ĐẶT VẤN ĐỀ
Rừng có vai trò như lá phổi xanh của con người, sự tồn tại của con
người không tách khỏi môi trường sống mà rừng là một phần của môi trường
sống đó. Trước tình hình như vậy, không chỉ Việt Nam mà trên toàn Thế Giới
đã kí công ước bảo tồn đa dạng sinh học thông qua đại hội thượng đỉnh ở Ri
O.de.Janero (1992). Theo công ước này bảo tồn đa dạng sinh học là cái mốc
đánh dấu cam kết của các quốc gia trên toàn thế giới về bảo vệ đa dạng sinh
học, bảo đảm sử dụng một cách bền vững nguồn tài nguyên sinh vật và nguồn
lợi thu được phải chia công bằng. Chính vì vậy mà Liên Hợp Quốc đã kêu gọi
các nước có rừng hãy bảo vệ rừng khi còn chưa muộn, đặc biệt là các nước
đang phát triển đó chính là chiến lược toàn cầu.
Việt Nam được coi là trung tâm đa dạng sinh học của vùng Đông Nam
Châu Á, điều này thể hiện ở số lượng loài với 12000 loài thực vật, 273 loài
thú, 180 loài bò sát, 773 loài chim, 80 loài ếch nhái và hàng ngàn loài động
vật không xương sống và còn nhiều loài chưa được phát hiện.
Trong sự nghiệp bảo vệ đa dạng sinh học ở các quốc gia, các Vườn
quốc gia (VQG), các Khu bảo tồn (KBT) giữ một vai trò quan trọng. Muốn
thực hiện được nhiệm vụ chính của mình điều đầu tiên là phải đánh giá được
tính đa dạng sinh học một cách đầy đủ, đó là cơ sở khoa học để thực hiện
nhiệm vụ như: Bảo tồn các loài quý hiếm, các loài nguy cấp, các nguồn gen
hay các hệ sinh thái khác.
Tuy nhiên, cũng như các VQG và KBTTN khác ở Việt Nam, VQG Pù
Mát cũng đã và đang phải đối mặt với sự suy giảm nghiêm trọng về ĐDSH
bởi các nguyên nhân trực tiếp và gián tiếp.
Mặc dù vậy, cho tới nay VQG Pù Mát chưa có các biện pháp thật sự
hữu hiệu để quản lý, bảo vệ một cách có hiệu quả hệ thực vật thuộc VQG.
Xuất phát từ nhận thức đó, để góp phần vào sự nghiệp bảo vệ đa dạng
sinh học và cấu trúc rừng, làm cơ sở cho việc quản lý rừng hiệu quả hơn, việc
thực hiện đề tài: “Đặc trưng cấu trúc và đa dạng loài thực vật tại Phân khu
phục hồi sinh thái – Vườn Quốc Gia Pù Mát – tỉnh Nghệ An” là hết sức cần
thiết góp phần bổ sung thêm về lý thuyết sinh thái học rừng tự nhiên trên
bằng phương trình toán học có dạng đường cong giảm liên
tục và được gọi là phương trình Meyer hay hàm Meyer.
+ Ballell (1973) đã sử dụng hàm Weibull, Schiffel, Naslund (1936,
1937) xác lập phân bố Charlier cho phân bố N/D
1.3
của lâm phần thuần loài
đều tuổi sau khép tán (dẫn theo Phạm Ngọc Giao, 1995) [6].
2
1.1.2.2. Nghiên cứu quy luật phân bố số cây theo chiều cao (N/H
vn
)
Phần lớn các tác giả khi nghiên cứu cấu trúc lâm phần theo chiều thẳng
đứng đã dựa vào phân bố số cây theo chiều cao. Phương pháp được áp dụng
để nghiên cứu cấu trúc đứng rừng tự nhiên là vẽ các phẫu đồ đứng với các
kích thước khác nhau tùy theo mục đích nghiên cứu. Các phẫu đồ mang lại
hình ảnh khái quát về cấu trúc tầng tán, phân bố số cây theo chiều thắng đứng.
Từ đó rút ra các nhận xét và đề xuất ứng dụng thực tế. Với phương pháp này
được nhiều nhà nghiên cứu ứng dụng như: Richards P.W (1952) [21], Rolllet
(1979).
1.1.2.3. Nghiên cứu quy luật tương quan giữa chiều cao và đường kính thân
cây (H
vn
/D
1.3
)
Qua nghiên cứu của nhiều tác giả cho thấy, chiều cao tương ứng với
mỗi cỡ đường kính cho trước luôn tăng theo tuổi, đó là kết quả tự nhiên của
sinh trưởng. Trong mỗi cỡ xác định, ở các tuổi khác nhau, cây rừng thuộc cấp
sinh trưởng khác nhau, cấp sinh trưởng giảm khi tuổi lâm phần tăng lên dẫn
đến tỷ lệ H
3
h - 1.3 = d
2
/(a + b.d)
2
h = a + b.logd
h = a + b
1
.d +b
2
.logd
3
h = k.d
b
Như vậy, để biểu thị tương quan giữa chiều cao và đường kính thân cây
ta có thể sử dụng nhiều dạng phương trình. Song việc lựa chọn phương trình
nào để biểu thị mối tương quan H
vn
- D
1.3
thì tùy thuộc vào loài cây trồng cụ
thể.
1.2. Nghiên cứu về đa dạng sinh học
Thuật ngữ đa dạng sinh học là một thuật ngữ mới mẻ được dùng để chỉ
tính phong phú của sự sống trên trái đất là hàng triệu loài thực vật, động vật,
vi sinh vật, là các gen chứa đựng trong các loài và những hệ sinh thái vô cùng
phức tạp cùng tồn tại trong môi trường sống.
Ý nghĩa của việc nghiên cứu đa dạng sinh học: qua việc nghiên cứu đa
dạng sinh học về loài và đa dạng sinh học về gen đã cho chúng ta thấy được
các loài, nguồn gen quý hiếm làm cơ sở cho công tác nghiên cứu cải thiện
nhân tố là nhóm nhân tố sinh thái tự nhiên, các giai đoạn phát triển và suy
thoái của rừng, khả năng tái tạo rừng bằng tái sinh tự nhiên, đặc điểm địa hình
và thổ nhưỡng.
Như vậy, các tác giả đều cho rằng: Việc phân loại trạng thái rừng ở
Việt Nam là rất cần thiết trong công tác nghiên cứu cũng như sản xuất kinh
doanh. Tùy các mục tiêu cụ thể mà lựa chọn các phương pháp phân loại khác
nhau, nhưng đều nhằm làm rõ hơn các đặc điểm của đối tượng nghiên cứu.
2.2. Nghiên cứu về cấu trúc rừng
2.2.1. Cấu trúc tổ thành
Đây là nhân tố có ảnh hưởng quyết định đến cấu trúc sinh thái và hình
thái của rừng. Tổ thành rừng là chỉ tiêu quan trọng dùng để đánh giá mức độ
đa dạng sinh học, tính ổn định, tính bền vững của hệ sinh thái rừng. Cấu trúc
tổ thành đã được nhiều nhà khoa học Việt Nam đề cập trong công trình
nghiên cứu của mình.
5
Bảo Huy (1993) [3], Đào Công Khanh (1995) khi nghiên cứu tổ thành
loài cây đối với rừng tự nhiên ở Đăklăc và Hương Sơn – Hà Tĩnh đều xác
định: Tỷ lệ tổ thành của các nhóm loài cây mục đích, nhóm loài cây hỗ trợ và
nhóm loài cây phi mục đích cụ thể, từ đó đề xuất biện pháp khai thác thích
hợp cho từng đối tượng theo hướng điều chỉnh tổ thành hợp lý.
2.2.2. Quy luật phân bố số cây theo cỡ đường kính (N/D
1.3
)
Thống kê các công trình nghiên cứu về rừng tự nhiên ở Việt Nam cho
thấy: Phân bố N/D
1.3
của tầng cây cao (D
≥
6cm) có hai dạng chính:
- Dạng giảm liên tục và có nhiều đỉnh phụ hình răng cưa
1.3
, dựa vào giá trị ở
từng cỡ kính để suy diễn giá trị chiều cao tương ứng mà không cần thiết đo
cao toàn bộ, từ đó làm cơ sở xác định trữ lượng chung của lâm phần, xác định
6
kiểu trạng thái rừng, kết cấu rừng…Từ đó, đề xuất các biện pháp kỹ thuật lâm
sinh để điều chỉnh kết cấu rừng hiện tại tiến tới một kết cấu rừng mới ổn định
hơn.
2.3. Nghiên cứu về đa dạng sinh học
Nghiên cứu về thực vật ở Việt Nam trước hết phải kể đến công trình:
thực vật chí Nam Bộ của Leureiro, thực vật chí rừng Nam Bộ của Pierrel. Một
trong những công trình lớn nhất về quy mô cũng như giá trị là công trình
nghiên cứu hệ thực vật Đông Dương của các tác giả Pháp, kết quả của nó là
bộ “ Thực vật chí đại cương Đông Dương” bao gồm 7 tập đây là bộ sách có ý
nghĩa lớn đối với nhà thực vật học Việt Nam. Tiếp theo đó là bổ sung của
Humbert, đến nay thực vật chí Lào, Campuchia, Việt Nam đã xuất bản từ năm
(1960) và ở nước ta đã có đến 26 tập, sau này Poct (1965) đã dựa trên bộ thực
vật chí đại cương Đông Dương thống kê được 5190 loài.
Các tác giả Việt Nam đã đưa ra một số công trình về thảm thực vật
trong đó tiêu biểu là 2 công trình lớn:
- Thảm thực vật rừng Việt Nam của Thái Văn Trừng (1963 – 1978)
[16]. Tác giả đã tổng kết và công bố công trình nghiên cứu của mình với 7004
loài thực vật bậc cao có mạch thuộc 1850 họ ở Việt Nam ông nhấn mạnh ưu
thế của ngành thực vật hạt kín trong hệ thực vật Việt Nam với 6336 loài
chiếm 99,9%, 17227 chi chiếm 93,5% và 239 họ chiếm 62,7% trong tổng số
các taxon mỗi bậc.
- Bước đầu nghiên cứu rừng Miền Bắc Việt Nam của Trần Ngũ Phương
(1970) [14] đã tiến hành phân loại rừng miền Bắc Việt Nam và chia thành 3
đai 8 kiểu.
Ta có thể thấy những công trình trên đánh giá tổng quát cho toàn bộ hệ
8
MỤC TIÊU, ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI , NỘI DUNG
VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1. Mục tiêu nghiên cứu
- Góp phần định lượng một số đặc trưng cấu trúc rừng thông qua việc
mô hình hóa các quy luật sinh học
- Thử nghiệm một số chỉ tiêu để đánh giá tính đa dạng về loài cây thuộc
Phân khu phục hồi sinh thái
- Đề xuất một số giải pháp quản lý và bảo vệ rừng để nâng cao hơn nữa
khả năng bảo tồn đa dạng sinh học của VQG Pù Mát.
2.2. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Trạng thái IIIA
1
, IIB thuộc phân khu phục hồi
sinh thái – VQG Pù Mát.
- Phạm vi nghiên cứu: Phân khu phục hồi – VQG Pù Mát
2.3. Nội dung nghiên cứu
2.3.1. Phân lập trạng thái rừng hiện tại của rừng
2.3.2. Đặc trưng cấu trúc của tầng cây cao
+ Cấu trúc tổ thành
+ Phân bố số cây theo đường kính (N - D
1.3
)
+ Phân bố số cây theo chiều cao (N - H
vn
)
+ Quy luật tương quan giữa chiều cao và đường kính (H
vn
– D
1.3
- Phương pháp điều tra thực địa
Dựa vào tình hình thực tế của rừng phân loại rừng theo phương pháp
của Loetschau để chọn ra đối tượng nghiên cứu.
+ Điều tra tầng cây cao
Mỗi trạng thái đặt 3 OTC hình chữ nhật có diện tích 1000m
2
(25x40m)
và đo đếm các nhân tố điều tra:
◦ Xác định tên loài cho các cây có D
1.3
≥
6cm và đánh giá phẩm chất
◦ Đo đường kính ngang ngực D
1.3
, D
t
theo 2 chiều ĐT, NB rồi lấy trung
bình
◦ Dùng thước Blumleiss đo chiều cao vút ngọn H
vn
10
Kết quả ghi vào biểu sau:
Biểu 2.1: Biểu điều tra tầng cây cao
OTC số: Diện tích: Hướng phơi:
Địa hình: Độ cao: Kiểu rừng:
Độ dốc: Ngày điều tra: Người điều tra:
STT
Tên loài
cây
D
< 0,5 0,5-1
1-1,5 1,5-2
>2 T TB X Hạt Chồi
2.4.3. Phương pháp điều tra nội nghiệp
2.4.3.1. Phân chia trạng thái rừng
Đề tài sử dụng phương pháp phân loại của Loetschau (1960) được Viện
Điều tra Quy hoạch rừng nghiên cứu, bổ sung và kết hợp một số đặc trưng
tổng quát các trạng thái rừng. Căn cứ vào tổng tiết diện ngang (
∑
G
= m
2
/ha),
trữ lượng (
∑
M
=m
3
/ha) và một số thông tin khác điều tra ngoài thực địa, tôi
tiến hành phân chia trạng thái rừng hiện tại cho từng ô đo đếm. Cụ thể tiêu
chuẩn phân chia các trạng thái rừng như sau:
11
+ Trạng thái IIA: Rừng phục hồi sau nương rãy, đặc trưng bởi lớp cây
tiên phong ưa sáng mọc nhanh, đều tuổi, một tầng.
+ Trạng thái IIB: Rừng phục hồi sau khai thác kiệt, phần lớn kiểu này
bao gồm những quần thụ non với những loài cây ưa sáng, thành phần loài
phức tạp, không đều tuổi, độ ưu thế không rõ ràng. Vượt lên khỏi tán rừng
kiểu này còn có thể sót lại một số cây quần thụ cũ nhưng trữ lượng không
đáng kể, chỉ được xếp vào kiểu này những quần thụ mà đường kính phổ biến
không vượt quá 20cm.
3
: Rừng đã bị tàn phá nhẹ, cấu trúc đã bị tác động
nhưng chưa bị phá vỡ. Độ tàn che P = 0,7,
∑
G
=16 -21 m
2
/ha,
∑
M
< 130 –
180 m
3
/ha.
+ Trạng thái IIIB: Rừng chỉ bị tác động nhẹ, kết cấu rừng chưa bị phá
vỡ, có hai tầng trở lên, quần thụ khép tán,
∑
G
=21 -25 m
2
/ha,
∑
M
< 180 –
230 m
3
/ha.
+ Trạng thái rừng IV: Rừng nguyên sinh hoặc thứ sinh nhiều tầng, rừng
giàu có trữ lượng, có đủ các cấp kính,
∑
(3.1)
Trong đó:
n
là tỷ lệ tổ thành loài i
∑
=
m
i
ni
1
là tổng số cá thể của loài i
∑
m
là tổng số cá thể
Nếu tổng số cây của loài i
≥
n
thì loài đó có mặt trong công thức tổ
thành
Hệ số tổ thành (k) được tính theo công thức sau:
K =
∑
∑
=
m
i
ni
ni
1
% là tỷ lệ tổ thành (độ quan trọng) của loài i
N
i
% là % theo số cây của loài i trong QXTVR
G
i
% là % theo tổng tiết diện ngang của loài i trong QXTVR
Theo Daniel Mamilod, những loài cây nào có IV > 5% là những cây có
ý nghĩa về mặt sinh thái. Mặt khác, theo Thái Văn Trừng (1978): Trong một
lâm phần, nhóm loài cây nào đó chiếm 50% tổng số cá thể của tầng cây cao
thì nhóm loài đó được coi là nhóm loài ưu thế (còn gọi là ưu hợp thực vật).
13
Do đó, nhóm loài ưu thế hình thành nên các loài hình xã hợp thực vật được
xác định như sau:
+ Tính toán trị số IV% cho từng loài
+ Xác định loài ưu thế: Loài có trị số IV > 5%
Khi đó tên của QXTVR được xác định theo các loài đó
Công thức tổ thành tổng quát được viết theo hệ số 10, nên khi viết công
thức tổ thành ta chia IV% cho 10.
* Nghiên cứu quy luật phân bố (N - D
1.3
, N - H
vn
)
Mô phỏng phân bố số cây theo đường kính, theo chiều cao có ý nghĩa
quan trọng nhất trong kết cấu lâm phần. Căn cứ vào đó xác định được số cây
tương ứng từng cỡ kính hay cỡ chiều cao, đây là căn cứ để đề xuất các biện
pháp chăm sóc và nuôi dưỡng rừng nhằm mục tiêu bảo tồn đa dạng sinh học.
Đề tài sử dụng 2 phân bố sau:
* Phân bố Weibull
đặc trưng cho độ nhọn của phân bố
α
đặc trưng cho độ lệch của phân bố (Nếu
α
< 3 phân bố có
dạng lệch trái;
α
> 3 phân bố có dạng lệch phải;
α
=3 phân bố có dạng đối
xứng).
* Phân bố khoảng cách:
Phân bố khoảng cách là phân bố xác suất của biến ngẫu nhiên đứt
quãng có dạng toán học:
với x=0
14
F
(X)
=
( ) ( )
{
γ
ααγ
1
.1.1
−
−−
x
với x
fon
1
α
(3.8)
Trong đó: - fo là tần số ứng với cỡ kính đầu tiên ( x=0).
- N là tổng số cây của các cỡ.
Khi 1-
αγ
=
thì phân bố khoảng cách trở về dạng phân bố hình học
F
(x)
=
( )
x
αα
.1
−
(với x
≥
0) (3.9)
* Quy luật tương quan giữa H
vn
- D
1.3
Giữa H
vn
và D
1.3
của các cây trong lâm phần luôn tồn tại mối quan hệ
N
thì loài đó được tham gia vào công thức tổ thành.
Nếu N
i
≤
N
thì loài đó không được viết vào công thức tổ thành
15
Tổ thành cây tái sinh được xác định theo tỷ lệ giữa số lượng một loài
nào đó so với tổng số cây các loài trong ô. Tổ thành được tính theo công thức:
K
i
=
N
Ni
.10 (3.12)
Trong đó: K
i
là hệ số tổ thành loài thứ i
Ni là số lượng cá thể loài thứ i
N là tổng số cá thể điều tra
- Chất lượng cây tái sinh
Nghiên cứu tái sinh theo cấp chất lượng Tốt, TB, Xấu đồng thời xác
định tỷ lệ cây tái sinh có triển vọng nhằm đánh giá một cách tổng quát tình
hình tái sinh đang diễn ra tại khu vực nghiên cứu.
Tỷ lệ % cây Tốt, TB, Xấu được tính theo công thức:
N% =
N
Ni
Ch s Simson
õy l ch tiờu u tiờn ca a dng sinh hc c s dng trong sinh
thỏi, c Simson xut nm 1949. Khi n cú s lng khụng quỏ ln so vi
n
i
thỡ s dng cụng thc ny. Cụng thc cú dng:
D = 1 -
)
1
1
(
1
s
n
ni
n
ni
(3.16)
Trong ú: n l s cỏ th trong qun xó
n
i
l s cỏ th ca loi i
s l s loi trong qun xó
Phng phỏp tớnh a dng bng lý thuyt thụng tin
Brillouin ó a ra cụng thc sau:
H =
s
Xut phỏt t hm lý thuyt thụng tin tớnh theo cụng thc (3.15) ta cú
ch s hp lý tng i ca otc nh sau:
J =
maxH
H
(3.19)
H
max
= C.log
10
S (3.20)
Trong ú:
H c tớnh theo cụng thc (3.15)
C = 2.302585, S l s loi trong ụtc
* a dng dng sng
17
Sự đa dạng về dạng sống nói lên mức độ đa dạng về các nhân tố sinh
thái (điều kiện môi trường sống) của từng hệ sinh vật. Mặt khác, nó còn chỉ ra
được tính nguyên sinh của các hệ thực vật hay sự tác động của các nhân tố
sinh thái lên hệ thực vật đó. Nếu như hệ thực vật có chồi trên càng cao và
chiếm tỷ lệ càng lớn thì chứng tỏ hệ thực vật đó có môi trường sống tốt, ít bị
tác động, tính nguyên sinh cao.
Dựa vào thang phân loại của Raunkiaer công bố năm 1934. Theo ông
dấu hiệu biểu thị để phân loại được chọn là vị trí của chồi so với mặt đất vào
thời gian bất lợi trong năm. Các thang phân loại đó là:
- Cây chồi trên mặt đất – Ph
- Cây chồi mặt đất – Ch
- Cây chồi nửa ẩn – H
- Cây chồi ẩn – Cr
- Cây một năm – Th
phú
Mức độ
đa dạng
Xử lý & Phân tích thông tin
Kết quả và giải pháp
19
Chỉ số
Simp
son
Chỉ số
hợp lý
Chỉ số
Shannon
- Wiener
Pp lý
thuyết
thông
tin
Kế thừa
tài liệu
PP Ngoại
nghiệp
ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, KINH TẾ XÃ HỘI
CỦA KHU VỰC NGHIÊN CỨU
3.1. Đặc điểm tự nhiên
3.1.1. Vị trí địa lý, ranh giới VQG
VQG Pù Mát nằm về phía Tây Nam tỉnh Nghệ An, cách thành phố
Vinh khoảng 160 km đường bộ. Tọa độ địa lý của Vườn như sau:
- Từ 18
0
lũng Khe Khặng và Khe Thơi là tương đối bằng phẳng và thấp. Đây là những
vùng trước đây và hiện nay còn dân sinh sống, có nhiều hoạt động sản xuất
nông nghiệp.
Trong khu vực còn có 7057 ha núi đá vôi. Hầu hết diện tích núi đá nằm
ở vùng đệm của VQG, chỉ có 150 ha nằm ở vùng lõi.
3.1.3. Địa chất và thổ nhưỡng
3.1.3.1. Địa chất
VQG Pù Mát nằm trên sườn của dải Trường Sơn Bắc. Quá trình kiến
tạo địa chất được hình thành qua các kỷ Palezoi, Đêvôn, Cacbon-Pecmi,…đến
Miroxen cho đến ngày nay. Trong suốt quá trình phát triển lâu dài của Trường
Sơn thì chu kỳ tạo núi Hecxini, địa hình luôn bị ngoại lực tác động mạnh mẽ
tạo nên 4 dạng địa mạo chủ yếu:
Núi cao trung bình: uốn nếp khối nâng lên mạnh, tạo nên một dải cao
và hẹp, nằm dọc ranh giới Việt – Lào (có vành đai cao trên 2000m như
Pulaileng 2711m, Rào cỏ 2286m), địa hình hiểm trở, qua lại rất khó khăn.
Kiểu địa hình núi thấp và đồi cao chiếm phần lớn diện tích của miền và
có độ cao từ 1000m trở xuống. Tuy cấu trúc tương đối phức tạp, được cấu tạo
bởi các trầm tích, biến chất, địa hình có phần mềm mại và ít dốc hơn.
Thung lũng kiến tạo, xâm thực tuy chiếm một diện tích nhỏ nhưng lại
thuận lợi cho sản xuất nông nghiệp, độ cao < 300m bao gồm thung lũng các
suối: Khe Thơi, Khe Choăng, Khe Khặng (sông Giăng) và bờ phải sông Cả.
Cấu tạo bằng các trầm tích bở rời dễ bị xâm thực. Trong đó phổ biến là các
dạng địa hình đồi khá bằng phẳng, bãi bồi và thềm sông khá phát triển.
Các khối núi đá vôi nhỏ, phân tán dạng khối uốn nếp có quá trình Kast
trẻ, phân bố hữu ngạn sông Cả cao chừng 200 – 300m, cấu tạo phân phiến dày
màu xám sáng đồng nhất và tinh khiết.
3.1.3.2. Thổ nhưỡng
Đất ở VQG Pù Mát được chia thành các nhóm sau:
- Đất Feralit mùn trên núi trung bình: Phân bố từ độ cao 800m đến
1800m dọc biên giới Việt Lào. Loại đất này có 2 kiểu phụ:
o
C và
nhiệt độ trung bình tháng thấp nhất xuống dưới 18
o
C (tháng giêng).
+ Ngược lại trong tháng mùa hè, do có sự hoạt động của gió Tây Nam
nên thời tiết rất khô nóng, kéo dài tới 3 tháng (từ tháng 4 đến tháng 7). Nhiệt
độ trung bình mùa hè lên trên 25
o
C, nóng nhất là tháng 6, 7, nhiệt độ trung
22
bình là 29
o
C. Nhiệt độ tối cao lên tới 42
o
C ở Con Cuông và 42,7
o
C ở Tương
Dương vào tháng 4 và 5, độ ẩm trong các tháng này có nhiều ngày xuống
dưới 30%.
- Chế độ mưa ẩm:
+ Vùng nghiên cứu có lượng mưa từ ít tới trung bình, 90% lượng nước
tập trung trong mùa mưa. Lượng mưa lớn nhất là tháng 9, 10 và thường kèm
theo lũ lụt. Mùa khô từ tháng 12 đến tháng 4 năm sau. Các tháng 2,3,4 có
mưa phùn do chịu ảnh hưởng của gió mùa Đông bắc. Tháng 5, 6, 7 là những
tháng nóng nhất và lượng bốc hơi cũng cao nhất.
+ Độ ẩm không khí trong vùng đạt 85% - 86%, mùa mưa lên tới 90%.
Tuy vậy, những giá trị cực thấp về độ ẩm vẫn thường đo được trong thời kỳ
khô nóng kéo dài.
- Một số hiện tượng thời tiết đáng lưu ý:
Đan Lai, Poong, Ơ Đu, Tày nhưng số lượng không lớn.
3.2.2. Dân số và lao động
Tổng dân số 16 xã là 16.954 hộ với 93.335 nhân khẩu. Phần lớn dân cư
phân bố trong 7 xã của huyện Con Cuông (39.419 nhân khẩu, 7.167 hộ) và 5
xã thuộc huyện Anh Sơn (38.163 nhân khẩu, 6.938 hộ), số còn lại thuộc 4 xã
của huyện Tương Dương (15.753 nhân khẩu, 2.894 hộ), trung bình mỗi hộ gia
đình có từ 5 – 6 người. Như vậy số người sinh con thứ 3 và thứ 4 rất phổ biến,
điều này sẽ tạo áp lực to lớn về vấn đề tăng dân số trong những năm sau này.
Dân số trong khu vực phân bố không đều giữa các xã. Một số xã có mật độ
dân số rất thấp như xã Tam Hợp huyện Tương Dương (7 người/km
2
), xã Châu
Khê huyện Con Cuông (13 người/ km
2
), nhưng bên cạnh đó những xã có mật
độ dân số cao như xã Đỉnh Sơn (495 người/km
2
), xã Cẩm Sơn (421
người/km
2
). Một hệ quả đi theo phân bố dân số là phân bố lao động cũng chủ
yếu tập trung ở các xã vùng thấp của Anh Sơn.
Bên cạnh lực lượng lao động đông đảo là cơ cấu các ngành nghề trong
khu vực VQG rất đơn điệu. Phần lớn các hoạt động sản xuất là nghề nông
nghiệp, chăn nuôi gia súc, gia cầm. Một số ít người làm trong các lĩnh vực
khác như Y tế, giáo dục, dịch vụ…điều này phần nào gây sức ép tới tài
nguyên rừng vì kế mưu sinh.
3.2.3.Thực trạng các ngành kinh tế chủ yếu
24
Các hoạt động sản xuất nông lâm nghiệp hiện chủ yếu tập trung ở 16 xã