cho đến nay, người ta dự đoán còn khoảng 3-4
triệu loài hoặc hơn nữa chưa được con người biết đến, chủ yếu là những loài
côn trùng ở vùng nhiệt đới.
Năm 1920-1940 các nhà thu thập mẫu côn trùng nghiệp dư đã xuất bản
một tập tài liệu phân loại bướm gồm 33 tập ở Niedejrland.
Có rất nhiều nhà khoa học trên thế giới đã tiến hành nghiên cứu về côn
trùng nói chung và bướm nói riêng. Trong khu vực Châu Á phải kể đến các
nghiên cứu của Trung Quốc, Ấn Độ, Singapore, Indonesia, Myanma.
Năm 1932 một tập thể tác giả ở Ấn Độ mà đại diện là W.H.Erans đã xuất
bản “Sự nhận biết các loài bướm ở Ấn Độ” trong đó có 19 họ bướm và các
khóa phân loại của một số giống chủ yếu của họ.
Manferd Koch, 1953, 1978 đã xuất bản “Phân loại bướm và ngài”.
Gottfried Amann, 1959 có cuốn “Các loài côn trùng”.
4


Năm 1970 - 1978 Donal J.Borror và Richar D.E.White đã xuất bản cuốn
sách “Hướng dẫn côn trùng” ở Bắc Mỹ thuộc Mexico trong đó cũng đề cập
đến phân loại bộ cánh vẩy Lepidoptera.
Năm 1987, một số nghiên cứu của các chuyên gia Trung Quốc như Thái
Bàng Hoa, Cao Thu Lâm đã công bố công trình phân loại côn trùng rừng Vân
Nam. Năm 1999, Lichunlong đã đề cập đến tính đa dạng sinh học của các loài
Bướm ngày của Vân Nam. Tài liệu dùng để phân loại bướm ngày có quyển “
Bướm đảo Hải Nam” của Cố Mậu Thìn và Trần Phượng Trân giới thiệu trên
500 loài bướm ngày khác nhau.

tại các địa điểm Hà Nội, Tam Đảo (Vĩnh Phúc), Thái nguyên,...
Các cuộc nghiên cứu toàn miền Bắc Việt Nam do một số người khác tiến
hành như : Monastyrkii, Đặng Thị Đáp, Lê Văn Triển, 1995; Monastyrkii và
Đặng Thị Đáp, 1996; Hill và Monastyrkii in prep; Devyatkin, 1996, 1997,
1998, 2000, 2001, 2002, 2003... đã xác định được thành phần loài côn trùng
Cánh vẩy và một số đặc điểm sinh thái của chúng.
Trong những năm gần đây có một số công trình của các tác giả quốc tế và
Việt Nam đã đi sâu nghiên cứu đặc điểm và giá trị thẩm mĩ của côn trùng
Cánh vẩy như: Trung tâm nhiệt đới Việt - Nga tại sinh cảnh núi đá vôi Phong
Nha - Kẻ Bàng, A.L.Monastyrkii, Vũ Văn Liên, Bùi Xuân Phương (2000) khu
hệ Bướm Vườn quốc gia Tam Đảo, Trung tâm nhiệt đới Việt - Nga. Khuất
Đăng Long (1999) nghiên cứu đa dạng sinh học của một số nhóm côn trùng
và giải pháp bảo tồn chúng ở VQG Tam Đảo (Viện sinh thái và tài nguyên
sinh vật ). Bùi Công Hiến, Nguyễn Anh Diệp (1999) kết quả nghiên cứu bước
đầu về đa dạng sinh học côn trùng của VQG Tam Đảo. Một số công trình
nghiên cứu của TS.Đặng Thị Đáp ở VQG Tam Đảo. Nghiên cứu của Trần
Công Loanh (1999) xác định thành phần loài ở VQG Cát Bà - Hải Phòng.
Những kết quả nghiên cứu về Bướm ở nước ta cho thấy nơi có nhiều
bướm quý nhất là Bảo Lộc - Lâm Đồng và VQG Tam Đảo - Vĩnh Phúc. Các
công trình nghiên cứu về bướm còn hạn chế nhưng ngày nay con người đã

6


phần nào hiểu được giá trị thẩm mỹ và lợi ích kinh tế của chúng; trong nước
đã có một số hộ gia đình nuôi bướm hay dùng bướm.
1.3. Tình hình nghiên cứu bướm ngày ở vườn quốc gia Pù Mát
Theo tình hình nghiên cứu có tổng cộng có 1855 tiêu bản thuộc 305 loài
và 11 họ đã được thu thập (Bảng 1). Việc giám định đã được thực hiện cho
hầu hết tất cả các tiêu bản mặc dù còn có một số tiêu bản yêu cầu cần có thêm

305

7

Số tiêu bản
354
251
140
269
90
476
1
18
39
121
96
1855


Bảng 2: Bướm ngày được thu thập theo vùng địa lý
Họ
Papilionidae
Pieridae
Danaidae
Satyridae
Amathusiidae
Nymphalidae
Acraeidae
Libytheidae
Riodinidae

57

Vùng địa lý
4a
4b
4
0
4
0
4
0
2
0
0
0
7
0
0
0
1
0
0
0
2
0
0
0
24
0


0
0
0
0
0
0
1
0
0
0
1

6
0
0
0
0
0
0
0
0
0
0
0
0

Phần lớn những loài đã kiểm tra trong những vùng được định hướng
(58%) hay Lục địa Indo-Malay (21,1%). Những loài đặc hữu ở đồng
Himalayas, Trung Quốc và Bắc Đông Dương được tính khoảng 10%. Bốn
loài (Catopsilia Pomona, Melannitis leda, Argyreus và Phalanta phalantha)

2.1.2 Địa giới hành chính
Toàn bộ diện tích VQG nằm trong địa giới hành chính của 3 huyện Anh
Sơn, Con Cuông và Tương Dương tỉnh Nghệ An. Diện tích vùng lõi là
94.804.4ha và vùng đệm khoảng 86.000 ha nằm trên địa bàn 16 xã.
- Huyện Anh Sơn gồm 5 xã: Phúc Sơn, Hội Sơn, Tường Sơn, Cẩm Sơn và
Đỉnh Sơn.
- Huyện Con Cuông gồm 7 xã: Môn Sơn, Lục Dạ, Yên Khê, Bồng Khê,
Châu Khê, Chi Khê và Lạng Khê.
- Huyện Tương Dương gồm 4 xã: Tam Quang, Tam Đình, Tam Hợp, Tam
Thái.
2.1.3. Địa hình địa mạo
Sông suối chính trong khu vực khe Thơi, khe Choăng và khe Khặng.
Các đỉnh dông phụ có độ dốc lớn, độ cao trung bình từ 800 - 1500m, địa
hình hiểm trở. Phía Tây Nam của VQG là nơi có địa hình tương đối bằng,
thấp và là nơi sinh sống trước đây cũng như hiện nay của một số cộng đồng
người dân tộc. Ở đó, nhiều hoạt động sản xuất nông lâm nghiệp đã và đang
diễn ra.

9


Nằm trong khu vực có khoảng 7.057 ha núi đá vôi và phần lớn diện tích
nằm ở vùng đệm của VQG, chỉ có khoảng 150 ha nằm trong vùng lõi.

10


11



9

đối
Tổng lượng mưa năm (mm)
Số ngày mưa/ năm (Ngày)
Lượng mưa ngày lớn nhất (mm)
Lượng bốc hơi năm (mm)
Số ngày có sương mù (ngày)
Độ ẩm không khí bình quân năm

10
11
12

(%)
Độ ẩm không khí tối thấp bq (%)
Độ ẩm không khí tối thấp tđ (%)
Toạ độ trạm: Vĩ độ
Kinh độ

13
14

Độ cao (m)
Thời gian quan trắc (năm)
Số liệu bảng trên cho thấy:

Con

Anh

812,9
16
86

1706,6
138
788/9
789,0
26
86

1944,3
138
484/9
954,4
27
85

59
9/I
19017’

64
14/III
19003’

66
21/XI
18054’




mùa hè lên trên 250C, nóng nhất là tháng 6 và 7, nhiệt độ trung bình là 29 0C.
Nhiệt độ tối cao lên tới 420C ở Con Cuông và 42,70C ở Tương Dương vào
tháng 4 và 5, độ ẩm trong các tháng này có nhiều ngày xuống dưới 30%.
- Chế độ mưa ẩm:
+ Vùng nghiên cứu có lượng mưa từ ít tới trung bình, 90% lượng nước
tập trung trong mùa mưa. Lượng mưa lớn nhất là tháng 9,10 và thường kèm
theo lũ lụt. Mùa khô từ tháng 12 đến tháng 4 năm sau. Các tháng 2,3,4 có
mưa phùn do chịu ảnh hưởng của gió mùa Đông Bắc. Tháng 5,6,7 là những
tháng nóng nhất và lượng bốc hơi cũng cao nhất.
+ Độ ẩm không khí trong vùng đạt 85 - 86%, mùa mưa lên tới 90%. Tuy
vậy, những giá trị cực thấp về độ ẩm vẫn thường đo được trong thời kỳ khô
nóng kéo dài.
- Một số hiện tượng thời tiết đáng lưu ý:
+ Gió Tây khô nóng: Đây là vùng chịu ảnh hưởng của gió Tây khô nóng
(gió Lào). Gió Tây thường gây nên hạn hán trong thời kỳ đầu và giữa mùa hè
(tháng 5-7). Trong những ngày này, nhiệt độ tối cao có thể vượt quá 40 0C và
độ ẩm tối thấp cũng xuống dưới 30%.
+ Mưa bão: Vùng này ít chịu ảnh hưởng của mưa bão, hai tháng nhiều
bão nhất là tháng 9 và tháng 10. Bão thường kèm theo mưa lớn và lụt lội.
+ Trạm Tương Dương đặc trưng cho chế độ khí hậu phía bắc VQG (Khe
Thơi), nơi đây lượng mưa khá thấp (1268 mm/năm), số ngày mưa chỉ có 133
ngày. Nhưng lên các đai cao hơn lùi về Con Cuông thì chế độ mưa ẩm tăng
dần (số ngày mưa lên tới 153 ngày và lượng mưa là 1791mm/năm).

13


- Thủy văn:


bị xâm thực trong đó phổ biến là các dạng địa hình đồi khá bằng phẳng, bãi
bồi và thềm sông khá phát triển.
+ Các khối đá vôi nhỏ: Kiểu này phân tán dạng khối, uốn nếp có quá trình
Karst trẻ và phân bố hữu ngạn sông Cả ở độ cao 200-300m. Cấu tạo phân
phiến dầy, màu xám đồng nhất và tinh khiết.
2.2. Những đặc điểm kinh tế xã hội
2.2.1. Dân tộc
Có 3 dân tộc chính hiện đang sống trong 3 huyện thuộc khu vực VQG là
Thái, Khơ mú và Kinh. Ngoài ra còn có một số dân tộc khác như H’Mông,
Đan Lai, Poọng, Ơ Đu, Tày nhưng số lượng không lớn.
2.2.2. Dân số và lao động
Tổng dân số 16 xã là 16.954 hộ với 93.335 nhân khẩu. Phần lớn dân cư
phân bố trong 7 xã của huyện Con Cuông (39.419 nhân khẩu, 7.167 hộ) và 5
xã thuộc huyện Anh Sơn (38.163 nhân khẩu, 6.938 hộ). Số còn lại thuộc 4 xã
của huyện Tương Dương (15.753 nhân khẩu với 2.849 hộ), trung bình mỗi hộ
gia đình có từ 5 -6 người. Tăng dân số trong những năm sau này là áp lực lớn.
Dân số trong khu vực phân bố không đồng đều giữa các xã. Một số xã có
dân số rất thấp như xã Tam Hợp huyện Tương Dương (7 người / km 2), xã
Châu Khê huyện Con Cuông (13 người / km 2). Cũng có những xã của huyện
Anh Sơn mật độ dân số cao như xã Đỉnh Sơn (495 người / km 2), xã Cẩm Sơn
(421 người / km2).
2.2.3.Thực trạng các ngành kinh tế chủ yếu
Các hoạt động sản xuất nông lâm nghiệp hiện chủ yếu tập trung ở 16 xã
vùng đệm và 3 Lâm trường Con Cuông, Tương Dương và Anh Sơn. Dưới đây
là cơ cấu các loại đất trong khu vực.

15



Tam Thái
Tam Hợp
Tổng

28373
1305
1299
2278
5085
18406
123656.8

2994
767
306
547
791
583
2442

17027
181
490
923
1775
13658
71846

40549.5
12476.1


195.5
102.7
102.6
3.5
5840.3

31289.6
7109.8
5130.8
19838.6
152241.8

Đất cây
công
nghiệp
520
79
63
189
160
32
*

8032
278
640
619
2359
4133

người dân nơi đây còn gặp nhiều khó khăn. Vẫn còn 23% số hộ thiếu lương
thực trong những tháng giáp hạt.
Cây trồng nông nghiệp chủ yếu là lúa nước, lúa nương, khoai và sắn.
Ngoài các cây trồng chính nêu trên, trong khu vực còn có một số loài cây
trồng khác như rau, đậu và một số loài cây công nghiệp như vừng, lạc, mía…
nhưng diện tích không đáng kể.
16


* Chăn nuôi, Thuỷ sản
Do có điều kiện thuận lợi về diện tích rừng núi rộng lớn, thích hợp với
chăn nuôi đại gia súc nên chăn nuôi trâu, bò và lợn khá phát triển trong vùng.
Phần lớn vật nuôi được thả rông gần như quanh năm, khi cần dùng đến thì
người nuôi mới đi tìm về. Bình quân mỗi hộ gia đình nuôi từ 1-2 con lợn, 1-2
con trâu hoặc bò, mỗi xã có từ 150 đến 200 đàn dê. Các gia đình còn chăn
nuôi gà, vịt.
Chăn nuôi đóng một vai trò đáng kể đối với cuộc sống của đồng bào
vùng đệm VQG. Chăn nuôi không những giải quyết thực phẩm tại chỗ mà
còn cung cấp sức kéo cũng như phân bón phục vụ cho sản xuất nông nghiệp,
góp phần làm tăng năng suất cây trồng cũng như việc cải tạo đồng ruộng.
Điểm bất cập trong chăn nuôi ở đây là tỷ lệ thả trâu bò vào VQG hiện
vẫn còn phổ biến ở một số xã cận kề ranh giới và đã gây những tổn thất nhất
định đối với đa dạng sinh học của VQG.
* Thuỷ lợi
Phân bố trên địa bàn VQG Pù Mát có rất nhiều khe suối, nhưng diện tích
đất được tưới chiếm một tỷ lệ rất nhỏ (huyện Con Cuông là 3,72% diện tích
đất chuyên dùng) và thường chủ yếu tập trung ở những nơi đất có địa hình
bằng. Một số hồ đập lớn chứa nước như hồ Đông Quan tưới nước 300ha, hồ
Khe Chung, hồ Khe Mậy tưới được 180ha và một số trạm bơm điện như trạm
Đò Rồng tưới được 148 ha, Trạm Thạch Sơn tưới được 82 ha.

* Y tế - Giáo dục
- Y tế: Cơ sở vật chất y tế trong khu vực còn khó khăn và thiếu thốn. Đa
số các xã đều chưa có trạm xá kiên cố hoàn chỉnh, chưa có bác sỹ, chỉ có các
y sỹ, y tá là người có tay nghề, khả năng và kỹ thuật cao nhất.
- Giáo dục: Là miền núi nhưng tình hình giáo dục ở khu vực tương đối
tốt. Năm học 1995 -1996, huyện Anh Sơn đã được tỉnh công nhận là một
huyện miền núi điển hình đạt tiêu chuẩn phổ cập giáo dục tiểu học. Huyện
Con Cuông cũng đã hoàn thành chương trình phổ cập tiểu học và xoá mù chữ
được nhà nước tặng Huân chương Lao động hạng III. Tuy nhiên, trong thực tế
vẫn còn rất nhiều trở ngại, một số người trong độ tuổi từ 15 -35 còn mù chữ
18


(30% số dân mù chữ trong 3 bản người Đan Lai thuộc vùng bảo vệ nghiêm
ngặt). Một số bản ở vùng sâu vùng xa vẫn tiếp tục xuất hiện nạn tái mù chữ.
* Sản xuất Lâm nghiệp
Các chương trình lâm nghiệp được thực hiện như Chương trình 327, 661.
Hiện nay huyện Anh Sơn đã giao cho các hộ, các tập thể khoanh nuôi tu bổ,
chăm sóc bảo vệ và trồng được 2217 ha rừng, huyện Tương Dương được
8306ha, huyện Con Cuông được 30280ha.
Công tác trồng rừng cũng được chú trọng. Cho đến thời điểm hiện
nay, diện tích rừng đã được trồng của huyện Anh Sơn là 2853 ha, Con Cuông
là 3350 ha và Tương Dương là 206 ha. Ngoài diện tích rừng trồng tập trung,
các huyện còn trồng được hàng triệu cây phân tán.
Trong phạm vi vùng đệm VQG có 3 lâm trường quốc doanh: Lâm
trường Con Cuông, Lâm trường Anh Sơn và Lâm trường Tương Dương. Hoạt
động chủ yếu của các lâm trường này là bảo vệ, tu bổ làm giàu rừng và khai
thác.
Bảng 4.4 Quy mô và hoạt động các lâm trường năm 2003
Diện

(ha)
4900

Diện tích
rừng sản
xuất (ha)

Lượng khai
thác bình
quân/ năm

5800

m3)
500

8400
110
40
3600
4800
1000
Cuông
L.T T. Dương 23200
61
10
11500
11700
2000
Bên cạnh các hoạt động truyền thống, các lâm trường trong khu vực

mật ong, lấy nứa, cây cảnh.
Chương 3.
MỤC TIÊU, ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG
PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1. Mục tiêu nghiên cứu

20


- Xác định được thành phần và một số đặc điểm của các loài bướm ngày
tại khu vực nghiên cứu.
- Đưa ra biện pháp quản lý các loài bướm ngày tại khu vực nghiên cứu.
3.2. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng: Các loài bướm ngày thuộc bộ Cánh vẩy (Lepidotera).
- Địa điểm: Tại vườn quốc gia Pù Mát, huyện Con Cuông, tỉnh Nghệ An.
- Thời gian nghiên cứu: từ tháng 3/2017 đến tháng 5/2017.
3.3. Nội dung nghiên cứu
a. Xác định thành phần loài bướm ngày trong khu vực nghiên cứu.
b. Xác định một số đặc điểm sinh học, sinh thái học của một số loài bướm
ngày tại khu vực nghiên cứu.
c. Đề xuất biện pháp quản lý các loài bướm ngày tại khu vực nghiên cứu.
3.4. Phương pháp nghiên cứu
3.4.1. Phương pháp thu thập và kế thừa số liệu
- Thu thập và kế thừa các tài liệu, báo cáo, tình hình nghiên cứu về côn
trùng rừng tự nhiên trong VQG Pù Mát.
- Ngoài thu thập và kế thừa một số tài liệu, kết quả liên quan, tiến hành
phỏng vấn người dân bản địa về giá trị kinh tế và công dụng một số loài côn
trùng được sử dụng tại địa phương.
3.4.2. Phương pháp điều tra thực địa
Tiến hành điều tra sơ thám khu vực cần nghiên cứu để xác định ranh

SC01
SC02

SC03

SC04
22

Đặc điểm
Sinh cảnh dân cư, canh tác nông nghiệp: Là khu làng bản sinh
sống và đất canh tác nông nghiệp chủ yếu là lúa, ngô.
Sinh cảnh tràng cỏ cây gỗ rải rác (Ib, Ic): Là khu vực đất
trống chủ yếu là cây bụi cây cỏ tranh cây gỗ mọc rải rác thực
vật chủ yếu là các loài cây ưa sáng mọc nhanh như Thôi
chanh… tầng cây bụi thì có Bùm bụp, Cỏ lào, Cỏ tranh…
Sinh cảnh rừng tre nứa: là kiểu phụ thứ sinh nhân tác. Trước
đây là kiểu phụ rừng phục hồi sau khai thác hoặc sau nương
rẫy nhưng tầng cây gỗ không tái sinh, phát triển được do bị các
loài tre nứa xâm lấn. Đến nay các loài tre nứa đã chiếm ưu thế.
Rừng tre nứa thuần loài mọc khép tán nhanh che hết ánh sáng
của thảm cây bụi bên dưới nên thực bì rất ít chủ yếu là thảm
mục và một số ít loài cỏ như Cỏ lào…
Sinh cảnh rừng tự nhiên trên núi đá vôi: Phân bố ở một vài
đỉnh núi thuộc khu vực huyện Anh Sơn, Con Cuông và Tương


Dương.
Sinh cảnh rừng phục hồi sau nương rẫy: Kiểu phụ thứ sinh
nhân tác. Kiểu phụ này phân bố gần các khu dân cư, trước đây
là nương rẫy nhưng đã được khoanh nuôi bảo vệ. Bao gồm các


huyện Anh Sơn bố trí 6 điểm điều tra.
Tổng có 17 điểm điều tra.
Đặc điểm các tuyến điều tra:
+ Tuyến 1 có 6 điểm điều tra đi qua: Sinh cảnh rừng tre nứa, sinh cảnh
rừng tự nhiên ven sông suối, sinh cảnh rừng phục hồi sau nương rẫy,
sinh cảnh tràng cỏ cây gỗ rải rác (Ib, Ic).
+ Tuyến 2 có 5 điểm điều tra đi qua: Sinh cảnh dân cư canh tác nông
nghiệp, sinh cảnh tràng cỏ cây gỗ rải rác (Ib, Ic), sinh cảnh rừng tự
nhiên trên núi đá vôi, sinh cảnh rừng tự nhiên ven sông suối.
+ Tuyến 3 có 6 điểm điều tra đi qua: Sinh cảnh tràng cỏ cây gỗ rải rác
(Ib, Ic), sinh cảnh rừng tự nhiên ven sông suối, sinh cảnh rừng tre nứa,
sinh cảnh rừng phục hồi sau nương rẫy, sinh cảnh dân cư canh tác
nông nghiệp.

23


Bản đồ thể hiện các tuyến điều ta các loài bướm ngày
3.4.2.3. Phương pháp thu thập mẫu
- Thu thập mẫu chủ yếu bằng vợt, dụng cụ sử dụng là:
+ Vợt bắt bướm: Làm bằng vải màn, miệng vợt tròn có đường kính
30cm được gắn vào cán gỗ dài 1,5m.

Hình 1: Vợt bắt bướm

24


+ Bao giữ mẫu: Làm bằng giấy không bị nát và giúp mẫu vẫn giữ được


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status