Đánh giá hiệu quả một số biện pháp phục hồi sinh cảnh nhầm bảo tồn loài vượn cao vít có sự tham gia của cộng đồng tại khu bảo tồn loài và sinh cảnh vượn cao vít huyện Trùng Khánh - tỉnh Cao Bằng - Pdf 27



Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
i
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM LƢƠNG THỊ NGỌC LY

ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ MỘT SỐ BIỆN PHÁP PHỤC HỒI SINH CẢNH NHẰM BẢO
TỒN LOÀI VƢỢN CAO VÍT CÓ SỰ THAM GIA CỦA CỘNG ĐỒNG TẠI KHU BẢO
TỒN LOÀI VÀ SINH CẢNH VƢỢN CAO VÍT HUYỆN TRÙNG KHÁNH – TỈNH
CAO BẰNG

Chuyên ngành : Khoa học môi trƣờng
Mã số : 60 44 03 01
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC MÔI TRƢỜNG
Ngƣời hƣớng dẫn khoa học:

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
iii
LỜI CẢM ƠN
Sau hai năm học tập và rèn luyện, khóa học Cao học Khoa học môi
trường K120 (2012 - 2014) đã bước vào giai đoạn kết thúc. Được sự nhất
trí của của nhà trường và Phòng đào tạo Sau đại học, tôi tiến hành thực tập
tốt nghiệp với đề tài: “Đánh giá hiệu quả một số biện pháp phục hồi sinh
cảnh nhằm bảo tồn loài Vượn Cao Vít có sự tham gia của cộng đồng tại
Khu bảo tồn loài và sinh cảnh Vượn Cao Vít huyện Trùng Khánh, tỉnh
Cao Bằng”. Sau gần một năm thực hiện, đến nay đề tài đã hoàn thành.
Nhân dịp này, cho phép tôi được bày tỏ lời cảm ơn chân thành nhất
tới PGS.TS. Lương Văn Hinh, người đã trực tiếp hướng dẫn và tận tình
giúp đỡ, tạo mọi điều kiện thuận lợi trong quá trình nghiên cứu để tôi có
thể hoàn thành đề tài này.
Xin chân thành cảm ơn các Thầy, Cô giáo thuộc phòng Quản lý Đào
tạo Sau đại học, Khoa Khoa học môi trường, trường Đại học Nông Lâm
Thái Nguyên đã động viên, giúp tôi trong suốt quá trình học tập và thực
hiện đề tài.
huyện Trùng Khánh, tỉnh Cao Bằng và Ban Quản Lý Khu Bảo Tồn Loài và
Sinh Cảnh Vượn Cao Vít Trùng Khánh – Cao Bằng đã tạo điều kiện trong
quá trình thu tập thông tin tại hiện trường.
Tôi xin gửi lời cảm ơn tới nhân dân xã Ngọc Khê, Ngọc Côn, và
Phong Nậm huyện Trùng Khánh - Cao Bằng đã giúp đỡ tôi trong suốt quá
trình nghiên cứu thực địa.
Cuối cùng, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đối với gia đình và bạn bè,
đã giúp đỡ tôi rất nhiều trong suốt quá trình học tập và làm đề tài tốt nghiệp.
Mặc dù đã rất cố gắng trong quá trình thực hiện, tuy nhiên do đối
tượng nghiên cứu tại vùng lõi khu bảo tồn đi lại khó khăn vì vậy rất khó thu
thập số liệu. Hơn nữa, do điều kiện về thời gian và tư liệu tham khảo còn
hạn chế nên luận văn chắc chắn không tránh khỏi thiếu sót. Kính mong

2.1.1. Đối tượng nghiên cứu 24
2.1.2. Phạm vi nghiên cứu 24
2.1.3. Địa điểm 24
2.1.4. Thời gian nghiên cứu 25
2.2. Nội dung nghiên cứu 25
2.3. Phương pháp nghiên cứu 25
2.3.1. Phương pháp thu thập số liệu 25
2.3.2. Phương pháp kế thừa 25
2.3.3. Phương pháp so sánh 26
2.3.4. Phương pháp chuyên gia, chuyên khảo 26
2.3.5. Phương pháp đánh giá nhanh nông thôn có sự tham gia của người dân (phương
pháp PRA) 26
2.3.6. Phương pháp tổng hợp, phân tích và xử lý số liệu 27
Chƣơng 3. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 28
3.1. Đặc điểm điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội khu vực nghiên cứu 28
3.1.1. Đặc điểm điều kiện tự nhiên 28
3.1.1.1. Vị trí địa lý 28 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
v
3.1.1.2. Địa hình, thổ nhưỡng 29
3.1.1.3. Đặc điểm khí hậu, thủy văn 31
3.1.1.4. Hệ động vật 32
3.1.1.5. Hệ thực vật 34
3.1.2. Đặc điểm tự nhiên, kinh tế - xã hội của 3 xã vùng đệm 36
3.1.2.1. Xã Ngọc Côn 36
3.1.2.2. Xã Ngọc Khê 40
3.1.2.3. Xã Phong Nậm 43
3.2. Đặc điểm hình thái, số lượng quần thể, sinh cảnh sống của Vượn Cao Vít 45

vi
DANH MỤC CÁC CỤM, TỪ VIẾT TẮT

ĐDSH : Đa dạng sinh học
FFI : Fauna Flora International
GD & ĐT : Giáo dục và đào tạo
IUCN : International Union Conservation of Natural
KBT : Khu bảo tồn
RRA : Rapid Rural Appraisal
UBND : Ủy ban nhân dân
VCV : Vượn Cao Vít
VQG : Vườn quốc gia
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
vii
DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU

Bảng 3.1: Đặc điểm thời tiết, khí hậu huyện Trùng Khánh năm 2013 32
Bảng 3.2: Đặc điểm thời tiết, khí hậu huyện Trùng Khánh qua các năm 32
Bảng 3.3: Danh sách các loài thú đã ghi nhận tai Khu bảo tồn
Vượn Cao Vít 33
Bảng 3.4: Các loài quý hiếm và bị đe dọa được thống kê tại Khu bảo
tồn Vượn Cao Vít 34
Bảng 3.5: Các loại thảm thực vật trong Khu bảo tồn Vượn Cao Vít 35
Bảng 3.6: Năng suất một số cây lương thực toàn xã năm 2013 38

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
1
MỞ ĐẦU

1. Tính cấp thiết của đề tài
Trong những năm gần đây, trước xu thế ngày càng giảm về số lượng
của các loài động, thực vật quý hiếm, các quốc gia và các tổ chức phi chính
phủ đã và đang rất nỗ lực hành động để bảo tồn các nguồn gen quý hiếm
của trái đất. Việt Nam là một nước có nguồn tài nguyên sinh vật đa dạng và
phong phú, nhưng cũng là nơi tốc độ tàn phá thiên nhiên và qua đó làm suy
giảm tính đa dạng sinh vật nhanh chóng.
Hiện nay, các loài linh trưởng là đối tượng quan tâm hàng đầu trong
các chiến lược bảo tồn của các quốc gia và các tổ chức bảo tồn phi chính
phủ. Ở Việt Nam, có nhiều loài linh trưởng rất quý hiếm như Voọc mũi
hếch, Vượn Cao Vít, Chà vá chân nâu… là những loài đặc hữu của Việt
Nam và đa số đang trên bờ tuyệt chủng. Các khu bảo tồn thiên nhiên, bảo
tồn loài và sinh cảnh được thành lập liên tục trong những năm qua là để
khắc phục tình trạng suy thoái và góp phần tích cực trong công tác bảo tồn.
Vượn Cao Vít (Nomascus Nasutus Nasutus) thuộc loài Vượn đen
Đông Bắc (tên khoa học là Nomascus Nasutus) – loài linh trưởng quý hiếm
nhất trên thế giới đang có nguy cơ tuyệt chủng cao trong phạm vi toàn cầu
và được xếp vào mục bị đe dọa cao nhất trong Sách đỏ thế giới (IUCN
Redlist 2008: CR) [11]. Phân bố của loài này chỉ có ở vùng Đông Bắc, Việt
Nam và phía Nam tỉnh Vân Nam trên đảo Hải Nam, Trung Quốc.
Tuy nhiên, cho đến nay tại đảo Hải Nam, Trung Quốc cũng chỉ còn
phát hiện một quần thể gồm 14 cá thể loài vượn này. Ở Việt Nam, Vượn
Cao Vít được ghi nhận từ năm 1884 và năm 1965 thu được ba tiêu bản ở
huyện Trùng Khánh, tỉnh Cao Bằng. Từ đó loài này đã bị coi là tuyệt chủng
do không có bất kỳ một ghi nhận nào về sự tồn tại của loài này. Đến năm
2002, một quần thể nhỏ loài vượn này khoảng 26 cá thể được phát hiện còn

tham gia của cộng đồng là một hướng đi đúng mà các tổ chức Bảo tồn
Quốc tế đã tiếp cận và thành công trên nhiều Quốc gia. Vì vậy, tôi thực Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
3
hiện đề tài: “Đánh giá hiệu quả một số biện pháp phục hồi sinh cảnh nhằm
bảo tồn loài Vượn Cao Vít có sự tham gia của cộng đồng tại Khu bảo tồn
loài và sinh cảnh Vượn Cao Vít huyện Trùng Khánh, tỉnh Cao Bằng”.
2. Mục tiêu nghiên cứu
 Mục tiêu chung
Đánh giá hiệu quả biện pháp phục hồi sinh cảnh có sự tham gia của
người dân trong việc tham gia quản lý vào bảo tồn đa dạng sinh học tại
Khu bảo tồn Loài và sinh cảnh Vượn Cao Vít ở huyện Trùng Khánh, tỉnh
Cao Bẳng.
 Mục tiêu cụ thể
- Tìm hiểu số lượng quần thể Vượn Cao Vít tại Khu bảo tồn Vượn
Cao Vít huyện Trùng Khánh, Cao Bằng.
- Tìm hiểu vai trò của cộng đồng dân cư các dân tộc ở ba xã Phong
Nậm, Ngọc Khê, Ngọc Côn trong việc tham gia bảo tồn Vượn Cao Vít
huyện Trùng Khánh, tỉnh Cao Bằng
- Đưa ra các giải pháp nâng cao hiệu quả các hoạt động tham gia của
cộng đồng vào việc bảo tồn Vượn Cao Vít ở Trùng Khánh.
3. Yêu cầu của đề tài
- Bước đầu xác định quần thể Vượn Cao Vít tại Khu bảo tồn Vượn
Cao Vít huyện Trùng Khánh.
- Đánh giá vai trò của cộng đồng dân cư trong việc tham gia bảo tồn.
- Các giải pháp đưa ra cụ thể, thiết thực và có tính khả thi cao…….
4. Ý nghĩa của đề tài
 Ý nghĩa khoa học


Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
5
Chƣơng 1
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1. Cơ sở khoa học
1.1.1. Các khái niệm
 Khái niệm bảo tồn
Theo định nghĩa của IUCN (1991): “Bảo tồn là sự quản lý, sử dụng
của con người về sinh quyển nhằm thu được lợi nhuận bền vững cho thế hệ
hiện tại trong khi vẫn duy trì tiềm năng để đáp ứng những yêu cầu và
nguyện vọng của thế hệ tương lai”.
Khái niệm Bảo tồn sinh học (Biological Conservation) là biện pháp
đặc biệt để duy trì và bảo vệ động thực vật quý hiếm và có nguy cơ tuyệt
chủng.
Hiện có hai phương pháp bảo tồn sinh học đang được sử dụng là:
- Bảo tồn tại chỗ (bảo tồn nguyên vị) (in-situ conservation) là khoanh
vùng bảo tồn động, thực vật tại nơi gốc mà chúng sống. Đây được coi là
phương pháp ưu tiên và tốt nhất để bảo tồn động, thực vật quý hiếm. Bảo
tồn nguyên vị bao gồm các phương pháp và công cụ nhằm mục đích bảo vệ
các loài, các chủng và các sinh cảnh, các hệ sinh thái trong điều kiện tự
nhiên. Tuỳ theo đối tượng bảo tồn mà các hành động quản lý thay đổi khác
nhau. Thông thường bảo tồn nguyên vị được thực hiện bằng cách thành lập
các khu bảo tồn và đề xuất các biện pháp quản lý phù hợp.

lý hiện nay chủ yếu vẫn là bảo vệ nghiên ngặt, chưa gắn kết được quan
điểm hiện đại về bảo tồn là vừa bảo tồn, vừa phát triển. [5][9]
- Bảo tồn chuyển vị (bảo tồn ngoại vi) (ex-situ conservation) là biện
pháp di chuyển động thực vật từ nơi nguyên gốc mà chúng đã và đang sống
đến nơi khác để gìn giữ bảo vệ, kể cả gìn giữ hay bảo quản toàn bộ hoặc
một phần động, thực vật trong điều kiện đông lạnh (cryo-reservation) ở
trong phòng thí nghiệm. Mục đích của việc di dời này là để nhân giống, lưu
giữ, nhân nuôi vô tính hay cứu hộ trong trường hợp: (1) nơi sinh sống bị
suy thoái hay huỷ hoại không thể lưu giữ lâu hơn các loài nói trên, (2) dùng Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
7
để làm vật liệu cho nghiên cứu, thực nghiệm và phát triển sản phẩm mới,
để nâng cao kiến thức cho cộng đồng. Biện pháp này được áp dụng khá phổ
biến, đặc biệt, trong trường hợp nơi ở nguyên gốc của động thực vật bị thu
hẹp hoặc bị đe dọa khác cần phải di chuyển động thực vật để bảo vệ, nhân
nuôi và thả lại tự nhiên hoặc phục vụ nghiên cứu, đào tạo, du lịch [5][9]
Hình thức bảo tồn này khắc phục được nhược điểm của bảo tồn
nguyên vị nhưng lại có nột số bất lợi như đòi hỏi chi phí tốn kém, yêu cầu
kỹ thuật và công nghệ cao. Tồn tại đối với công tác bảo tồn ngoại vi ở Việt
Nam hiện nay là: Thiếu quy hoạch tổng thể và quy hoạch chi tiết; công tác
sưu tập chưa chú ý tới các loài quý hiếm; việc đào tạo cán bộ bảo tồn ngoại vi
chưa được chú trọng; chưa có chính sách cụ thể cho công tác bảo tồn ngoại vi,
nhất là chính sách xã hội hóa cho công tác bảo tồn; việc đầu tư cho bảo tồn
ngoại vi chưa được chú trọng. [5][9]
Bảo tồn chuyển vị và bảo tồn nguyên vị bổ xung cho nhau. Những cá
thể từ các quần thể được bảo tồn chuyển vị sẽ được thả định kỳ ra ngoài
thiên nhiên để tăng cường cho các quần thể được bảo tồn nguyên vị. Bảo
tồn chuyển vị cho ta điều kiện hiểu biết sâu sắc hơn các đặc tính sinh học

3. Công ước buôn bán quốc tế các động thực vật nguy cấp (CITES) mà
Việt Nam đã trở thành thành viên ngày 20 tháng 04 năm 1994.
4. Luật bảo vệ môi trường 29/11/2005
5. Nghị định 80/2003/NĐ – CP ngày 09/08/2006 của chính phủ về việc quy
định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của luật bảo vệ môi trường.
6. Nghị định 81/2006/NĐ-CP ngày 09/08/2006 của chính phủ về việc
xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trường
7. Luật bảo vệ và phát triển rừng (có hiệu lực từ 1-4-2005)
8. Nghị định 48/2002/NĐ-CP ngày 22 tháng 04 năm 2002 về việc sửa
đổi, bổ xung danh mục thực vật, động vật hoang dã quý hiếm ban hành
kèm theo nghị định số 18/HĐBT ngày 17 tháng 01 năm 1992 của hội đồng
bộ trưởng quy định danh mục thực vật rừng, động vật rừng quý hiếm và
chế độ quản lý, bảo vệ. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
9
9. Nghị định số 32/2006/NĐ-CP ngày 30/3/2006 của chính phủ về quản
lý thực vật rừng, động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm
10. Kế hoạch hành động quốc gia về Đa dạng sinh học đến năm 2010 và
định hướng đến năm 2020 thực hiện công ước Đa dạng sinh học và Nghị
định thư Cartagena về An toàn sinh học.
11. Luật đa dạng sinh học đã được Quốc hội thông qua ngày 13 tháng
11 năm 2008.
1.2. Khái niệm về cộng đồng
Cộng đồng nói chung thường được hiểu là những nhóm người, được
tập hợp dưới nhiều hình thức khác nhau như theo lứa tuổi, theo nghề
nghiệp, theo huyết thống, theo tổ chức đoàn thể, v.v…[5]. Đối với đề tài
này, cộng đồng ở đây là nhân dân địa phương; cộng đồng dân tộc Tày,
Nùng, Kinh ở 3 xã Phong Nậm, Ngọc Côn, Ngọc Khê trong việc tham gia

ích cho nhân dân. Giá trị của các khu bảo tồn ngày càng được công nhận và
có lẽ trong tương lai sẽ lớn hơn nhiều. Các khu bảo tồn không những là nơi
lưu trữ các vật liệu thiên nhiên để phát triển công nghệ sinh học cho ngành
y tế, nông nghiệp, lâm nghiệp, công nghiệp mà còn giữ chức năng tự nhiên
của các hệ sinh thái, bảo vệ đất đai, điều hòa khí hậu, chống lại sự thay đổi
khí hậu toàn cầu và giúp con người thích nghi với một thế giới đang thay
đổi (Meneely, 1996). Mặc dầu các khu bảo tồn có tầm quan trọng như vậy,
nhưng quản lý các khu bảo tồn quả thật không dễ dàng, nhất là đối với các
nước đang phát triển. [10]
Do vậy, một bài toán mà chúng ta cần phải giải là tạo nên sự gắn bó
vốn đã có và phát huy vai trò và sự tham gia của mỗi cộng đồng cư dân vào
việc bảo tồn các khu bảo tồn thiên nhiên, VQG. Phải coi việc phát triển xã
hội toàn diện của cộng đồng, nhất là vấn đề bảo tồn và làm giàu bản sắc
văn hóa của cộng đồng như là một bộ phận hữu cơ của việc bảo tồn các khu
bảo tồn thiên nhiên, VQG. Không chỉ dừng lại ở mức tạo nên sự gắn kết
giữa các cộng đồng cư dân với các khu bảo tồn thiên nhiên, VQG mà hơn Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
11
thế nữa trong nhận thức và hành động thực tiễn của chúng ta phải coi các
cộng đồng cư dân cùng với các cơ quan chức năng của Nhà nước thực sự là
người chủ của các khu bảo tồn thiên nhiên và VQG ấy.
Việc lôi cuốn các cộng đồng địa phương vào việc quy hoạch và quản
lý các khu bảo tồn là yếu tố cực kỳ quan trọng, bởi vì họ là những người
hiểu biết tường tận nhất về việc sử dụng và quản lý tài nguyên thiên nhiên
trong vùng. Vì vậy, họ là người quyết định cuối cùng và cần phải được
tham gia vào các quá trình lập kế hoạch và thực hiện quản lý.
Đến nay, cộng đồng dân cư các địa phương ở các vùng núi hầu như
rất ít, thậm chí không quan tâm đến công tác quản lý tài nguyên nhiên nhiên,

dân cư quanh các khu bảo tồn được tham gia vào công tác bảo tồn, có trách
nhiệm và được hưởng lợi từ đó; giảm được các xung đột giữa công tác bảo
tồn với sinh kế và sự phát triển của cộng đồng dân cư. Một số mô hình đã
thực hiện thành công như tại Philipin, Srilanka, Bawngladet, Thái Lan
Theo một báo cáo của Liên đoàn Bảo tồn Thiên nhiên Quốc tế
(International Union Conservation of Natural) (IUCN) công bố ngày 5/8/2008
có 48% trong số 643 loài động vật linh trưởng trên toàn cầu đang đối mặt
với nguy cơ tuyệt chủng, nguyên nhân do nạn phá rừng và săn bắn bừa bãi
của con người. Bên cạnh những thông tin khá buồn trên, danh sách đỏ cũng
ghi nhận được một số trường hợp bảo tồn thành công, trong đó có loài đười
ươi vàng và đen của Brazil được phân loại từ tình trạng đe dọa nghiêm
trọng xuống mức bị đe dọa. [35]
Dự án Bảo tồn dựa vào cộng đồng có mục tiêu hỗ trợ 2 nước Việt
Nam và Trung Quốc xây dựng các lĩnh vực nghiên cứu liên ngành trong sử
dụng bền vững và bảo tồn tài nguyên thiên nhiên bao gồm đa dạng sinh học
và các hệ sinh thái, thông qua việc tăng cường năng lực cho các cơ quan
nghiên cứu tham gia trong dự án. Thông qua dự án này, một mạng lưới
quốc tế về các vấn đề có liên quan tới quản lý bảo tồn và phát triển bền
vững giữa các cơ quan nghiên cứu ở 3 nước Canada, Trung Quốc và Việt
Nam được thiết lập nhằm tìm kiếm các giải pháp nâng cao nhận thức có sự Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
13
tham gia của cộng đồng. Nâng cao nhận thức về vai trò của cộng đồng
trong công tác bảo tồn cho cán bộ địa phương thông qua các chuyên thăm
quan nghiên cứu tại Canada. [36]
Liên quan đến quản lý rừng và các tài nguyên rừng cũng nói lên hình
thức lâm nghiệp xã hội, vì lâm nghiệp xã hội cũng là một phần trong công
tác bảo tồn dựa vào cộng đồng. Sau đây là một số mô hình quản lý rừng

thứ 3 là mở rộng và thể chế hóa. Trong giai đoạn khai phá về quản lý lâm
nghiệp cộng đồng, trồng rừng và trồng cây công cộng là khuynh hướng
chính của lâm nghiệp cộng đồng thông qua sự tham gia của người dân địa
phương. Việc hợp nhất chương trình lâm nghiệp xã hội và lâm nghệp cộng
đồng là chương trình chủ yếu của giai đoạn thứ 2 và tăng cường rừng cộng
đồng trong giai đoạn thứ 3. Người dân trở thành đối tác, người quản lý và
người chủ của các nguồn tài nguyên rừng. Quản lý rừng trên cơ sở cộng
đồng là thông qua hợp đồng thuê quyền sử dụng bằng việc tăng cường bảo
vệ, quản lý, phục hồi và phát triển rừng. Các tổ chức của người dân đang
làm việc trên diện tích này với quyền sử dụng an toàn trong 25 năm. Quyền
25 năm với rừng tạo ra cơ hội để bảo vệ, quản lý và bán các sản phẩm rừng
ở các rừng cộng đồng của họ. [23]
Ở Thái Lan, Wasi (1997) cho rằng lâm nghiệp cộng đồng là một
nhân tố trợ giúp cho việc phát triển xã hội dân sự ở Thái Lan. Các cộng
đồng có đòi hỏi rất lớn được tham gia vào quản lý các nguồn tài nguyên địa
phương của họ do một diện tích rừng lớn đã bị mất bởi việc khai thác gỗ
hợp pháp trong những thập kỷ trước đây. Vandergeets (1996) nhận thấy
rằng khai thác rừng ở Thái Lan đã bị cấm từ năm 1989, Cục Lâm nghiệp
Hoàng gia Thái Lan đã chuyển các mục tiêu từ quản lý khai thác gỗ sang
mở rộng bảo tồn rừng. Quyền của cộng đồng địa phương quản lý các nguồn
tài nguyên của họ trở thành mục tiêu chính của nhiều tổ chức phi chính phủ
và cơ quan nghiên cứu. Gymour và Fisher (1997) nhận xét rằng các hoạt
động quản lý rừng cộng đồng có liên quan đến việc mở rộng trồng rừng Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
15
trên diện tích rừng đã mất, ở mức độ nào đó khá hơn là việc phối hợp quản
lý hoặc chuyển giao việc kiểm soát cho các cộng đồng. [31]
1.4. Bảo tồn có sự tham gia của cộng đồng ở Việt Nam

- Tại Khu bảo tồn thiên nhiên Phong Điền, Chi cục Kiểm lâm Thừa
Thiên Huế đã mạnh dạn xây dựng thí điểm mô hình làng sinh thái lâm
nghiệp tại một số xã vùng đệm của Khu bảo tồn thiên nhiên này. Kết quả
bước đầu rất đáng khích lệ đó là người dân được hưởng quyền lợi về đời
sống vật chất và tinh thần, từ đó người dân đã tự giác tham gia quản lý tốt
các hoạt động của mô hình làng sinh thái. Mô hình làng sinh thái lâm
nghiệp là một hướng đi tất yếu và mong muốn của các nhà quản lý cũng
như từ chính cộng đồng địa phương. Tuy nhiên, để đạt được kết quả như
mong muốn còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố, mà quan trọng nhất là sự tham
gia nhiệt tình của chính cộng đồng địa phương. Việc phối hợp các tổ chức
cùng đầu tư và thực hiện một cách đồng bộ trong các làng sinh thái là vấn
đề cần được khắc phục. [33]
- Tại Vườn quốc gia Xuân Sơn, tỉnh Phú Thọ: Ban quản lý Vườn
quốc gia đã thí điểm xây dựng mô hình tổ bảo vệ rừng tại thôn Lạng, thuộc
xã Xuân Sơn, huyện Tân Sơn, tỉnh Phú Thọ.
- Tại Khu BTTN Ngọc Sơn - Ngổ Luông, tỉnh Hòa Bình: Đã thành
lập và hỗ trợ cho các tổ chức đại diện cho cộng đồng địa phương cấp thôn
bản tham gia bảo vệ rừng, bảo tồn đa dạng sinh học với tên gọi là Ban tự
quản lâm nghiệp.
- Tại Khu bảo tồn thiên nhiên Phong Điền, Chi cục Kiểm lâm Thừa
Thiên Huế đã mạnh dạn xây dựng thí điểm mô hình làng sinh thái lâm
nghiệp tại một số vùng đệm của Khu bảo tồn thiên nhiên này. [33]
Các thành công trên là tiền đề cho việc nghiên cứu và xây dựng các
mô hình quản lý bảo tồn mới, với có cấu đơn giản, hiệu quả hơn và đặc biệt Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
17
là hài hòa được lợi ích của việc bảo tồn với lợi ích thiết thực về đời sống
kinh tế và nhu cầu phát triển của cộng đồng.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status