Đa dạng sinh học và sinh thái học một số loài lưỡng cư quý hiếm, có giá trị kinh tế ở vườn quốc gia Pù Mát tỉnh Nghệ An - Pdf 29

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH

LƯU TRUNG KIÊN
ĐA DẠNG SINH HỌC VÀ SINH THÁI HỌC
MỘT SỐ LOÀI LƯỠNG CƯ QUÝ HIẾM,
CÓ GIÁ TRỊ KINH TẾ Ở VƯỜN QUỐC GIA
PÙ MÁT TỈNH NGHỆ AN
LUẬN VĂN THẠC SĨ SINH HỌC
NGHỆ AN - 2014
2
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
LƯU TRUNG KIÊN
ĐA DẠNG SINH HỌC VÀ SINH THÁI HỌC
MỘT SỐ LOÀI LƯỠNG CƯ QUÝ HIẾM,
CÓ GIÁ TRỊ KINH TẾ Ở VƯỜN QUỐC GIA
PÙ MÁT TỈNH NGHỆ AN
Chuyên ngành: Động vật học
Mã số: 62.42.01.03
LUẬN VĂN THẠC SĨ SINH HỌC
Người hướng dẫn khoa học:
PGS. TS. CAO TIẾN TRUNG
NGHỆ AN - 2014
4
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các số liệu, kết
quả trong luận văn này là trung thực.
Luận văn có kế thừa kết quả của những công trình nghiên cứu của các tác giả
đi trước và bổ sung thêm những tư liệu mới.
Tác giả

TỔNG QUAN 3
1.1. Lược sử nghiên cứu 3
1.1.1. Lược sử nghiên cứu lưỡng cư, bò sát ở Việt Nam 3
1.1.2. Lược sử nghiên cứu ở khu vực Bắc Trung Bộ: 5
1.1.3. Lược sử nghiên cứu ở Nghệ An 7
1.1.4. Lược sử nghiên cứu Lưỡng cư, bò sát tại VQG Pù Mát 8
1.2. Điều kiện tự nhiên, dân sinh, kinh tế, xã hội khu vực nghiên cứu: 8
1.2.1. Điều kiện tự nhiên 8
1.2.2. Những đặc điểm dân số, kinh tế, xã hội 13
1.3. Nguồn tài nguyên rừng ở Vườn quốc gia Pù Mát 21
1.3.1. Hiện trạng sử dụng đất 21
1.3.2. Tài nguyên rừng 23
Chương 2
ĐỊA ĐIỂM, THỜI GIAN, VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG
PHÁP NGHIÊN CỨU 29
2.1. Địa điểm, thời gian nghiên cứu 29
2.1.1. Địa điểm 29
2.1.2. Thời gian 29
2.2. Tư liệu nghiên cứu 29
2.3. Đối tượng 29
iii
2.4. Dụng cụ nghiên cứu 29
2.5. Phương pháp nghiên cứu 30
2.5.1. Phương pháp điều tra thu mẫu ngoài thực địa 30
2.5.2. Phương pháp xử lí mẫu: 30
2.5.3. Phương pháp định loại và phân tích số liệu 31
2.5.4. Phương pháp nghiên cứu đặc điểm hình thái phân loại 31
2.5.5. Phương pháp phỏng vấn, thu thập thông tin 33
2.5.6. Phương pháp xử lí số liệu 34
Chương 3

Hình 2.1. Sơ đồ đo lưỡng cư không đuôi (Theo Banikov A. G. et al.,
1977) 32
Bản đồ 2.1. Các tuyến điều tra thực địa 35
Bảng 3.1. Thành phần loài lưỡng cư Vườn quốc gia Pù Mát 36
Bảng 3.2. Số loài và giống lưỡng cư trong các bộ, họ 67
Biểu đồ 3.1. Đa dạng loài lưỡng cư trong các họ 68
Bảng 3.3. Phân bố các loài lưỡng cư thu được theo khu vực điều tra 70
Biểu đồ 3.2. Phân bố lưỡng cư theo khu vực điều tra 71
Bảng 3.4. Đặc điếm sinh học sinh thái giống Odorrana (Fei, Ye &
Huang, 1991) 73
Bảng 3.5. Bảng sinh học sinh thái giống Rhacophorus
(Kuhl & Van Hasselt, 1822) 74
Bảng 3.6. Đặc điểm sinh học sinh thái giống Limnonectes (Fitzinger,
1843) 77
Bảng 3.7. Đặc điểm sinh học sinh thái giống Amolops (Cope, 1865). .78
Bảng 3.8. Mục đích sử dụng các loài lưỡng cư 79
Bảng 3.9. Khu vực thường săn bắt lưỡng cư trong VQG Pù Mát 80
Bảng 3.10. Những loài lưỡng cư có giá trị kinh tế 82
vi
Bảng 3.11. Các loài lưỡng cư có giá trị bảotồn - VQG Pù Mát 83
Bảng 3.12. Biểu tổng hợp các vụ vi phạm 84
Bảng 3.13. Số vụ vi phạm về săn bắt ĐVHD bị xử lý qua các năm 85
vii
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
BTTN : Bảo tồn thiên nhiên
BVNN : Bảo vệ nghiêm ngặt
DTSQ : Dự trữ sinh quyển
DVHC : Dịch vụ hành chính
ĐDSH : Đa dạng sinh học
ĐVHD : Động vật hoang dã

học, sinh thái và đề ra các nhóm giải pháp bảo tồn khu hệ LC là rất cần thiết.
Chính vì vậy, để có tư liệu khoa học làm cở sở xây dựng kế hoạch giám sát,
bảo tồn các loài lưỡng cư; đồng thời sưu tập bổ sung các mẫu tiêu bản LC cho
Vườn quốc gia Pù Mát chúng tôi đã chọn và nghiên cứu đề tài “Đa dạng sinh học
và sinh thái học một số loài lưỡng cư quý hiếm, có giá trị kinh tế tại Vườn Quốc
gia Pù Mát, tỉnh Nghệ An”.
2
2. Mục tiêu nghiên cứu
- Nghiên cứu ĐDSH và sinh thái học khu hệ lưỡng cư (đặc biệt là các loài quý
hiếm và có giá trị kinh tế) - Vườn quốc gia Pù Mát.
- Cung cấp tư liệu khoa học làm cơ sở cho việc giám sát, bảo tồn khu hệ lưỡng
cư; đồng thời sưu tập bổ sung các mẫu tiêu bản LC cho Bảo tàng - VQG Pù Mát.
- Xác định những nguyên nhân làm suy giảm ĐDSH lưỡng cư và đề xuất các
giải pháp bảo tồn các loài này đồng thời mở hướng chăn nuôi sử dụng chúng làm
thực phẩm.
3. Nội dung nghiên cứu
- Đa dạng thành phần loài lưỡng cư tại Khu vực nghiên cứu (KVNC)
- Đặc điểm sinh học sinh thái một số loài chính.
- Tình trạng của các quần thể
- Giá trị kinh tế của các loài LC trong KVNC
- Các mối đe dọa và đề xuất các giải pháp bảo tồn
4. Ý nghĩa của đề tài
4.1. Ý nghĩa lý luận.
- Cung cấp dẫn liệu về thành phần loài LC tại KVNC, góp phần bổ sung cho
khu hệ LC Khu dự trữ Sinh Quyển Tây Nghệ An và khu vực Bắc Trung Bộ.
- Cung cấp dẫn liệu về hiện trạng các loài LC tại KVNC nhằm tư vấn cho
công tác bảo tồn đa dạng sinh học các loài LC.
4.2. Ý nghĩa thực tiễn.
- Cung cấp dẫn liệu về thành phần loài lưỡng cư ở Vườn quốc gia Pù Mát,
đặc điểm sinh học sinh thái một số loài có giá trị kinh tế

loài ếch nhái thuộc 3 bộ 9 họ [13].
4
Năm 1985, Trần Kiên, Nguyễn Văn Sáng, Hồ Thu Cúc đã đưa ra danh lục khu
hệ ếch nhái, bò sát Việt Nam gồm 200 loài bò sát và 90 loài ếch nhái. Các tác giả đã
xác định sự phân bố địa lý, phân bố theo sinh cảnh và ý nghĩa kinh tế của các loài.
Đây là đợt tu chỉnh đầu tiên về danh lục LC, BS ở nước ta [14].
Hoàng Xuân Quang (1993,1995) điều tra thống kê danh lục ếch nhái bò sát ở
các tỉnh Nghệ An, Hà Tĩnh gồm 94 loài bò sát xếp trong 59 giống 17 họ và 34 loài
ếch nhái xếp trong 14 giống 7 họ [22, 23].
Năm 1996, Nguyễn Văn Sáng, Hồ Thu Cúc đã tu chỉnh và công bố danh lục
ếch nhái bò sát Việt Nam gồm có 256 loài bò sát và 82 loài ếch nhái [35].
Năm 2005, Nguyễn Văn Sáng và cs đã tổng kết các kết quả nghiên cứu trước
đó về ếch nhái bò sát của Việt Nam với 458 loài ếch nhái, bò sát; trong đó có 162
loài ếch nhái [41].
Năm 2009, Nguyễn Văn Sáng, Hồ Thu Cúc, Nguyễn Quảng Trường đã ghi
nhận 176 Loài LC ở Việt Nam [61].
Ngay sau cuốn sách này xuất bản một loạt các loài mới được công bố cho
khoa học bởi các nhà khoa học Việt Nam và Nước ngoài: Rowley J. J. & Cao T. T.
(2009); Rowley J. J., Le T. T. D., Tran T. A. D., Stuart B. & Hoang D. H. (2010);
Rowley J. J., Hoang D H, Le T. T. D., Dau Q. V. & Cao T. T. (2010)… và các tác
giả khác. Hiện biết, đã ghi nhận có tới hơn 190 loài ếch nhái ở Việt Nam.
Những nghiên cứu về ĐDSH Lưỡng cư ở nước ta vẫn đang được tiếp tục; từng
bước sử dụng các tiến bộ khoa học, công nghệ và các phương pháp hiện đại trong
nghiên cứu. Vì vậy có rất nhiều phân tích về di truyền trong phân loại, công bố
nhiều loài mới, giống mới có ý nghĩa cho khoa học; trong đó có sự hợp tác nghiên
cứu với các nhà khoa học nước ngoài.
Các nghiên cứu để xác định hiện trạng, kích thước quần thể các loài lưỡng cư,
nhất là các loài chính và các loài có giá trị bảo tồn và kinh tế tại các sinh cảnh nhạy
cảm; Tìm các giải pháp bảo tồn và phát triển bền vững Đa dạng Sinh học lưỡng cư
và lợi ích cộng đồng địa phương; Đồng thời chú ý vai trò trong đời sống cộng đồng

đó có một loài ếch mới cho khoa học đã được công bố dựa trên số liệu thu được của
đợt thực địa. Nghiên cứu cũng mở rộng thêm vùng phân bố của nhiều loài quý
6
hiếm: Cóc núi Ophryophryne hansi, Ếch cây sần bắc bộ Thelodecma corticales,
Thạch sùng ngón phong nha kẻ bàng Cyrtodactylus phongnhakebangensi, Rắn
khuyết đài loan Lycodon ruhstrati, Rắn cặp nia sông hồng Bungarus slowinski, Rắn
ri cá Homalopsis buccata (Hồ Thu Cúc, 2007) [7].
Năm 2007, tác giả Đoàn Văn Kiên và Hồ Thu Cúc nghiên cứu thành phần
lưỡng cư, bò sát ở khu vực Lệ Thủy & Quảng Ninh (Quảng Bình) ghi nhận có 75
loài lưỡng cư, bò sát (24 loài ếch nhái) [17]. Ở xã Cẩm Lương (Cẩm Thủy, Thanh
Hóa) tác giả Nguyễn Kim Tiến đã thống kê được 29 loài bò sát, 18 loài ếch nhái
[49], trước đó Lê Nguyệt Ánh (2007) điều tra ở núi Bồ Um, xã Cẩm Lương ghi
nhận 20 loài bò sát.
Năm 2008, Hoàng Xuân Quang và cs đã thống kê ở Bắc Trung bộ có 226 loài,
gồm 88 loài ếch nhái, 138 loài bò sát, trong đó có 22 loài ếch nhái và 15 loài bò sát
đặc hữu của Việt Nam, đồng thời đưa ra những nhận xét về phân bố và đặc tính địa
động vật của khu hệ lưỡng cư, bò sát ở đây [33].
Năm 2009, Nguyễn Kim Tiến có thống kê về thành phần loài lưỡng cư, bò sát
ở một số VQG và KBTTN tỉnh Thanh Hóa đã ghi nhận 121 loài (49 loài ếch nhái,
72 loài bò sát) [50].
Thời gian sau này, các tác giả cũng đã tập trung nghiên cứu về hình thái phân
loại, đặc điểm sinh học sinh thái, sinh sản và dinh dưỡng của các loài lưỡng cư, bò
sát đó là: Đặc điểm sinh sản của ếch gai sần (Paa veruscopinosa Bourret, 1937) ở
vùng A Lưới, TTH (Ngô Đắc Chứng và cs, 2009). Một số đặc điểm hình thái của
quần thể Nhông cát Leiolepis reevesii reevesii mẫu thu thập ở nhiều điểm từ Thanh
Hóa đến TTH (Ngô Đắc Chứng và cs, 2009) [4]. Năm 2011, Nguyễn Văn Lanh
nghiên cứu đặc điểm hình thái và dinh dưỡng của rắn lục xanh Viridovipera
stejnegeri Schimdt, 1925 ở vùng Tây Nam TTH [5].
Bên cạnh các nghiên cứu về LCBS, nhiều nghiên cứu về nòng nọc lưỡng cư
cũng được thực hiện. Năm 2008, Lê Thị Thu và cs có nghiên cứu về đặc điểm sinh

quả, các nghiên cứu đó đã thống kê được ở khu DTSQ Tây Nghệ An có 144 loài,
gồm 87 loài bò sát và 57 loài ếch nhái, phát hiện 2 loài mới cho khoa học và bổ
sung cho Nghệ An 18 loài
8
1.1.4. Lược sử nghiên cứu Lưỡng cư, bò sát tại VQG Pù Mát
Năm 1998, khu hệ lưỡng cư của Vườn quốc gia Pù Mát đã được điều tra lần
đầu tiên trong chương trình “Điều tra ĐDSH toàn diện KBTTN Pù Mát” do tổ chức
Động Thực Vật thế giới (FFI) tiến hành với sự tham gia của Bryan Stuart, Hoàng
Xuân Quang đã khảo sát khu hệ lưỡng cư, bò sát, kết qủa thu được gồm 23 loài
lưỡng cư, 48 loài bò sát [9].
Lê Nguyên Ngật, Hoàng Xuân Quang (2001), Kết quả điều tra bước đầu về
thành phần loài lưỡng cư ở Khu BTTN Pù Mát, đã ghi nhận được 71 loài trong đó
21 loài ếch nhái thuộc 5 họ, 1 bộ và 50 loài bò sát thuộc 16 họ, 3 bộ [18].
Hoàng Xuân Quang, Hoàng Ngọc Thảo, Hồ Anh Tuấn (2004), đa dạng thành
phần loài và đặc điểm phân bố theo sinh cảnh lưỡng cư, bò sát vùng đệm VQG Pù
Mát, đã ghi nhận được thành phần loài lưỡng cư, bò sát vùng đệm VQG Pù Mát có
41 loài thuộc 14 họ, 3 bộ. Bổ sung thêm 15 loài vào danh lục ĐDSH của Vườn [28].
Năm 2003-2004, chương trình "Điều tra và đánh giá nhanh tính ĐDSH tại
VQG Pù Mát" do tổ chức Động Thực Vật thế giới (FFI) tiến hành. Đã xác định
được lưỡng cư VQG Pù Mát gồm 33 loài [10].
Lê Đông Hiếu (2008) nghiên cứu ĐDSH khu hệ lưỡng cư, bò sát VQG Pù Mát
đã ghi nhận được 130 loài thuộc 78 giống, 23 họ, 4 bộ. Trong đó lưỡng cư có 51
loài thuộc 26 giống, 7 họ, 2 bộ; 79 loài bò sát thuộc 52 giống, 16 họ, 2 bộ [11].
1.2. Điều kiện tự nhiên, dân sinh, kinh tế, xã hội khu vực nghiên cứu:
1.2.1. Điều kiện tự nhiên
1.2.1.1. Vị trí địa lý
VQG Pù Mát nằm ở phía Tây Nam tỉnh Nghệ An, có tọa độ địa lý: Từ 18
0
46'
- 19

4 hệ thống suối chính: Khe Thơi, Khe Bu, Khe Choăng, Khe Khặng. Các khe suối
này ở thượng nguồn có nhiều thác nước lớn.
Các dải dông phụ có độ dốc lớn, độ cao trung bình từ 800m - 1500m, địa hình
hiểm trở. Riêng thung lũng Khe Khặng và Khe Thơi có địa hình tương đối bằng,
đây là vùng trước đây và hiện nay còn có tộc người Đan Lai sinh sống.
Do địa hình hiểm trở, nhiều núi cao vách đá dựng đứng khó đi lại, 4 con suối
lớn từ các dãy núi chảy vào sông Cả đều nhiều ghềnh thác và nhiều khúc ngoặt nên
sự phá rừng từ khu dân cư bên ngoài còn ít, vì vậy Pù Mát là một trong số rất hiếm
khu rừng nguyên sinh lớn còn sót lại ở Việt Nam.
10

Bản đồ 1.1. Vị trí địa lí Vườn quốc gia Pù Mát
11
1.2.1.3. Khí hậu thủy văn
* Khí hậu
Do địa hình của dãy Trường Sơn ảnh hưởng mạnh đến hoàn lưu khí quyển, đã
tạo nên sự khác biệt lớn trong phân hoá khí hậu khu vực. Theo tài liệu quan trắc
nhiều năm của các trạm khí tượng Con Cuông, Tương Dương cho thấy:
- Chế độ gió: VQG Pù Mát nằm trong vùng có khí hậu nhiệt đới gió mùa, chịu
ảnh hưởng của 02 loại gió chính đó là gió mùa Đông Bắc (mùa Đông) và gió mùa
Tây Nam (mùa hè).
- Chế độ nhiệt:
+ Nhiệt độ trung bình năm 23 - 24
0
C, tổng nhiệt năng từ 8.500 - 8.700
0
C.
+ Mùa đông từ tháng 12 đến tháng 2 năm sau do chịu ảnh hưởng của gió mùa
Đông Bắc (giá lạnh và thường kèm theo mưa phùn) nên nhiệt độ trung bình trong
các tháng này xuống dưới 20

nằm trong VQG Pù Mát, chảy theo hướng Tây Nam - Đông Bắc và đổ vào Sông Cả.
Bè nứa có thể đi lại trên một số đoạn thuộc các khe này. Riêng Khe Choang và Khe
Khặng có thể dùng thuyền máy ngược dòng ở phần hạ lưu. Đây chính là điều kiện
về giao thông để người dân địa phương đi sâu vào VQG khai phá đất đai và khai
thác lâm sản.
Nhìn chung, mạng lưới sông suối khu vực VQG Pù Mát khá dày đặc, đóng vai
trò quan trọng trong cung cấp nguồn nước và giao thông thuỷ. Tuy nhiên, do lượng
mưa phân bố không đều trong năm, thường tập trung theo mùa nên dễ gây tình
trạng khô hạn và lũ lụt, ảnh hưởng đến sản xuất, đời sống và môi trường.
1.2.1.4. Đặc điểm đất đai, thổ nhưỡng
- Đất đai:
VQG Pù Mát nằm trên dãy Trường Sơn Bắc, quá trình kiến tạo địa chất được
hình thành qua các kỷ Palezoi, Đề vôn, Các bon, Pecmi, Tri at đến Mioxen cho tới
ngày nay. Trong suốt quá trình phát triển của dãy Trường Sơn thì chu kỳ tạo núi
Hecxinin, địa hình luôn bị ngoại lực tác động mạnh mẽ tạo nên 4 dạng địa mạo chủ
yếu sau:
+ Núi cao trung bình: Nằm ngay biên giới Việt Lào với vài đỉnh cao trên
2000m. (Phulaileng cao 2711m, Rào cỏ cao 2286m), địa hình vùng này rất hiểm trở,
đi lại cực kỳ khó khăn.
+ Kiểu núi thấp và đồi cao: Kiểu này chiếm phần lớn diện tích của miền và có
độ cao từ 1000m trở xuống, cấu trúc tương đối phức tạp, được cấu tạo bởi các trầm
tích, biến chất, địa hình có phần mềm mại và ít dốc hơn.
+ Thung lũng kiến tạo, xâm thực: Kiểu này tuy chiếm một diện tích nhỏ nhưng
lại thuận lợi cho sản xuất nông nghiệp, độ cao thấp hơn gồm thung lũng các sông
suối Khe Thơi, Khe Choăng, Khe Khặng (Sông Giăng) và bờ phải sông Cả.
+ Các khối đá vôi nhỏ: Kiểu này phân tán dạng khối, uốn nếp có quá trình
karst trẻ và phân bố hữu ngạn sông Cả ở độ cao 200 - 300m. Cấu tạo phân phiến
dày, màu xám đồng nhất và tinh khiết.
13
- Thổ nhưỡng:

2
; huyện Tương Dương là 21
người/km
2
.

Trích đoạn Phương pháp xử lí số liệu Đặc điểm phân loại học lưỡng cư Vườn quốc gia Pù Mát
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status