Đ Ạ I HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
T R Ư Ờ N G Đ Ạ I HỌC K H O A H Ọ C T ự N H IÊ N
$ $ ỉ|c$ $ $ $
ĐỂ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC
NGHIÊN CỨU ĐA DẠNG SINH HỌC CÔN TRÙNG NƯỚC
VÀ ĐỂ XUẤT GIẢI PHÁP BẢO TỒN CÁC LOÀI ĐẶC HỮU
TẠI VƯỜN QUỐC GIA HOÀNG LIÊN, LÀO CAI
MÃ SỐ: Q G .07.14
Chủ nhiệm:
TS. N guyễn Văn Vịnh
Các cán bộ tham gia:
P G S .T S . N g u y ễ n X u â n Q u ý n h
T hs. B ùi T hanh V ân
CN. N g ô X uân Nam
C N . N g ô M in h Thu
C N . H oàn g Q u ốc K hánh
NCS. N guyễn Q uang H uy
C N . N g u y ễ n T hanh Sơn
Hà Nộ i , 2009
BÁO CÁO T Ó M T Ắ T
â. Tên đề tài: “Nghiên cứu đa dạng sinh học côn trùng nước và đề xuất giải pháp bảo
tổn các loài đặc hữu tại Vườn Quốc gia Hoàng Liên, Lào Cai”
Mã số:
Tổ chức cá c đợt đ iều tra thu thập m ẫu vật ngoài thực địa .M ẫu vật được điều tra
theo độ cao của suối, theo sinh cảnh.
Xác định các chỉ tiêu lý hoá của nước.
- Định loại toàn bộ mẫu vật Côn trùng nước thu được.
Xác định các loài đặc hữu của Vườn quốc gia Hoàng liên.
- Xác định loài mới cho khu hệ Côn trùng nước Việt Nam.
-
X ác định m ột s ố chỉ s ố liên quan đến đa dạng sinh học.
So sánh sự phân bố của các nhóm loài theo độ cao, sinh cảnh, cấu trúc nền đáy.
e. Các kết quả đạt được:
Kết quả khoa học:
- Đăng 4 bài báo khoa học ở tạp chí khoa học trong và ngoài nước
- Tham gia 2 báo cáo khoa học về Côn trùng nước tại hội nghị quốc tế năm 2007 và
2009.
K ết quả đào tạo:
- Đào tạo 4 khoá luận cử nhân (Đã bảo vệ)
- Đào tạo 2 luận văn thạc sĩ (Đang thực hiện, 2007-2009)
f. Tinh hình kinh phí của đề tài: 60.000.000đ (Sáu mươi triệu đồng)
Nội dung
Mục
Sô tiền
Bồi dưỡng báo cáo viên
M ục 113
Công tác p h í
Tiết 01
Vé máy bay, tàu xe
M ục 114
Chi phí thuê mướn
Tiết 01
T huê phương tiện vận chuyển
Tiết 07
Thuê lao động trong nước
Tiết 15
Chi phí thuê mướn khác (thuê dịch tài liệu)
M ục 119
Chi phí nghiệp vụ chuyên môn của từng ngành
KHOA QUẢN LÝ
CHỦ TRÌ ĐỂ TÀI
(K ý và ghi rõ họ tên)
(K ý và ghi rõ họ tên)
PHÓ CHÙ NHIỄM KHOA
KÌS.TS.
2.400.000 đ
J%UÌ 'Ẳía
-
02 Msc thesis (during time 2007-2009)
altitude, habitat and
substrate.
BÁO CÁO KẾT QUẢ ĐỂ TÀI
MỤC LỤC
1. MỞ Đ Ầ U .................................................................................................................................3
2
. TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN cú u TRÊN THẾ GIỚI VÀ TRONG NƯỚC
2.1. Tinh hình nghiên cứu trẽn thê giới...........................................................................3
2.2. Tinh hình nghiên cứu ở Việt Nam............................................................................ 8
3. ĐIỀU KIỆN T ựN H IÊ N CỦA KHU v ự c NGHIÊN c ú u
3.1. Vị trí địa lý................................................................................................10
3.2. Địa hình.................................................................................................... 10
3.3. Địa chất và thổ nhưỡng............................................................................... 10
3.4. Khí hậu....................................................................................................... 11
3.5. Thủy văn.................................................................................................. 11
4. THÒI GIAN, ĐỊA ĐIEM
nước có quan hệ mật thiết đối với con người, đặc biệt là những nhóm giữ vai trò dịch tễ
học, chẳng hạn như các loài thuộc giống Anopheles, Aedes (Diptera) giai đoạn trưởng
thành là những vector truyền bệnh sốt rét, sốt vàng da cho con người (Merritt &
Cummins, 1996). Khác với nhóm Côn trùng cạn, phần lớn các loài Côn trùng nước tổn
tại cả trong môi trường nước và cả trong môi trường cạn. Do vậy chúng là những đối
tượng lý tưởng dùng trong các nghiên cứu về sinh thái học và sinh học tiến hoá. Đa
phần các loài Côn trùng nước rất nhạy cảm với sự biến đổi của môi trường nước, do
vậy hiện nay chúng đang là đối tượng được dùng làm sinh vật chỉ thị đánh giá chất
lượng môi trường nước (Morse, 1984). Ớ nước ta những nghiên cứu về Đa dạng Sinh
học của nhiều nhóm động vật và thực vật khác nhau đã được thực hiện. Riêng đối với
Côn trùng nước cho đến nay các nghiên cứu còn ít và tản mạn. Đặc biệt là ở các Vườn
quốc gia và khu bảo tồn ở Việt nam nơi có hệ thống sông suối phong phú, tiềm ẩn tính
đa dạng của côn trùng nước, rất cần được sự quan tâm nghiên cứu. Chính vì vậy chúng
tôi đã thực hiện đề tài: “N ghiên cứu đa dạng sinh học Côn trùng nước và đề xuất
giải pháp bảo tồn các loài đặc hữu tại Vườn Q uốc gia Hoàng Liên, Lào C ai” Mục
tiêu chính của đề tài là đánh giá đa dạng của Côn trùng nước , và trên cơ sở các kết quả
nghiên cứu định hướng công tác bảo tồn các loài đặc hữu ở khu vực nghiên cứu.
2
. TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN cú u TRÊN THẾ GIỚI VÀ TRONG NƯỚC
2.1. Tình hình nghiên cứu trên thê giới
Côn trùng nước đã được quan tâm nghiên cứu từ rất lâu ở những nước phát
triển. Đã có rất nhiều công trình nghiên cứu liên quan đến từng bộ, từ những nghiên
cứu về phân loại học (Eaton, 1871, 1883-1888; McCafferty, 1973, 1981; Kawai, 1961,
1968, 1969) sinh thái học (Corbet, 1980; Brittain, 1982), tiến hoá (Edmunds, 1972
McCafferty, 1991,1999) đến những nghiên cứu về ứng dụng (Morse, 1984).
Côn trùng nước gắn bó chật chẽ vói hoạt động của con người nên đã có rất nhiều
nghiên cứu về các nhóm côn trùng nước gây hại, truyển bệnh như ruồi, muỗi (Resh và
Rosenberg, 1979; Merritt và Cummins, 1984; Merritt và Newson, 1978; Kim và
pidoptera).
liên cứu về Bộ Phù (E phem eroptera)
Cho đến nay trên toàn thế giới đã công bố hơn 2000 loài, thuộc 371 giống và 26
McCafferty,1981) của bộ Phù du. Công trình nghiên cứu đầu tiên về phân loại học
du được thực hiện bởi nhà Tự nhiên học Linnaeus vào năm 1758. Trong công trình
5ng đã m ô tả 6 loài phù du thu được ở châu  u và đều xếp ch ú n g thành m ột nhóm
ihemera. Vào những thập niên cuối của thế kỷ 19 nhà Côn trùng học Eaton đã
bố một loạt các công trình nghiên cứu về Phù du, trong đó nổi bật là công trình
onograph on the Ephemeridae" được công bố vào năm 1871 (Eaton, 1871). Công
này đã cung cấp những kiến thức cơ bản về Phù du, đặc biệt là những đặc điểm về
hái của cả giai đoạn ấu trùng và trưởng thành, dùng cho việc xây dựng khoá định
ến các họ và giống. Công trình nghiên cứu này được xem như là chìa khoá cho
lực hiện các nghiên cứu về phân loại Phù du tiếp sau này. Đến đầu thế kỷ 19 đã
t số nhà khoa học châu Âu và châu Mỹ quan tâm nghiên cứu về phân loại của
I, điển hình là các nghiên cứu của Ưlmer (1920, 1924, 1925 1932-1933) Navás
1930).Tiếp theo Emunds (1963) đã đưa ra một hệ thống phân loại đến các họ
trên toàn thế giới. Hệ thống phân loại này đã đưa ra một bức tranh tổng thể về
lân loại bậc cao, cũng như nguồn gốc phát sinh của Phù du.
4
C ác nhà k h oa h ọ c trên thế giới cũng sớm nhận ra vai trò quan trọng của côn
trùng nước trong hệ sinh thái, từ những nãm 60 của thế kỷ trước, Kuehne (1962),
Bartsch và Ingram (1966), Wilhm và Dorris (1968) đã bắt đầu sử dụng côn trùng nước
làm sinh vật chỉ thị chất lượng nước. Tiến sang thập niên 70 và 80, côn trùng nước trở
thành vấn đề được quan tâm nhiều hơn nhất là các nghiên cứu về sinh thái học cơ bản
(Lepidoptera).
N ghiên cứu về Bộ Phù (E phem eroptera)
Cho đến nay trên toàn thế giới đã công bố hơn 2000 loài, thuộc 371 giống và 26
họ (McCafferty,1981) của bộ Phù du. Công trình nghiên cứu đầu tiên về phân loại học
Phù du được thực hiện bởi nhà Tự nhiên học Linnaeus vào năm 1758. Trong công trình
này ông đã mô tả 6 loài phù du thu được ở châu Âu và đều xếp chúng thành một nhóm
là E p h em e ra . V à o những thập niên cu ối của thế kỷ 19 nhà Côn trùng học Eaton đã
công bố một loạt các công trình nghiên cứu về Phù du, trong đó nổi bật là công trình
"A monograph on the Ephemeridae" được công bố vào năm 1871 (Eaton, 1871). Công
trình này đã cung cấp những kiến thức cơ bản về Phù du, đặc biệt là những đặc điểm về
hình thái của cả giai đoạn ấu trùng và trưởng thành, dùng cho việc xây dựng khoá định
loại đến các họ và giống. Công trình nghiên cứu này được xem như là chìa khoá cho
việc thực hiện các n g h iên cứu về phân loại Phù du tiếp sau này. Đ ến đầu th ế kỷ 19 đã
có một số nhà khoa học châu Âu và châu Mỹ quan tâm nghiên cứu về phân loại của
Phù du, điển hình là các nghiên cứu của Ulmer (1920, 1924, 1925 1932-1933), Navás
(1920, 1930).Tiếp theo Emunds (1963) đã đưa ra một hệ thống phân loại đến các họ
Phù du trên toàn th ế g iớ i. H ệ thống phân loại này đã đưa ra m ột bức tranh tổng thể về
khoá phân loại bậc cao, cũng như nguồn gốc phát sinh của Phù du.
4
Đối với khu vực châu Á, những nghiên cứu đầu tiên về khu hệ Phù du được thực
hiện bởi các nhà Côn trùng học đến từ châu Âu, trong đó phải kê đến là Navás (1922,
1925), Lestage (1921,1924).Chính những kết quả của những nghiên cứu này là cơ sở,
nền tảng thúc đẩy việc nghiên cứu Phù du ở khu vực châu á. Đã có nhiều quốc gia
trong khu vực châu á quan tâm đến nghiên cứu khu hệ Phù du, trong đó cần nói
Khanna, 1983). Hai phân bộ còn phân bố rất rộng và có mặt ở cả thủy vực nước đứng
cũng như nước chảy. Đã có nhiều công trình nghiên cứu về hệ thống phân loại chuồn
chuồn ở Châu á: Needham, 1930; Fraser, 1933, 1934, 1936; Zhoa, 1990, Watson,
1991, Wilson, 1995...Ngoài các nghiên cứu về phân loại học cũng đã có các công trình
nghiên cứu về địa động vật học như của Prinratana, 1988; Tsuda, 1991...các cống trình
nghiên cứu về sinh học và sinh thái học (C orbet, 1980, Hutchinson, 1993...). Các khoá
định loại về C huồn ch u ồn cũ n g đã được thực hiện nhiều tác giả, và đối vói giai đoạn
trưởng thành, các khoá định loại khá chi tiết. R iên g đối với giai đoạn ấu trùng Ishida &
5
Ishida (1985) đã xây dựng khoá định loại có kèm theo hình vẽ rất rõ ràng tới giống ở
giai đoạn ấu trùng vùng Châu á.
Nghiên cứu về bộ Cánh úp (Plecoptera)
Cho đến hiện nay trên toàn thế giới đã xác định được hơn 1.800 loài thuộc bộ Cánh
úp. Đã có rất nhiều các công trình nghiên cứu về phân loại học của bộ này trên thê
giới. Đặc biệt những nghiên cứu về bộ này ở khu vực Đông nam á và vùng Phương
Đông (ấn Độ - Mã Lai) đẫ được đề cập đến từ khá sớm. Hai nhà Côn trùng học Wu và
Claassen (1934, 1935, 1937, 1938) đã công bố một loạt các công trình phân loại Cánh
úp ở miền nam Trung quốc. Kavvai (1961-1975), Jewett (1975) đẫ đưa ra những dẫn
liệu khá phong phú về khu hộ Cánh úp ở khu vực Đông Nam A, An Độ, Sri Lanka,
Bangladesh v.v...Zwich và Sivec (1980) công bố về khu hệ Cánh úp ở dãy núi cao
Himalaya. Zwick (1980, 1983, 1985, 1988), Stark (1979, 1987,1983, 1991, 1999) đẫ
c ô n g b ố và b ổ sung m ột loạt các cô n g trình về phân loaị cũ n g như phân b ố của các loài
Cánh úp ở vùng Ấn Độ - Mã Lai, cũng như khu vực Đông nam Châu á. Uchida và cộng
sự (1988, 1999) đẫ tiến hành các nghiên cứu về khu hệ Cánh úp ở nhiều nước ở Châu
Ulmer
(1911,1915,1925,1927,1930,1932) với các công trình về khu hệ Cánh lông ở Indonesia
Các nghiên cứu về khu hệ Cánh lông ở Ân Độ, Srilanca được thực hiện bời Martynov
(1935,1936). Theo công bố của Schmid (1984) thì chỉ tính riêng vùng Ấn Độ - Mã Lai
đẫ có trên 50.000 loài. Các nghiên cứu ở Borneo (Kimmins, 1955), ở New Guinea
(Kimmins, 1962), ở Philippin (Bank, 1937); ở Trung Quốc (Martynov, 1931; Wang,
1963;
ở Nhật bản (Iwata, 1927; Tanida, 1987...). Một thực tế đòi hỏi là việc sử dụng
cô n trùng nước làm sinh vật chỉ thị đánh giá chất lượng nước lại cần cãn cứ vào giai
đoạn ấu trùng. C hính vì vậy đã xuất hiện m ột cô n g trình khá đồ sộ liên quan đến giai
đoạn ấu trùng của Wiggins (1996), trong đó có cả giai đoạn âu trùng của Trichoptera ờ
Châu Á.
Nghiên cứu về bộ Cánh nửa (Hemiptera)
Trên toàn thế giới cho đến nay đã xác định được trên 4.000 loài thuộc bộ Cánh
nửa sống ở nước. Trong đó miền miền An độ - Mã Lai có số lượng loài chiếm ưu thế
6
đặc biệt có rất n h iều g iố n g đặc hữu, thậm ch í c ó cả những phân họ dặc hữu ở khu vực
này (Bishop, 1973; Andersen, 1982; Spence & Andersen, 1994)LM. Những nghiên cứu
về phân loại h ọc củ a H em iptera ở Châu á đã được nghiên cứu từ khá sớm , như các côn g
nghiên cứu về Hai cánh sống ở nước đã thống kê được trên 120000 loài. Đây là bộ có
nhiều họ rất phổ biến và được nghiên cứu rất kỹ, do chúng có quan hệ chặt chẽ với đời
sống con người như họ muồi (Culicidae), họ ruồi đen (Simuliidae). Bộ hai cánh không
chì đa dạng về thành phần loài mà chúng còn đa dạng về các dạng hình thái cơ thể
cũng như những đặc tính sinh thái học. Những nghiên cứu về bộ Hai cánh đã được rất
nhiều các nhà k hoa h ọ c c ô n g b ố, trong đó điển hình là các ngh iên cứu của A lexan d er
(1931), Mayer (1934), Z w ich & Hortle (1989). Đối với khu vực Châu á, Delfinado &
7
Hardy (1973, 1975, 1977) đã tổng hợp một danh lục khá đầy đủ về thành phần loài của
H ai cánh ở M iền Ân đ ộ - M ã Lai. K hoá định loại tới họ và g iố n g hiện nay chủ yếu thực
hiện theo khoá định loại được xây dựng bởi Harris (1 9 9 0 ).
N ghiên cứu về bộ C ánh rộng (M eganoptera)
Bộ Cánh rộng chỉ gồm có hai họ đó là họ Sialidae và Corydalidae. Các loài
thuộc họ Sialidae phân bố hẹp, cho đến nay ở Châu á họ này chỉ phân bố ở vùng ôn đới
thuộc Hàn Quốc, Nhật Bản và một số nơi ở Trung Quốc (Bank, 1940). Các loài thuộc
họ C orydalidae c ó phân b ố ở hầu hết các khu vực ở Châu á (Bank, 1940; G hosh, 1981;
Yang & Yang, 1986, 1991, 1992, 1993).
Nghiên cứu về bộ Cánh vảy (Lepidoptera)
Bộ Cánh vảy sống ở nước chỉ có một số loài thuộc họ Pyralidae, Pyraustidae và
Crambidae. Các nghiên cứu về bộ này ở Châu á chủ yếu về phân loại học trong đó có
các nghiên cứu của Rose & Pajni (1987), Habeck & Solis (1994) và Munroe (1995).
Trong các nghiên cứu này các tác giả cũng đã thành lập khoá định loại cụ thể tới loài.
du ở Việt Nam, trong có thành lập thêm 2 giống mới là Asionurus và T rich o g en ie lỉa .
Mười loài mói này đều thuộc họ Heptageniidae, trong đó có 2 loài Asionurus primus
và Trichogeniella maxillaris cho đến nay được xem là loài đặc hữu của Việt Nam.
Nguyễn Văn Vịnh và Yeon Jae Bae (2001,2003,2004,2005) đã công bố, bổ sung
một loạt các kết quả về khu hệ Phù du ở Việt nam. Những nghiên cứu này đã bổ sung
danh sách thành phần loài, mô tả các loài mới, cũng như xây dựng các khoá định loại
tới loài của toàn bộ các họ.
Nghiên cứu đầu tiên về khu hệ Chuồn chuồn ở Việt Nam đã được thực hiện bởi
Martin (1904), chủ yếu là mô tả một số loài mới của phân họ Chuồn chuồn ngô. Fraser
(1919) đã công bố 39 loài Chuồn chuồn ớ Miền Bắc Việt Nam. Từ nãm 1980 đến nay
đã có thêm khá nhiều các công trình nghiên cứu vể Chuồn chuồn ở Việt Nam được
công bố như Pritykina (1992), Asahina (1995,1996), Do Manh Cuong (2006). Cho đến
nay đã mô tả và công bố 234 loài Chuồn chuồn ở Việt Nam (Do Manh Cuong, 2006).
Tuy nhiên hầu hết các công trình này đều tập chung chủ yếu vào giai đoạn trưởng
thành. Do vậy cần phải có các nghiên cứu ở giai đoạn thiếu trùng của Chuồn chuồn ở
Việt Nam.
Đối với Việt Nam, những nghiên cứu về khu hệ Cánh úp còn tản mạn. Cho đến
nay cũng mới chỉ có một số tác giả, chủ yếu là các nhà Côn trùng học người nước
ngoài như Kawai (1968, 1969), Zwich (1988) và Stark (1999). Các nghiên cứu này
cũng chỉ mới tập trung vào việc mô tả và công bố một số loài mới dựa vào mẫu vật giai
đoạn trưởng thành thu được ở một vài địa điểm của Việt Nam. Các công bố gần đây dã
xác định được 50 loài Cánh úp ở Việt Nam (Cao Thi Kim Thu, 2002). Những nghiên
cứu về Cánh úp ở Việt Nam cũng đang tiếp tục được nghiên cứu.
Những nghiên cứu đầu tiên về bộ Cánh lông ở Việt Nam đã được đề cập đến
trong các tài liệu của một số nhà côn trùng học ở các nước Châu Âu như Đức (Ulmer,
1907), Tây Ban Nha (Navas, 1913). Tiếp theo những nghiên cứu này có một số công
trình nghiên cứu của từng tổng họ, hoặc các họ riêng biệt. Trong đó phải kể đến công
trình của Navas (1913, 1917, 1922, 1930, 1932, 1933), Bank (1931), Mosely (1934)
mô tả một số loài thuộc tổng họ Hydrosychoidea, Philopotamoidea, Leptoceroidea
Limnephiloidea và Rhyacophiloidea ở Việt Nam. Gần đây cũng có một số công trình
g iố n g . Gần đây A rm itage và A refina (2 0 0 3 ) đã cung cấp những dẫn liệu mới về các
g iố n g G o e ra , G a s tr o c e n tr e lla và R h ya co p h ila ở V iệt N am . K ết quả điều tra nghiên cứu
của Hoang Duc Huy (2005) đã xác định được 198 loài Cánh lông ở Việt Nam, và các
n gh iên cứu theo hướng phân loại học của Cánh lôn g đang tiếp tục được nghiên cứu.
3. ĐIỀU KIỆN T ự NHIÊN CỦA KHƯ v ự c NGHIÊN c ú u
3.1. Vị trí địa lý
Vườn Quốc gia Hoàng Liên nằm trong khu vực Tây Bắc Việt nam, có vị trí địa
lý từ 22° 0 9 ’-23°30’ độ vĩ Bắc và 103°00 -103°59’ độ kinh Đông, v ề dịa giới hành
ch ín h g ồm 6 xã: San Sả H ồ, Lao Chải, Tả V an, Bản H ồ, M ường K hoa, Thân Thuộc
T h uộc h uyện Sapa và huyện Than
U yên , Tỉnh Lào Cai. D iện tích Vườn Q uốc gia là
51.800 ha. Trong đó vùng lõi là 29.845 ha, là phần cuối cùng của dãy Himalaya chạy
d ọc sôn g H ồn g theo hướng Tây Bắc - Đ ôn g N am .
3.2. Địa hình
H oàng L iên là m ột hệ thống các đỉnh núi cao trên 2 0 0 0 m chạy theo hướng Tây
Bắc - Đ ô n g N am . Đ ặ c b iệt ở Vườn Q uốc gia c ó đỉnh núi Phansipan cao 3 .1 4 3 m so với
m ặt nưóc biển. Các hệ chính của dãy núi thoải dần theo hướng Đ ô n g Bắc và Tây Nam
tạo thành hai sườn ch ín h của dãy H oàng Liên trong đó sườn Đ ô n g Bắc thuộc huyện
Sapa và sườn Tây Nam thuộc huyện Than Uyên. Các dạng địa hình chủ yếu của Vườn
Q u ố c G ia H oàn g L iên g ồ m núi cao, thung lũng, sườn núi đồi. M ức độ chia cắt theo
c h iều ngang và ch iều thẳng đứng rất mạnh tạo ra sự phức tạp của địa hình và độ dốc
lớn. Độ dốc trung bình phổ biến từ 20-30°, có nơi 40° và dốc đứng.
tuyết rơi đôi khi có thể xuống dưới - 3 °c. Lượng mưa phân bố không đều giữa các
tháng trong năm, đặc biệt vào các tháng mùa hè, lượng mưa tương đối cao. Mùa mưa
bắt đầu từ giữa tháng 3 đến giữa tháng 10, trong đó hai tháng có lượng mưa lớn là
tháng 7 (454,3 mm) và tháng 8 (453,8 mm). Vào mùa đông, do nhiệt độ hạ thấp, hạn
chế lượng bay hơi nước, vì vậy, đây là khoảng thời gian mưa ít nhất trong năm, lượng
mưa trung bình tháng khoảng 50 -100 mm, thấp nhất vào tháng 12 (63,6 mm) nhưng
do nhiệt độ thấp nên thấy rằng khu vực Hoàng Liên không có tháng nào khô. Lượng
nước bốc hơi trong vùng có ảnh hưởng tới độ ẩm, nhiệt độ chung cho toàn khu vực. Độ
ẩm k h ôn g k hí ở khu vực H oàng Liên tương đối cao, trung bình năm khoảng 86%.
Tháng có độ ẩm lớn nhất là tháng 9 và tháng 11 với giá trị 90%, tháng có độ ẩm nhỏ
nhất là tháng 4 có giá trị 82% (Nguyễn Nghĩa Thìn, 2008).
Ngoài những yếu tố thời tiết chung, Vườn Quốc gia Hoàng Liên còn có những
hiện tượng thời tiết đặc biệt như: sương mù, băng giá, sương muối, mưa đá,
3.5. Thủy vãn
D o đặc đ iểm địa hình của khu vực, Vườn Q u ốc gia H oàng L iên được tạo thành
từ hai sườn chính: sườn Đ ô n g Bắc dốc thoải về phía sôn g H ồn g và sườn Tây Nam dốc
thoải về phía sô n g Đ à, vì vậy trong khu vực cũng tạo nên hai hê suối chính:
-
H ệ thống su ối thuộc khu vực Đ ô n g Bắc gồm 3 suối chính: M ường H oa Hồ bắt
n gu ồn từ P hansipan, S éo Trung H ồ bắt nguồn từ Tả V an, Tả Trung H ó bắt nguồn từ
Bản Hồ. Ba suối này gặp nhau tại khu vực Bản Dền tạo thành ngòi Bốt đổ ra sóng
H ồn g. V ì địa hình d ố c , chia cắt m ạnh, nên về m ùa đ ôn g chúng chỉ là suối cạn song
11
Đ iểm 1 ( Đ l): Đ ỉnh Thác Bạc
■
Đ iểm 2 (Đ 2): Chân Thác Bạc
■ Điểm 3 (Đ3): ô Quý Hồ
■
Đ iểm 4 (Đ 4): Sín Chải
■
Đ iể m 5 (Đ 5): Cát Cát
■
Đ iểm 6 (Đ 6): Tả Van
■
Đ iểm 7 (Đ 7): Cầu M ây
■
Đ iểm 8 (Đ 8): Bản Hồ
■
Đ iểm 9 (Đ 9): Gia Phú, Bến Đ ền
bụi, tre, cây gỗ lớn và nhỏ, độ che phủ đạt khoảng 90%
• Điểm 2. Chân Thác Bạc
-
Tọa độ: 22°21 ’8 4 6 ” vĩ Bắc, 103°46’5 7 ” kinh Đông.
-
Độ cao suối là 1830 m.
-
Chiều rộng suối: 9-18 m, chiều rộng dòng chảy 1-2 m, độ sâu dòng chảy
nơi thu mẫu ở chỗ nước chảy 10 cm, độ sâu dòng chảy nơi thu mẫu ờ chỗ
nước đứng 18 cm, pH: 6,9, nhiệt độ nước: 12,6°c.
-
Khu vực suối dưới chân Thác Bạc là điểm du lịch của Thác Bạc. Nước cháy
mạnh, trong. Do đó khu vực này có nhiều đá tảng lớn và đặc trưng là nền
đáy với đá cuội lớn. Xung quanh hai bên bờ suối có nhiều cây bụi, cây leo,
cây gỗ nhỏ, độ che phủ khoảng 80%. Suối thường xuyênchịu tácđộng của
khách du lịch. Bên cạnh đó người dân còn xây đạp bêtông
nhỏ lấy nước
suối về nuôi cá hổi, bởi vậy dòng chảy của suối bị ảnh hường khá lớn.
• Điểm 3. Ô Quý Hồ
-
-
Độ cao của suối so với mặt nước biển là 1.358 m.
-
Chiều rộng suối: 20-22 m, chiều rộng dòng chảy: 5 -lOm, độ sâu dòng chảy
nơi thu mẫu ở chỗ nước chảy 23 cm, độ sâu dòng chảy nơi thu mẫu ờ chỗ
nước đứng 23 cm, pH: 6,9; nhiệt độ nước: 12,5°c.
-
Suối nằm trong rừng, nước suối trong, sạch. Nền đáy của suối là đá cuội cỡ
nhỏ và trung bình. Lòng suối có một số đá tảng cỡ nhỏ. Sinh cảnh hai bèn
bờ là rừng gồm cây bụi, cây gỗ lớn và nhỏ, độ che phủ khoảng 90%.
• Điểm 5. Cát Cát
-
Tọa độ: 22° 21’450” vĩ Bắc và 103°48’300” kinh Đông.
-
Độ cao của suối so với mặt nước biển là 1.250m.
-
Chiều rộng suối: 25-30 m, chiều rộng dòng chảy: 10-12 m, độ sâu dòng
chảy nơi thu mẫu ở chỗ nước chảy 30 cm, độ sâu dòng chảy nơi thu mẫu ở
chỗ nước đứng 41cm, pH: 7,8; nhiệt độ nước: 13°c.
• Điểm 7. Cầu Mây
- Tọa độ: 22°17’250” vĩ Bắc, 103°55’184” kinh Đông.
15
-
Độ cao của suối so với mật biển là 643m.
-
Chiều rộng suối: 50-60 m, chiều rộng dòng chảy: 35-38 m, độ sâu dòng
chảy nơi thu mẫu ở chỗ nước chảy 23 cm, độ sáu dòng chảy nơi thu mẫu ở
chỗ nưóc đứng 40 cm , pH: 7,2; nhiệt độ nước: 18,4°c.
-
Nước suối sạch, chảy mạnh, nền đáy cứng, chủ yếu là đá cuội cỡ lớn. Lòng
suối có nhiều đá tảng cỡ lớn và trung bình, và thỉnh thoảng cũng có các
vũng nước đọng. Xung quanh suối là những ruộng bậc thang, có nhiều cây
bụi nhỏ hoặc vách đồi. Độ che phủ dưới 1%. Suối cũng là nơi tham quan
của khách du lịch.
• Điểm 8. Bản Hồ
-
Tọa độ: 22°15’956” vĩ Bắc, 103°58’048” kinh Đông.
chảy nơi thu mẫu ở chỗ nước chảy 16 cm, độ sâu dòng chảy nơi thu mẫu ở
chỗ nước đứng 30 cm, pH: 8,7, nhiệt độ nước: 20,6 °c.
-
Suối lớn, nước chảy mạnh, trong. Nền đấy chủ yếu là đá cuội cỡ nhỏ và
trung bình, lòng suối có nhiểu tảng đá lớn. Hai bên bờ là cây bụi, độ che
phủ dưới 1%. Đây là đoạn suối được người dân khai thác cát phục vụ xảy
dựng do vậy chỗ nào bị khai thác cát thì khu sinh cảnh bị biên đổi rất
mạnh.
16
4.3. Phương pháp nghiên cứu
4.3.1. Phương pháp thu mẫu ngoài thực địa
Đánh dấu các điểm cần lấy mẫu trên bản đồ theo thứ tự từ 1 đến 9, sau đó thu
mẫu lần lượt từng địa điểm cho phù hợp. Quá trình thu mẫu định tính sử dụng vợt ao
(Pond net), vợt cầm tay (Hand net), và thu mẫu định luợng sử dụng lưới Surber (50 cm
X 50 cm, kích thước mắt lưới 0,2 mm) . Tiến trình thu mẫu thực hiện theo phương pháp
của Edmunds et al. (1976) và McCafferty(1981), Nguyen Van Vinh (2003).
Thu mẫu định tính được thực hiện cả ở nơi nước chảy cũng như nơi nước đứng,
ơ nơi có nhiều cây bụi thủy sinh dùng vợt sục vào các bụi cây thủy sinh và các rễ cây
ven bờ suối, ở nơi có đáy có các hòn đá lớn thì ta nhấc đá lên và bắt mẫu bám phía
dưới bằng panh mềm để tránh làm nát mẫu, ở những vùng nước nhỏ hoặc dòng chảy
hẹp thì việc thu mẫu được thực hiện bằng vợt cầm tay.
Đối với mẫu định lượng, lấy hai mẫu 1 ở nơi nước đứng và 1 ờ nơi nước chày
Mẫu sau khi lấy được làm sạch bùn đất. Do côn trùng nước có cơ thể mềm, dễ
nát nên phải nhẹ nhàng và nhật sơ qua mẫu ngay tại thực địa. Mẫu vật thu được ngoài
■V
+ Chỉ số Shannon — Weiner : H'= -C]T p (log2 p )
H’: Chỉ sô đa dạng Shannon — Weiner
s: Số lượng loài
ĨỤ Số lượng cá thể loài i
N: T ổ n g s ố cá thể
+ Chỉ số Margalef d = ^
^
log N
d: là chỉ số đa dạng Margalef
S: là tông số loài trong mẫu
N: là tổng số cá thể
^.1 7 í . V.
,
+ Chỉ sô loài ưu thê
n\ + n2
D I = — ——
N
nl là số lượng cá thể của loài ưu thế thứ nhất
độ
nước
pH
DO
(mg/1)
Độ
dản
(S/m )
Độ
đuc
(mg/1)
(°C)
Na*
m
ĐI
2 .0 4 0
5-10
1-3
6,9
7,3
0
0
0
Đ3
1.669
8 -1 0
1-4
11
16
13,0
6,7
7,4
0
1.250
25-30
10-12
30
41
13,0
7,8
7,5
0
0
0
Đ6
982
80-90
40-45
7,2
6,9
0.01
0
0
Đ8
404
50-57
30
31
18,5
7,9
8,4
0
3
Kết quả phân tích mẫu vật thu được tại các điểm thu mẫu của khu vực nghiên
cứu đã xác định được 231 loài của 143 giống thuộc 64 họ của 9 bộ côn trùng nước. Cụ
thể bộ Phù du 71 loài (30,7%), bộ Cánh lông 66 loài (28,6%), bộ Cánh cứng 35 loài
(15,2 %), bộ Hai Cánh 24 loài (10,4 %), bộ Cánh nửa 8 loài (3,5%),bộ Chuồn chuồn 9
(3,9%), bộ Cánh rộng 1 loài (0,4%) và bộ Cánh vảy 1 loài (0,4%) Kết quả cụ thể được
trình bày ở Bảng 2 và Hình 2. Để xem xét kỹ hơn dưới đây là kết quả nghiên cứu của
từng bộ
5.2.1. Đa dạng về loài của bộ Phù du (Ephemeroptera)
Bộ Phù du là một trong số các bộ có thành phần loài cao nhất ở khu vực nghiên
cứu. Kết quả phân tích đã xác định được 71 loài (Bảng 3) của 34 giống thuộc 12 họ. So
với kết quả công bố trước đây về thành phần loài Phù du tại Sa Pa, Lào cai của Nguyễn
Vãn Vịnh (2005), số lượng thành phần loài trong nghiên cứu này đã được bổ sung thêm
18 loài. Đó là c á c loài: Choroterpes vittata, Choroterpes sp., Habrophìebiodes
prominens
Thraulus sp. (Leptophlebiidae); ìsonychia Ịormosana (Isonychiidae);
Aỷronurus mnong, Ecdyonurus ỉandai, Ecdyonurus s p. l , Ecdyonurus sp.2, Epeonts
hieroglyphicus, Epeorus
s p .l,
Rhithrogeniella
19
sp .
( H e p ta g e n iid a e );