giá trị bảo tồn loài vượn đen má trắng (nomascus leucogenys) ở vườn quốc gia pù mát, tỉnh nghệ an - Pdf 14

MỤC LỤC
MỤC LỤC 1
PHẦN I: MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 3: MỘT SỐ ĐỀ XUẤT NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ 48
BẢO TỒN LOÀI VƯỢN ĐEN MÁ TRẮNG (NOMASCUS LEUCOGENYS) Ở
VƯỜN QUỐC GIA PÙ MÁT, TỈNH NGHỆ AN 48
3.1. Định hướng kế hoạch hành động bảo tồn loài Vượn đen má trắng ở VQG Pù Mát, tỉnh Nghệ
An 48
3.1.1. Thiết lập chương trình giám sát hoạt động của loài 48
3.2.1. Đào tạo nghiệp vụ trong công tác bảo tồn loài cho cán bộ 51
PHẦN III: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 58
PHỤ LỤC 1
TÀI LIỆU THAM KHẢO 1
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
IUCN (International Union for Conservation of Nature and Natural Resources)
: Liên minh Quốc tế Bảo tồn Thiên nhiên và Tài nguyên Thiên nhiên
WTP (Willingness To Pay): Mức sẵn lòng chi trả
WTA (Willingness To Accept): Mức sẵn lòng chấp nhận
CVM (Contingent Valuation Method): Định giá ngẫu nhiên
EN : Nguy cấp
DD : Thiếu số liệu xếp hạng
PGS : Phó giáo sư
IB : Nghiêm cấm khai thác
SWOT : Ma trận thế mạnh, điểm yếu, cơ hội và thách thức
ĐVT : Đơn vị tính
VQG : Vườn quốc gia
THCS : Trung học cơ sở
THPT : Trung học phổ thông
SXNN : Sản xuất nông nghiệp
CI : Tổ chức bảo tồn quốc tế
VĐMT : Vượn đen má trắng

Bảng 2.14. Phân tích ma trận SWOT đối với công tác quản lý, 45
bảo tồn loài VĐMT ở VQG Pù Mát 45
Bảng 2.15. Lịch trình hoạt động 50
Bảng 2.16. Đánh giá mức độ quan trọng của các mục đích 51
sử dụng nguồn kinh phí trong công tác bảo tồn loài VĐMT 51
DANH MỤC HÌNH VÀ BIỂU ĐỒ
Số hiệu biểu đồ Tên biểu đồ Trang
Biểu đồ 2.1: Thể hiện giới tính của đối tượng phỏng vấn (ĐVT: %) 28
Biểu đồ 2.2: Thể hiện độ tuổi của đối tượng phỏng vấn (ĐVT: %) 29
Biểu đồ 2.3: Thể hiện trình độ học vấn của đối tượng phỏng vấn (ĐVT: %) 30
Biểu đồ 2.4. Thể hiện tỷ lệ nhìn thấy hoặc nghe về loài VĐMT (ĐVT: %) 33
(ĐVT: %) 36
Biểu đồ 2.5. Thể hiện mức độ đánh giá tầm quan trọng của việc bảo tồn loài 36
Biểu đồ 2.6. Thể hiện sự sẵn lòng chi trả cho việc bảo tồn loài VĐNT (ĐVT: %)
38
Biểu đồ 2.7. Thể hiện sự tin tưởng vào tổ chức thực hiện bảo tồn 44
của đối tượng tham gia phỏng vấn (ĐVT: %) 44
DANH MỤC HÌNH VẼ
22
Hình 2.1 Vị trí địa lý Vườn Quốc Gia Pù Mát 23
PHẦN I: MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Nguồn tài nguyên rừng giữ vai trò quan trọng đối với sự tồn tại và phát triển
của nhân loại. Các hệ sinh thái rừng có rất nhiều thành phần tác động qua lại lẫn
nhau để duy trì sự cân bằng sinh thái. Nhưng hiện nay, một số thành phần đang bị
suy giảm nghiêm trọng cả về số lượng và chất lượng. Sự suy giảm này diễn ra mạnh
nhất đối với những loài thú lớn, bởi chúng rất nhạy cảm với sự thay đổi của môi
trường sống, đồng thời chúng cũng là mục tiêu hàng đầu của việc săn bắn nấu cao,
buôn bán động vật hoang dã và xuất khẩu.
Vượn đen má trắng (Nomascus leucogenys) là loài thú có giá trị kinh tế cao

trắng (Nomascus leucogenys) ở Vườn Quốc Gia Pù Mát, tỉnh Nghệ An” để
nghiên cứu.
2. Mục tiêu nghiên cứu
2.1. Mục tiêu chung
Hệ thống hóa các vấn đề về lý luận và thực tiễn về phương pháp định giá ngẫu
nhiên (CVM) và giá trị bảo tồn loài Vượn đen má trắng ở vườn quốc gia Pù Mát,
tỉnh Nghệ An.
2.2. Mục tiêu cụ thể
- Hệ thống hóa các vấn đề lý luận và thực tiễn về bảo tồn loài Vượn đen má
trắng.
- Ước lượng giá trị bằng tiền của loài Vượn đen má trắng.
- Phân tích ma trận SWOT đối với công tác quản lý, bảo tồn loài Vượn đen má
trắng để từ đó đưa ra các giải pháp, kiến nghị để bảo tồn loài Vượn đen má trắng
một cách có hiệu quả.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu là các vấn đề liên quan đến việc định giá giá trị bảo tồn
của loài Vượn đen má trắng ở vườn quốc gia Pù Mát, tỉnh Nghệ An.
Các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả công tác quản lý và bảo tồn loài Vượn
đen má trắng ở vườn quốc gia Pù Mát, tỉnh Nghệ An.
3.2. Phạm vi nghiên cứu
Nội dung nghiên cứu: Định giá giá trị bảo tồn loài Vượn đen má trắng ở Vườn
2
quốc gia Pù Mát, tỉnh Nghệ An.
Không gian nghiên cứu:
- Nghiên cứu thực địa tại Vườn quốc gia Pù Mát, tỉnh Nghệ An.
- Nghiên cứu chọn mẫu điều tra là 3 thôn (bản) Làng Xiềng, Thái Sơn và Cò
Phạt thuộc xã Môn Sơn, huyện Con Cuông, tỉnh Nghệ An.
Thời gian nghiên cứu: Nghiên cứu được thực hiện trong khoảng thời gian 3
tháng, từ ngày 10/02/2014 đến ngày 17/05/2014.

đen má trắng (Nomascus leucogenys) ở Vườn Quốc Gia Pù Mát, tỉnh Nghệ An”.
Bám sát với cơ sở lí thuyết và thực tiễn của đề tài nghiên cứu, mục đích của cuộc
phỏng vấn nhằm khảo sát, tìm kiếm những thông tin cần thiết tạo tiền đề cho việc
thiết kế bảng hỏi định lượng trong điều tra thử nghiệm.
Bước 2: Sau khi hoàn thành bảng hỏi nghiên cứu thử nghiệm, tiến hành nghiên
cứu thử nghiệm bằng phương pháp định lượng. Áp dụng phương pháp phỏng vấn
trực tiếp, phỏng vấn 30 người thuộc đối tượng nghiên cứu của đề tài. Sau đó, tiến
hành chỉnh sửa, khắc phục những hạn chế của bảng hỏi nhằm hoàn thiện bảng hỏi
định lượng cho lần điều tra chính thức. Bên cạnh đó, cũng xác định được kích cỡ
mẫu cho đề tài.
Bước 3: Sau khi bảng hỏi đã được hoàn thiện, tiến hành nghiên cứu chính thức
với cỡ mẫu được xác định ở bước 2.
Thiết kế nghiên cứu được tiến hành theo 3 bước. Mỗi bước trong tiến trình
nghiên cứu đều rất quan trọng. Cả 3 bước đều có mối quan hệ mật thiết và gắn kết
chặt chẽ với nhau. Vì vậy, nghiên cứu cần phải được tiến hành đúng theo trình tự để
đạt được mục tiêu đã đề ra.
4.2.2. Phương pháp thu thập số liệu thứ cấp
- Thu thập, tổng hợp tài liệu có liên quan tới vấn đề sau: các giá trị bảo tồn
loài Vượn đen má trắng ở vườn quốc gia Pù Mát, tỉnh Nghệ An.
- Những số liệu liên quan thông qua cán bộ ban quản lý vườn quốc gia Pù
Mát.
4
- Tìm hiểu thông qua sách báo, truyền hình, mạng internet
4.3. Phương pháp định giá ngẫu nhiên (CVM)
Phương pháp này sẽ được trình bày cụ thể trong phần cơ sở lý luận của đề tài
nghiên cứu.
4.4. Phương pháp phân tích thống kê
Dựa vào những số liệu điều tra, tiến hành thống kê những chỉ tiêu. Qua đó,
phân tích được số liệu thống kê, trên cơ sở đó có cái nhìn tổng quát và khách quan
hơn trong vấn đề nghiên cứu.

nhào lộn, vật lộn trên cỏ của các con non.
•Mô tả vật lý
Một đặc điểm điển hình khác với các loài vượn trong tự nhiên của Vượn đen
má trắng là chúng không có sự khác biệt về chiều cao cân nặng giữa 2 giống đực và
cái. Cụ thể, chiều cao trung bình của chúng là 47 – 64 cm và cân nặng khoảng 7 – 9
kg. Trong một vài nhóm, cá thể cái nặng hơn cá thể đực một chút.
6
Tuổi tác và giới tính được biểu hiện qua màu lông. Tất cả con non khi sinh ra
đều có màu be (màu kem sữa). Khi đạt đến 1.5 – 2 tuổi, lông của con non có sự thay
đổi từ màu be sang màu đen với các mảng trắng trên má nối với nhau bằng vệt trắng
dưới cằm. Ở tuổi trưởng thành (5 – 7 tuổi), con đực vẫn giữ nguyên màu lông đen
với đôi má trắng, nhưng con cái lại quay trở lại màu be hoặc vàng sẫm và dần mất
đi mảng trắng hai bên má, lông quanh mặt tủn ngang, đỉnh đầu có màu xám hoặc
tua đen. Cả hai giống đều có răng nanh giống như con dao găm dài. Như tất cả các
loài vượn, Vượn đen má trắng không có đuôi. Cơ thể của N. leucogenys nhỏ và có
một tư thế khá thẳng đứng với hai chân trước đặc biệt dài hơn hai chân sau, hơn
nữa, bàn tay có dạng móc hình, tạo điều kiện để nắm giữ thức ăn và các nhánh cây
dễ dàng hơn, thuận tiện khi di chuyển trên tán. Cơ thể của chúng được tiến hóa cho
một lối sống trên cây.
1.1.1.2. Tập quán sinh sống của loài
•Cơ cấu xã hội
Giống như tất cả các loài vượn, Vượn đen má trắng sống theo chế độ gia đình
một vợ một chồng nhỏ bao gồm một cặp bố mẹ và có thể sinh sản lên đến bốn con.
Con non sống trên người mẹ cho tới khoảng 2.5 – 3 tuổi có thể sống độc lập cho
đến tuổi trưởng thành và bắt đầu tách nhóm gia đình khi đạt thời gian là 8 tuổi.
Vượn đen má trắng là một trong số ít loài khi con cái trưởng thành là động vật
chiếm ưu thế trong nhóm. Hệ thống phân cấp mẫu hệ, tiếp theo đặt vị trí con cái của
mình trước con đực và cuối cùng là người cha.
•Tập quán ăn uống
Vượn đen má trắng đặc biệt thích ăn các loại trái cây. Không giống như các

Thời gian trung bình để con trưởng thành độc lập 6 năm
Phạm vi độ tuổi sinh sản ở cả con đực và con cái 5 – 8 năm
(Nguồn: “Vườn thú Quốc gia Smithsonian ", xuất bản 2006).
Mỗi chu kỳ của con cái thường là 28 ngày, tại thời điểm này chúng có màu mỡ
và sẵn sàng giao phối. Thời gian mang thai của chúng là bảy tháng. Vượn đen má
trắng cho ra đời một đứa con duy nhất mỗi hai hoặc ba năm. Con non bám vào mẹ từ
khi sinh ra. Chúng thường được bám theo chiều ngang trên bụng của mẹ. Điều này
cho phép các bà mẹ ngồi với đầu gối lên như hầu hết các loài vượn làm. Con non lớn
hơn định hướng theo chiều dọc trên bụng. Chúng được cai sữa sớm trong năm thứ hai
sau khi sinh. Một khi con đạt được đầy đủ sự trưởng thành chúng thường rời khỏi
nhóm gia đình và tìm kiếm một lãnh thổ và người bạn đời của riêng cho mình.
•Vai trò sinh thái
Vượn đen má trắng được biết đến với việc gieo hạt giống tuyệt vời bởi vì
8
chúng ăn trái cây, được xem là phân tán hạt giống nhanh nhất. Chúng nhả hạt khi ăn
và có thể là khi chúng bài tiết.
1.1.1.3. Tình trạng bảo tồn loài Vượn đen má trắng
•Giá trị kinh tế của loài
Vượn đen má trắng là loài động vật có kích thước tương đối nhưng việc nhìn
thấy nó trong tự nhiên là rất hiếm.
Chúng có giá trị kinh tế cao như làm thực phẩm, làm thuốc, cho da lông nên
một số người đã săn bắn chúng để lấy thịt làm thực phẩm, lấy xương nấu cao làm
thuốc, lấy lông bán, bên cạnh đó người ta còn trao đổi, buôn bán, xuất khẩu chúng
để làm vật nuôi và làm cảnh.
•Các mối đe dọa
Các mối đe dọa chính đối với Vượn đen má trắng là phá rừng, do đó, kẻ thù
chính của chúng chính là con người. Điều đó cũng đã được ghi nhận rằng ở Bắc
Việt Nam, nạn chặt phá rừng đã làm mất đi môi trường sinh sống của chúng và dần
đánh mất loài. Như đã đề cập, Vượn đen má trắng là loài thú có giá trị kinh tế cao
nên việc săn bắt ráo riết loài này thường xuyên xảy ra không chỉ khi bị các thợ săn

sử dụng của một loại hàng hoá môi trường.
Phương pháp CVM thực chất bỏ qua những định giá có tính xác định trước,
lượng giá giá trị hàng hoá môi trường người ta phỏng vấn trực tiếp người dân một
cách ngẫu nhiên về đánh giá của họ đối với hàng hoá môi trường ở vị trí cần đánh
giá hay xem xét. Trên cơ sở đó bằng thống kê xã hội học và kết quả thu được từ các
phiếu đánh giá người ta sẽ xác định hàng hoá môi trường đó.
Theo Katherine Balt- Ước lượng chi phí của suy thoái môi trường: “Phương
pháp CVM là phương pháp xác định giá trị kinh tế của các hàng hoá và dịch vụ không
mua bán trên thị trường. Phương pháp này sử dụng bảng hỏi phỏng vấn để xác định
giá trị của hàng hoá dịch vụ không trao đổi và do đó không có giá trên thị trường”.
Phương pháp CVM là một trong những kỹ thuật định giá thực hiện dưới sự
sắp xếp trực tiếp các giả định.
Khi có một thay đổi trong chính sách môi trường sẽ gây một vài ảnh hưởng
đến môi trường, những phần lợi ích nhận được hay phần lợi ích bị mất đi được đưa
vào bảng câu hỏi thông qua việc điều tra mức sẵn lòng chi trả thật sự của họ khi có
những thay đổi chính sách liên quan đến vấn đề môi trường đó. Mức giá này được
10
khảo sát cả đối với những người liên quan trực tiếp đến một tài sản môi trường và
cả những đối tượng không liên quan trực tiếp đến tài sản môi trường nhưng họ có
nhận thức về việc bảo vệ tài sản môi trường đó.
Phương pháp định giá ngẫu nhiên (CVM) là một phương pháp trực tiếp để ước
lượng mức sẵn lòng chi trả. CVM dựa trên ý tưởng đơn giản là nếu bạn muốn biết
giá sẵn lòng chi trả của một người cho tính chất nào đó của môi trường, bạn hãy
đơn giản hỏi họ. Nói “đơn giản” nhưng cuối cùng sẽ thấy nó trở nên chẳng đơn giản
chút nào mặc dù ý tưởng ban đầu dường như rất rõ ràng. Phương pháp gọi là “định
giá ngẫu nhiên” bởi vì nó cố làm người được hỏi nói họ hành động thế nào nếu họ
được đặt trong một tình huống giả định. Nếu hàng hoá chúng ta đang xem xét là
hàng hoá thị trường chúng ta chỉ cần quan sát hành vi của con người trên thị trường.
Nhưng khi hàng hoá không có thị trường, chẳng hạn đặc tính chất lượng môi
trường, chúng ta chỉ có cách là hỏi họ chọn như thế nào nếu được đặt trong một tình

trường (còn gọi là giá trị phi thị trường). Những hàng hoá này để định giá được giá
trị của chúng thì cách tốt nhất đang được áp dụng phổ biến là sử dụng phương pháp
định giá ngẫu nhiên. Tức là chúng ta tiến hành thực hiện một cuộc khảo sát và hỏi
cư dân mức sẵn lòng chi trả của họ cho một loại hàng hoá môi trường được nhắc
đến. Phương pháp này được ứng dụng phổ biến chủ yếu bởi nó khá linh động và nó
có thể định giá giá trị của bất cứ loại hàng hoá môi trường nào nếu hàng hoá môi
trường đó có thể được mô tả chính xác.
Rõ ràng nhất là hỏi người được phỏng vấn cung cấp con số này mà phỏng vấn
viên không được gợi ý hoặc thăm dò.
Có thể dùng kỹ thuật để ước lượng mức WTP của người được hỏi như sử dụng
trò chơi đấu giá: phỏng vấn viên sẽ bắt đầu hỏi bằng cách nêu ra mức sẵn lòng chi
trả ngày càng cao cho người được hỏi đối với loại hàng hoá được nêu đến khi đưa ra
một mức nào đấy mà người được hỏi trả lời là “Không”. Hoặc người phỏng vấn đưa
ra mức sẵn lòng chi trả từ cao đến thấp cho đến khi người được hỏi trả lời “Có” thì
kết thúc việc hỏi và chấp nhận mức sẵn lòng chi trả đã nêu.
Phương pháp tiếp cận theo hình thức câu hỏi mở, người được hỏi chỉ việc trả
lời “Yes” hoặc “No” vào một yêu cầu trong bảng hỏi là họ có sẵn lòng chi trả cho
loại hàng hoá môi trường được nêu trong đó. Trong trường hợp các loại hàng hoá
công cộng thì câu hỏi mở là kĩ thuật thích hợp được khuyến khích dùng.
Một kỹ thuật nữa là đưa cho người được phỏng vấn một thẻ in sẵn các mức giá
trị và đề nghị họ đánh dấu vào con số tương ứng với giá sẵn lòng chi trả cao nhất
12
của họ.
Mức WTP thu thập được là khác nhau đối với các đối tượng khác nhau bởi họ
sẵn lòng chi trả khi họ có đủ khả năng chi trả, điều đó phụ thuộc vào thu nhập của
họ. Kinh nghiệm của các nước phát triển áp dụng phương pháp điều tra thu thập
mức sẵn lòng chi trả cho một loại hàng hoá môi trường nào đó cho thấy WTP phụ
thuộc vào nhiều yếu tố như thu nhập, trình độ học vấn, lứa tuổi. Vì vậy hàm WTP
có dạng như sau:
WTP = f (wi, ai, ei, qi)

vào những thông tin khác nhau như tầm quan trọng của vấn đề định giá, tổng hợp
các câu hỏi được hỏi, và chi phí tiến hành điều tra.
Bản thân cuộc phỏng vấn nhìn chung ảnh hưởng bởi tổng hợp các câu hỏi vì
nó thường dễ dàng hơn để giải thích xung quanh thông tin được yêu cầu trả lời.
Người phỏng vấn thường phải tiến hành điều tra trong thời gian dài do người được
hỏi thiếu thông tin về vấn đề nghiên cứu. Trong một số trường hợp, những sự giúp
đỡ cần thiết là cung cấp video hay tranh ảnh màu cho đối tượng hỏi để họ hiểu
được điều kiện giả định mà họ sẽ định giá.
Trong quá trình điều tra thì phỏng vấn là quan trọng nhất. Tuy nhiên, quá trình
điều tra bằng gửi thư điện tử với mục đích tỉ lệ trả lời cao có thể cũng khá đắt. Điều
tra bằng cách gọi điện hoặc gửi thư điện tử rất ngắn gọn. Điều tra bằng cách gọi
điện thoại có thể chi phí thấp hơn nhưng thông thường rất khó để hỏi những câu hỏi
đánh giá ngẫu nhiên đối với đối tượng hỏi bởi vì giới hạn số lượng xung quanh
thông tin yêu cầu.
Trong trường hợp giả định tiến hành bằng gửi thư điện tử thì người điều tra
muốn khảo sát một mẫu rộng, trên nhiều vùng địa lý và hỏi những câu hỏi về vị trí
cụ thể và lợi ích của nó; cái mà dễ dàng được miêu tả trong bài viết.
Bước 3: Thiết kế mẫu điều tra thực tế
Đây là một phần quan trọng và khó nhất trong quy trình và có thể phải tiến
hành từ 6 tháng hoặc lâu hơn mới hoàn thành. Nó đòi hỏi kỹ năng nói chung trong
các bước. Quy trình thiết kế điều tra thường bắt đầu với cuộc phỏng vấn đầu tiên
với nhóm trung tâm trong mẫu chọn. Trong nhóm trung tâm đầu tiên, người nghiên
cứu sẽ hỏi những câu hỏi chung chung, bao gồm những câu hỏi về hiểu biết của
người đó về mối liên quan với nơi được hỏi và sự gắn bó của họ với địa điểm và
động vật hoang dã nơi đó và cách họ đánh giá về nơi đó và cho những dịch vụ môi
14
trường sống mà nó cung cấp.
Trong nhóm trọng tâm tiếp theo, những câu hỏi đưa ra chi tiết hơn và cụ thể
hơn để quyết định thông tin liên quan cần là gì và bằng cách nào để có những thông
tin đó. Ví dụ, người đó có thể cần thông tin về địa điểm khảo sát, đặc điểm nổi bật

thể, xem xét liên quan đến tỷ số chiết khấu và biến động về giá trị ròng trong thực
hiện đưa vào phân tích chi phí-lợi ích môi trường và đó là kết quả chúng ta đề xuất
cho các nhà hoạch định chính sách và sử dụng.
1.1.2.4. Ưu điểm và hạn chế của CVM
•Ưu điểm
Phương pháp này rất thuận lợi cho việc sử dụng dạng hàng hoá môi trường,
tính giá trị của các loại hàng hoá không có giá trên thị trường.
Khi thiết kế kỹ thuật từ kịch bản đến tiêu chí lựa chọn thì cũng thực hiện
tương đối dễ dàng.
Xử lý các kết quả hiện nay chúng ta đã có phần mềm có sẵn.
•Hạn chế
Vì chúng ta dùng kỹ thuật WTP/WTA cho nên kết quả đưa lại phụ thuộc rất
lớn vào người được phỏng vấn. Do đó, nếu người được phỏng vấn không hiểu biết
kỹ thì kết quả có thể không chính xác. Từ kinh nghiệm của những nghiên cứu trước
đây người ta rút ra, thông thường số tiền mà điều tra có được chỉ đạt 80-90% so với
giá trị thực của nó.
Giữa việc sử dụng WTP/WTA thì kết quả cũng khác nhau mặc dù cùng một
đối tượng được phỏng vấn.
Trên lý thuyết câu hỏi về việc trả tiền có thể được đặt ra hoặc như thường lệ:
“Bạn sẵn lòng trả bao nhiêu (WTP) để có được tài sản môi trường này?” hoặc là
dưới dạng ít gặp hơn “Bạn sẵn lòng chấp nhận bao nhiêu (WTA) để bồi thường cho
việc từ bỏ tài sảng môi trường này?” Khi đem so sánh hai dạng câu hỏi trên các nhà
phân tích để ý rằng WTA cao hơn WTP rất nhiều, một kết quả mà các nhà phê bình
cho là làm mất hiệu lực của phương pháp CVM. Tuy nhiên, nghiên cứu gần đây đã
chứng minh rằng có những nguyên do về tâm lý và kinh tế chỉ ra rằng các cá nhân
cảm nhận mạnh mẽ “chi phí của việc mất mát” (dưới dạng bồi thường WTA) hơn là
“ lợi ích của việc đạt được” (dạng WTP). Nếu đúng như vậy, thì sự khác biệt mà
người ta tìm thấy giữa WTA/WTP thực sự hỗ trợ cho tính hiệu lực của CVM.
Thiên lệch một phần-toàn phần:
Các nhà phê bình phương pháp CVM đã lưu ý rằng nếu người ta lần đầu tiên

góp nào thường được sử dụng nhất trong thực tế.
Thiên lệch điểm khởi đầu:
Những nghiên cứu ban đầu đã thử gợi ý cho những người trả lời bằng cách đề
17
nghị một số tiền khởi đầu sau đó tăng lên hay giảm đi số tiền dựa theo người trả lời
đồng ý hay từ chối trả số tiền đó. Tuy nhiên, người ta thấy rằng sự lựa chọn mức
tiền ban đầu ảnh hưởng đến số tiền WTP sau cùng của người trả lời.
Bảng 2.2. Trình tự tiến hành phương pháp CVM
(1) Xác định các mục tiêu
cụ thể
1a. Xác định đối tượng cần đánh giá
1b. Thiết lập giá trị dùng để ước lượng và đơn vị đo
1c. Xác định khoảng thời gian tiến hành điều tra
1d. Xác định đối tượng phỏng vấn
(2) Thiết kế câu hỏi
2a. Giới thiệu
2b. Thông tin kinh tế - xã hội
2c. Đưa ra viễn cảnh
2d. Kĩ thuật để tìm hiểu WTP
2e. Cơ chế chi trả
(3) Chọn mẫu tiến hành
khảo sát
3a. Quyết định kích thước mẫu
3b. Quyết định tiến hành điều tra như thế nào, khi nào, ở đâu
3c. Điều tra thử
3d. Tiến hành điều tra
(4) Xử lý và phân tích số
liệu
4a. Thu thập và kiểm tra số liệu
4b. Xử lý số liệu

Hằng số 2.967271728
(9.662)***
Mức giá thực -0.000373567
(-8.806)***
Biến Hệ số
(Nguồn: “Sử dụng phương pháp định giá ngẫu nhiên (CVM) để xác định mức
sẵn lòng chi trả (WTP) của người dân ở Viên Chăn cho việc bảo tồn đa dạng sinh học
và sử dụng bền vững trong Khu bảo tồn Houay Nhang tại thủ đô Viên Chăn, Lào”)
Mức giá trung bình WTP thu được là 8,806 kip/tháng/hộ gia đình. Nếu áp
dụng với mức giá thấp hơn thì giá WTP nhận được là 6,175 kip/tháng/hộ gia đình.
Khi người dân Viên Chăn 123,174 hô gia đình lựa chon mức giá 6,175
kip/tháng cho khu bảo tồn Houay Nhang trong khoảng thời gian 5 năm thì khu bảo
tồn này sẽ nhận được khoant tiền ủng hộ là 760 triệu kip/tháng, nếu tính thei một
năm là 9,127 triệu kip và nếu tính tổng trong vòng 5 năm thì con số đó là 45,635
triệu kip.
19
Bảng 2.4. Số liệu tính toán mức giá thu tiền quỹ hỗ trợ
khu bảo tồn Houay Nhang theo kế hoạch 5 năm
Mức giá Tổng số
hộ gia
đình
Tháng Năm 5 năm
Kip USD
Kip
(Nghìn)
USD
(Nghìn)
Kip
(Nghìn)
USD

nhằm bảo tồn cảnh quan và các loài động thực vật trong VQG cần đến sự đóng góp
của khách tham quan, vậy ông bà có sẵn lòng bỏ ra một khoản tiền cho mục đích
này không và mức chi trả có thể là bao nhiêu cho lần tham quan này?”
Giá trị phi sử dụng của VQG Ba Bể được xác định là tổng mức sẵn lòng chi
20
trả để bảo tồn VQG của du khách. Để xác định giá trị phi sử dụng, tác giả đưa ra
một số giả định sau:
- Mức chi trả được tính chung cho khách du lịch trong nước và nước ngoài.
- Sự khác biết về mục đích chi trả của khách du lịch trong nước và nước ngoài
là không đáng kể.
Từ phân tích trên, mức sẵn lòng chi trả trung bình cho bảo tồn giá trị của VQG
Ba Bể là 38,600 đồng/du khách. Căn cứ vào số lượng du khách đên VQG Ba Bể
trong năm 2004 và 2005 có thể xác định tổng mức sẵn lòng chi trả cho hoạt động
bảo tồn của khách du lịch như sau:
Bảng 2.5. Tổng mức sẵn lòng chi trả của du khách
Năm 2004 2005
Số lượng du khách (người) 9434 9843
Tỷ lệ sẵn sang chi trả:
- Chi trả cho thế hệ tương lai
- Chi trả vì sự tồn tại của VQG
85.6%
81%
19%
85.6%
81%
19%
Mức chi trả trung bình (đồng) 38,600 38,600
Chi trả cho thế hệ tương lai (đồng) 252,488.7 263,435
Chi trả cho sự tồn tại của VQG (đồng) 59,255.7 88,793.4
Tổng mức sẵn lòng chi trả (đồng) 311,714.4 352,228.4


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status