MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
CHƢƠNG I: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3
1.1 Khái niệm chung về hệ sinh thái hồ 3
1.1.1 Phân chia các vùng trong hồ 3
1.1.2 Các quần xã sinh vật trong hồ 4
1.2 Các thông số đánh giá chất lƣợng nƣớc. 6
1.2.1 Các thông số thủy lý hóa 6
1.2.2 Sinh vật chỉ thị 9
1.3 Hiện trạng chất lƣợng môi trƣờng nƣớc một số hồ miền Bắc Việt Nam. 12
1.4 Điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội thành phố Lạng Sơn 16
1.4.1 Điều kiện tự nhiên thành phố Lạng Sơn 16
1.4.2 Tình hình kinh tế - xã hội 17
CHƢƠNG 2. ĐỐI TƢỢNG VÀ PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 18
2.1 Đối tƣợng nghiên cứu 18
2.2 Phƣơng pháp nghiên cứu 19
2.2.1 Phương pháp thu mẫu nước 19
2.2.2 Phương pháp phân tích mẫu 20
2.2.3 Phương pháp phân tích số liệu 20
CHƢƠNG III. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 24
3.1 Đặc điểm thủy lý hóa môi trƣờng các hồ nghiên cứu 24
3.1.1 Hồ Phai Loạn 24
3.1.2 Hồ Nà Tâm 30
3.1.3 Hồ Phai Món 36
3.2 Đa dạng sinh vật nổi 43
3.2.1 Đa dạng thực vật nổi 43
3.2.2 Đa dạng động vật nổi 52
3.2.3 So sánh đa dạng sinh vật nổi giữa các hồ nghiên cứu 61
3.3 Đánh giá chất lƣợng môi trƣờng nƣớc 63
3.3.1 Đánh giá chất lượng môi trường nước thông qua thông số thủy lý hóa 63
3.3.2 Đánh giá chất lượng nước theo phương pháp Lee và Wang 64
Hình 4. Giá trị DO tại các điểm nghiên cứu hồ Phai Loạn 26
Hình 5. Giá trị BOD
5
tại các điểm nghiên cứu hồ Phai Loạn 27
Hình 6. Giá trị COD tại các điểm nghiên cứu hồ Phai Loạn 27
Hình 7. Hàm lượng NH
4
+
tại các điểm nghiên cứu hồ Phai Loạn 28
Hình 8. Hàm lượng NO
3
-
tại các điểm nghiên cứu hồ Phai Loạn 29
Hình 9: Hàm lượng PO
4
3-
tại các điểm nghiên cứu hồ Phai Loạn 29
Hình 10. Nhiệt độ tại các điểm nghiên cứu hồ Nà Tâm 30
Hình 11. Giá trị pH tại các điểm nghiên cứu hồ Nà Tâm 31
Hình 12. Độ đục tại các điểm nghiên cứu hồ Nà Tâm 31
Hình 13. Hàm lượng DO tại các điểm nghiên cứu hồ Nà Tâm 32
Hình 14. Hàm lượng BOD
5
tại các điểm nghiên cứu hồ Nà Tâm 33
Hình 15. Hàm lượng COD tại các điểm nghiên cứu hồ Nà Tâm 33
Hình 16. Hàm lượng NH
4
+
tại các điểm nghiên cứu hồ Nà Tâm 34
Hình 17. Hàm lượng NO
Hình 30. Tỷ lệ thành phần loài giữa các nhóm thực vật nổi hồ Phai Món 51
Hình 31. Mật độ thực vật nổi trung bình tại các điểm nghiên cứu hồ Phai Món 52
Hình 32. Tỷ lệ thành phần loài giữa các nhóm động vật nổi hồ Phai Loạn 58
Hình 33. Tỷ lệ thành phần loài giữa các nhóm động vật nổi hồ Nà Tâm 59
Hình 34. Tỷ lệ thành phần loài giữa các nhóm động vật nổi hồ Phai Món 61
Hình 35: Thành phần loài thực vật nổi tại các hồ nghiên cứu 62
Hình 36: Thành phần loài động vật nổi tại các hồ nghiên cứu 63
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
STT
Kí hiệu
Diễn giải
1
ĐNC
Điểm nghiên cứu
2
QCVN
Quy chuẩn Việt Nam
3
STT
Số thứ tự
4
PL
Phai Loạn
5
NT
Nà Tâm
6
PM
Phai Món
kinh tế như hiện nay, đây không phải là vấn đề của riêng một quốc gia nào mà nó là
vấn đề của tất cả các tập thể cá nhân, mọi vùng mọi khu vực khắp nơi trên trái đất.
Song song với sự phát triển kinh tế thì con người ngày càng thải ra nhiều chất thải
vào môi trường nước làm môi trường nước ngày càng bị ô nhiễm nặng nề. Và có
quản lí tốt được nguồn nước sử dụng đầu vào thì ta mới có thể làm giảm bớt và
khắc phục tình trạng nước bị ô nhiễm.
Thành phố Lạng Sơn là thuộc tỉnh Lạng Sơn, có diện tích khoảng 79 km².
Thành phố nằm bên quốc lộ 1A, cách biên giới Việt Nam - Trung Quốc 18 km,
cách Hữu Nghị quan 15 km và Đồng Đăng 13 km về phía đông bắc. Dân số của
thành phố năm 2009 là 187.278 người, với nhiều dân tộc khác nhau
như: Kinh, Tày, Nùng, Hoa và các nhóm người Dao, Mường, Sán Dìu, Sán Chỉ,
Thành phố nằm trong vùng khí hậu cận nhiệt đới ẩm, nhiệt độ trung bình hàng năm
21
o
C, độ ẩm trung bình 80%, lượng mưa trung bình năm là 1439 mm [28].
Trên khu vực thành phố có rất nhiều hồ tự nhiên cũng như nhân tạo như hồ
Nà Tâm, hồ Thẩm Sỉnh, Bó Diêm, Lẩu Xá, Bá Chủng, Pò Luông. Các hồ này đóng
vai trò rất quan trọng trong việc phát triển kinh tế của thành phố [27]. Ngoài vai trò
trong việc phát triển kinh tế thì các hồ ở đây còn là lá phổi xanh giúp cho môi
trường không khí trong lành hơn. Tuy nhiên những năm gần đây, sự phát triển vĩ
mô của nền kinh tế đã đem lại hậu quả là nguồn nước của các hồ trên địa bàn thành
phố không được mát mẻ trong xanh như trước mà thay vào đó là nước trong một số
hồ bắt đầu bị ô nhiễm.
Bên cạnh việc phát triển kinh tế thì việc bảo vệ nguồn nước tại thành phố
cũng như sự đa dạng sinh học trên khu vực sông hồ tại đây cũng là vấn đề rất cần
được quan tâm. Chính vì thế mà đề tài “ Chất lượng môi trường nước và đa dạng
sinh vật nổi một số hồ của thành phố Lạng Sơn ” là một sự cần thiết cho việc
2
quản lí chất lượng nước của các hồ tại thành phố Lạng Sơn. Mục tiêu của đề tài
của bụi nước, là nơi sinh sống của các loài sinh vật ưa ẩm trung bình.
+ Vùng supralittoral: cũng nằm trên mực nước, nhưng chịu ảnh hưởng của
bụi nước do sóng vỗ, dành cho những loài sinh vật trên cạn ưa ẩm.
+ Vùng eulittoral: nằm quanh hồ, giữa mực nước cao nhất và thấp nhất theo
mùa và chịu ảnh hưởng của sóng tan. Eulittoral và infralittoral cấu trúc thành vùng
ven bờ của hồ, nơi chuyển tiếp giữa vùng đất cao và nước sâu của hồ, nay gọi là đất
ngập nước.
+ Infralittoral là vùng ngập nước thường xuyên và được chia thành 3 phần
vùng nhỏ hơn, liên quan đến sự phân bố phổ biến của macrophyta:
Infralittoral-trên: Là nơi sống đặc trưng cho các loài thực vật thích nghi với
điều kiện nửa nước, nửa khí như lau, sợi, súng, sen…
Infralittoral-giữa: là nơi sống đặc trưng của các loài thực vật ngập nước hoặc
thân ngập nước, lá nổi trên bề mặt nước.
Infralittoral-dưới: là nơi sống của các loài thực vật có rễ bám và ngập nước
hoàn toàn. Càng xuống ranh giới dưới, cường độ chiếu sáng giảm, thực vật càng
nghèo nàn.
+ Vùng littorioprofundal là thềm dốc để xuống lòng chảo đáy hồ
+ Vùng profundal hay hadal là lòng chảo đáy hồ, gồm trầm tích hạt nhỏ
không có hệ thực vật.
4
- Phần nước nổi:
+ Vùng nước ven hồ có giới hạn ngoài ứng với mặt phẳng đi từ giới hạn dưới
của vùng littoral lên mặt nước.
+ Vùng nước khơi: nằm ngoài vùng nước ven bờ.
Theo chiều thẳng đứng, khối nước gồm các tầng: tầng mặt, tầng giữa, tầng
sâu, tương ứng với những biến đổi của cường độ chiếu sáng, nhiệt độ và hoàn lưu
khối nước theo chiều thẳng đứng [15]
1.1.2 Các quần xã sinh vật trong hồ
Sinh vật trong hồ chủ yếu là các loài bản địa và khá đa dạng về thành phần
rất khác nhau. Tảo Bacillariophyta có nhu cầu sắt rất cao cho sự sinh trưởng. Khi
khối nước bắt đầu xáo trộn vào mùa xuân, tầng nước mặt được bổ sung khoáng sắt
và các muối dinh dưỡng khác từ đáy, do đó tảo Silic có cơ hội phát triển mạnh. Sau
đó, hàm lượng sắt giảm dần đi nhanh chóng, tảo Silic cũng giảm theo, trong khi
muối nitơ của tầng nước vẫn được duy trì tương đối cao nhờ sự phân hủy mạnh của
các chất hữu cơ do nhiệt độ tăng. Đó là điều kiện thuận lợi cho tảo Chlorophyta
phát triển thay thế vì nhóm này cần nhiều muối nitơ, còn hàm lượng sắt cao ở đầu
mùa nước xáo trộn trở thành nhân tố kìm hãm sự phát triển của chúng.
Trong các hệ sinh thái ở nước, thực vật bị suy giảm chủ yếu do 2 quá trình :
bị động vật sử dụng làm thức ăn và lắng đọng, phân hủy.
- Động vật nổi
Đây là nhóm chuyên ăn thực vật nổi, cặn vẩn và vi khuẩn đồng thời tạo ra
nguồn thức ăn đầu tiên cho cho các nhóm động vật ăn thịt tiếp theo. Động vật nổi
trong các thủy vực gồm 2 nhóm chính, khác nhau về dạng sống liên quan với các
giai đoạn phát triển khác nhau trong tầng nước.
+ Nhóm holoplankton: là những loài cả đời sống nổi trong tầng nước
+ Nhóm meroplankton: là những loài chỉ ở giai đoạn đầu của đời sống trong
tầng nước sau đó chúng trở về dạng trưởng thành sau khi biến thái, sống ở những
nơi mà cha mẹ chúng sống. Đó là ấu trùng của nhiều loài côn trùng, động vật đáy,
trứng cá, cá con.
6
Trong hồ hay các thủy vực vùng vĩ độ thấp nói chung, nhóm động vật nổi rất
đa dạng về thành phần loài và đông về số lượng đặc biệt là ấu trùng côn trùng. Do
đó sau mỗi lần biến thái có sự thay đổi lớn về số lượng động vật nổi.
Động vật nổi trong hồ chủ yếu là trùng roi không màu, infuzoria,
Rotatorir,…cùng với ấu trùng của động vật đáy, trứng cá, cá con… tuy nhiên tùy
thuộc vào sự phân bố, hình thái hồ cũng như điều kiện sống trong đó, thành phần
của động vật nổi rất khác nhau.
Động vật nổi tập trung ở tầng nước mặt, nơi có giàu hàm lượng thức ăn và có
đứng từ mặt xuống đáy. Nhiệt độ nước còn liên quan chặt chẽ với nhiệt độ không
khí, cường độ chiếu sáng.
- Độ đục của nước là mức độ ngăn cản ánh sáng xuyên qua nước. Độ đục
của nước có thể do nhiều loại chất lơ lửng bao gồm những loại có kích thước hạt
keo đến những hệ phân tán thô gây nên như các chất huyền phù, các hạt cặn đất cát,
các vi sinh vật. Về thành phần hóa học, chất gây đục có thể là chất vô cơ hoặc hữu
cơ, hoặc cả hai, do nguồn gốc tự nhiên hay nhân tạo. Độ đục cao ảnh hưởng tới quá
trình quang hợp của một số sinh vật trong nước.
- Độ dẫn của nước liên quan đến sự có mặt của các ion trong nước. Các ion
này thường là muối của kim loại như NaCl, KCl, SO
4
2-
, NO
3
-
, PO
4
3-
v.v Tác động
ô nhiễm của nước có độ dẫn điện cao thường liên quan đến tính độc hại của các ion
tan trong nước. Độ dẫn của nước phụ thuộc và tăng tỉ lệ thuận với nhiệt độ nước.
Nhiệt độ nước tăng lên 10
o
C thì độ dẫn điện của nước sẽ tăng 2-3%. Thông thường
độ dẫn được đo ở nhiệt độ tiêu chuẩn là 25
o
C .
1.2.1.2 Thông số thy ha
- Các thông số BOD, DO, COD dùng để đánh giá gián tiếp mức độ nhiễm
bẩn hữu cơ, trạng thái chất lượng nước, khả năng tự làm sạch của nguồn nước [6].
2
-
,
NO
3
-
,
PO
4
3-
dùng để đánh giá mức độ phú dưỡng
của nước.
8
- Độ pH là một trong những nhân tố môi trường có ảnh hưởng rất lớn trực
tiếp và gián tiếp đối với đời sống thủy sinh vật như: sinh trưởng, tỉ lệ sống,
sinh sản và dinh dưỡng. pH thích hợp cho tất cả các động vật đều gần bằng
7. Do đó, khi pH môi trường quá cao hoặc quá thấp đều không thuận lợi
cho quá trình phát triển của thủy sinh vật. Tác động chủ yếu của pH khi
quá cao hay quá thấp là làm thay đổi độ thẩm thấu của màng tế bào làm rối loạn quá
trình trao đổi muối - nước giữa cơ thể và môi trường ngoài. Do đó, pH là
nhân tố quyết định giới hạn phân bố của các loài thủy sinh vật. Ngoài ra giá trị pH
của nguồn nước còn góp phần quyết định phương pháp xử lý nước.
- Nhu cầu oxy hóa học (COD: Chemical oxygen demand) là lượng
oxy cần thiết để oxy hoá các hợp chất vô cơ và hữu cơ trong nước bao gồm
ở dạng lơ lửng hay hoà tan. COD cao, thể hiện nồng độ chất hữu cơ trong nước cao,
tạo điều kiện dễ dàng cho các loại vi sinh vật phát triển [12].
- Nhu cầu oxy sinh hóa (BOD: Biochemical oxygen demand) là lượng oxy
cần thiết cho vi khuẩn để phân hủy chất hữu cơ có khả năng oxi hóa sinh hóa dưới
điều kiện hiếu khí. Trong quá trình phân hủy này, chất hữu cơ được dùng làm thức
1.2.2 Sinh vật chỉ thị
Để đánh giá một cách toàn diện chất lượng nước của dòng chảy nói riêng và
của các nguồn nước nói chung, bên cạnh các chỉ tiêu lí hóa học người ta sử dụng
một hệ thống sinh vật chỉ thị [20].
Sinh vật chỉ thị: Là những cá thể, quần thể hay quần xã có khả năng thích ứng
hoặc rất nhạy cảm với môi trường nhất định. Các sinh vật chỉ thị có thể là 1 loài, 1
nhóm loài, có thể tương quan giữa các nhóm loài hoặc tổng số loài trong quần xã và chỉ
số đa dạng [17]. Chúng có thể chỉ thị về độ sạch, độ nhiễm bẩn của thủy vực (gắn liền
với độ giàu, nghèo dinh dưỡng). Chỉ thị về chất lượng nước: nước cứng, nước mềm,
nồng độ muối, độ nhiễm phèn, độ độc
Nguyên nhân sử dụng sinh vật chỉ thị để đánh giá chất lượng nước: Trong
hoạt động sống của mình, sinh vật luôn có xu hướng thiết lập một sự cân bằng với
các điều kiện môi trường. Các loài sinh vật luôn chịu sự chi phối của môi trường,
đồng thời biến đổi thích nghi của chúng với sự thay đổi của môi trường. Vì vậy khi
các nhân tố môi trường thay đối sẽ kéo theo phản ứng thích nghi của sinh vật. Đến
một ngưỡng nào đó các sinh vật nào không chịu đựng được sự biến đổi của môi
trường đó sẽ bị mất đi và thay thế vào đó là xuất hiện loài sinh vật mới thích nghi
với môi trường hiện tại. Sinh vật sống trong môi trường nào sẽ phản ánh đặc tính
của môi trường đó. Do đó hoàn toàn có thể sử dụng sinh vật để xem xét đánh giá
chất lượng môi trường nước.
Những sinh vật chỉ thị cho môi trường thường có những tính chất sau:
- Vật chỉ thị dễ dàng định loại (readily indentifiel)
- Dễ thu mẫu: không cần nhiều thao tác hoặc thiết bị tốn kém và có thể
định lượng
- Có phân bố rộng, tối ưu là phân bố toàn cầu
10
- Có nhiều dẫn liệu sinh thái học phong phú, đây là sự trợ giúp đáng kể trong
kết quả điều tra phân tích và phát hiện ô nhiễm.
- Có giá trị kinh thế hoặc tầm quan trọng như là tài nguyên hoặc vật gây hại.
triển và khả năng thích nghi với môi trường. Chính vì vậy nhiều loài cá có thể được
sử dụng như chỉ thị sinh học để xác định lượng nước và ô nhiễm nguồn nước [14].
Theo Hellewell (1989) tỷ lệ sử dụng các nhóm sinh vật trong chỉ thị chất
lượng nước như sau:
- Virut: 1% - Vi tảo: 25%
- Vi khuẩn: 15% - Thực vật bậc cao: 3,5%
- Nấm: 3,5% - Động vật nguyên sinh: 17,5%
- Nấm men: 2,5% - Động vật không xương sống cỡ lớn: 26%
Như vậy, vi tảo và động vật không xương sống cỡ lớn là hai nhóm sinh vật
chỉ thị được coi là ưu việt hơn cả và thường được sử dụng trong phương pháp sử
dụng sinh vật chỉ thị trong quan trắc và đánh giá chất lượng nước [9].
Phương php dùng chỉ th sinh hc c nhng ưu điểm nổi bt như:
1. Cho phép đánh giá tác động lâu dài và tổng hợp của nguồn ô nhiễm đối
với nguồn nước dựa trên hệ thống phân vùng nước mặt [7].
2. Sinh vật không phản ứng với một yếu tố riêng lẻ mà phản ứng với toàn bộ
các tác động của môi trường.
3. Sự phản ứng của sinh vật giúp phản ánh được những thay đổi của điều
kiện tự nhiên tại thời điểm nghiên cứu và trước đó. Đây là ưu điểm là những chỉ tiêu
thủy lý hóa không có được [7].
4. Phương pháp đơn giản, nhanh chóng và dễ sử dụng hơn so với đo các chỉ
tiêu thủy lý hóa.
5. Sử dụng sinh vật chỉ thị có thể đánh giá được khả năng phân hủy vật chất
đồng thời phản ánh mức độ đa dạng sinh học tại khu vực nghiên cứu.
Để đánh giá chất lượng nước một cách đầy đủ và hoàn thiện, trong những
năm gần đây người ta thường kết hợp sử dụng các sinh vật chỉ thị với việc đánh giá
qua các chỉ tiêu thủy lý hóa của môi trường nước [7]. Cách này sẽ kết hợp được cả
ưu điểm của cả hai phương pháp đánh giá. Sử dụng các sinh vật chỉ thị có thể đánh
giá chất lượng nước qua một thời gian dài, trong khi đó các chỉ tiêu thủy lí hóa chỉ
đánh giá trong một thời gian tức thời nào đó, nhưng lại có thể xác định rõ được chất
3
/ngày đêm vào năm 2020.
Như vậy trong tương lai nguy cơ ô nhiễm nguồn nước sông, hồ ở thành phố Hà Nội
không những không giảm mà còn gia tăng nhanh chóng, đặc biệt là ô nhiễm do chất
thải công nghiệp, sinh hoạt. Đây là cảnh báo khẩn cấp cho công tác bảo vệ và phục
hồi chất lượng nước ở thành Phố Hà Nội phục vụ cấp nước an toàn cho sinh hoạt,
thủy sản, du lịch và nông nghiệp [18].
- Hồ Hoàn Kiếm, Hà Nội: Hồ Hoàn Kiếm có diện tích 10,6ha, chiều rộng
trung bình 200m, chiều dài 600m, độ sâu trung bình 1,5 - 2,0m, với chiều sâu hiện
tại thì lượng nước có trong hồ khoảng 160.000 - 200.000m
3
. Đặc điểm nổi bật của
13
hồ là màu xanh do các loài tảo đặc hữu. Thành phần thực vật phù du (vi tảo) hồ
Hoàn Kiếm rất phong phú với sự xuất hiện của 61 loài thuộc 4 ngành tảo: tảo Lam,
tảo Lục, tảo Silic và tảo Mắt [18].
Những năm gần đây, do các tác động của đô thị hóa, cũng như các hồ Hà Nội
khác. Hồ Hoàn Kiếm đang phải đối mặt ô nhiễm nặng và chất lượng nước hồ suy
giảm. Các yếu tố thủy hóa thể hiện hồ bị ô nhiễm. Các yếu tố môi trường tác động
càng làm cho mật độ thực vật phù du có xu hướng tăng dần kéo theo hàm lượng oxy
hòa tan giảm đột ngột, ảnh hưởng đến sự sinh tồn của nhiều động, thực vật trong hồ.
Hồ Hoàn Kiếm như một ao tù bị lão hóa với mực nước ngày một cạn dần do bay
hơi, mực nước trung bình hiện nay chỉ còn khoảng 1 mét. Bùn cát do mưa kéo
xuống, gạch đá, vật thải… tích tụ đã làm lớp bùn lắng đọng trong hồ ngày càng dày,
cản trở việc lưu thông nước hồ với các nguồn nước ngầm.
Theo Trung tâm Nghiên cứu Môi trường và Cộng đồng, trên cơ sở đánh giá
hiện trạng ô nhiễm chất lượng nước của hồ, hiện trạng bờ và hành lang bờ của 120
hồ, thì phần lớn các hồ có giá trị pH và nhiệt độ trong giới hạn cho phép, tuy nhiên
phần lớn các hồ có giá trị các chỉ tiêu còn lại không đạt yêu cầu, chỉ có sáu hồ mà
- Hồ Thiền Quang ở Hà Nội bị ô nhiễm kim loại nặng. Các chỉ tiêu ô nhiễm
chủ yếu là BOD
5
, COD. Hàm lượng BOD
5
vượt qua tiêu chuẩn cho phép gần 2.54
lần. Hàm lượng COD vượt quá gần 3 lần (2,83). Và hầu hết các chỉ tiêu còn lại đều
vượt quá tiêu chuẩn cho phép [8].
- Hồ Tây: Hồ Tây là hồ lớn nhất trong khoảng gần 200 hồ lớn nhỏ của Hà
Nội. Hồ Tây nằm ở phía Tây Bắc nội thành Hà Nội với diện tích khoảng 500ha,
đường vòng quanh Hồ Tây dài gần 20km. Theo số liệu về môi trường nước Hồ Tây
mà chúng tôi có được thì vào những năm 60 của thế kỷ trước chất lượng nước Hồ
Tây còn rất tốt, hàm lượng BOD
5
của nước Hồ Tây còn bé hơn 6 mg/l, tức là còn
thuộc chất lượng nước loại A, nhân dân xung quanh Hồ thường ra Hồ Tây lấy nước
về phục vụ ăn uống. Thế mà ngày nay nước Hồ Tây đã bị ô nhiễm tới mức trở
thành nước loại B1, B2, hàm lượng BOD
5
của nước Hồ Tây ở giữa Hồ cao nhất đạt
tới 23 mg/l, ở điểm gần bờ phía đường Thanh Niên cao nhất đạt tới 35 mg/l (vượt cả
mức lớn nhất của nước loại B2 (25 mg/l). Thậm chí, thực tế đã xảy ra tình trạng có
những ngày đứng gần mép nước Hồ Tây đã cảm thấy mùi tanh nồng vì cá chết do
nước hồ bị ô nhiễm [3]. Nhìn trên mặt hồ, dễ thấy đủ loại rác thải, phổ biến nhất là
túi ni-lông và vỏ đồ hộp nổi lềnh bềnh trên mặt hồ. Mỗi ngày Hồ Tây phải tiếp nhận
khoảng 4.000 m
3
nước thải sinh hoạt và sản xuất công nghiệp, thủ công nghiệp của
vùng xung quanh Hồ đổ vào. Các khách sạn, nhà hàng ăn uống và các công trình
4
đều nằm trong khoảng giới hạn cho phép. Hồ Hòa Bình có dấu hiệu ô nhiễm ở
mức độ trung bình [10].
- Hồ Ba Bể: Ba Bể là một hồ nước ngọt ở Bắc Kạn, Việt Nam. Nó là một
trong một trăm hồ nước ngọt lớn nhất thế giới
và nằm trong vườn quốc gia Ba Bể,
nơi đây được công nhận là khu du lịch quốc gia Việt Nam. Độ sâu trung bình 20-
25 m, lúc cạn nhất còn 5–10 m. Nguồn nước chính được cung cấp từ 3 con sông
chảy vào hồ. Hiện chưa có đánh giá chính thức nào về việc nước hồ Ba Bể có bị ô
nhiễm không, nếu ô nhiễm thì ở mức nào. Tuy nhiên, có một thực tế cho thấy là lưu
lượng nước trong hồ cũng đã giảm so với những năm trước đây [26].
16
- Hồ Trị An: Hồ Trị An là hồ chứa có diện tích khoảng 323 km
2
với dung
tích là 2,76 tỷ m
3
nước nằm phía thượng nguồn sông Đồng Nai. Theo kết quả quan
trắc chất lượng nguồn nước mặt hồ Trị An cho thấy tại vị trí thượng nguồn, khu vực
lòng hồ thuộc địa bàn thị trấn Vĩnh An, xã Phú Cường, xã La Ngà (huyện Vĩnh
Cửu) và đoạn cửa sông Đồng Nai đổ vào hồ, chất lượng nguồn nước bị ô nhiễm cục
bộ, nhiều thông số về môi trường không đạt chuẩn quy định. Khu vực cách cầu La
Ngà khoảng 1,5 km về phía hạ lưu sông Đồng Nai, nguồn nước bị ô nhiễm nặng. Cụ
thể các thông số TSS (chất rắn lơ lửng), COD (lượng ôxy hoà tan), BOD
5
(nhu cầu
ôxy sinh hóa), N-NO
2
tích đất lâm nghiệp đã sử dụng 1.803,7 ha, chiếm 22,78% diện tích đất tự nhiên.
Diện tích đất chuyên dùng 631,37 ha, chiếm 7,9% diện tích đất tự nhiên.
- Tài nguyên nước: Thành phố Lạng Sơn có sông Kỳ Cùng chảy qua địa
phận Thành phố dài 19 km, lưu lượng trung bình là 2.300 m³/s, có suối Lao Ly chảy
từ thị trấn Cao Lộc qua khu Kỳ Lừa ra sông Kỳ Cùng và suối Quảng Lạc dài 97 km,
rộng 6 – 8 m. Ngoài ra, trong vùng còn có một số hồ đập vừa và nhỏ như hồ Nà
Tâm, hồ Thẩm Sỉnh, Bó Diêm, Lẩu Xá, Bá Chủng, Pò Luông.
- Tài nguyên khoáng sản: Khoáng sản ở Lạng Sơn chủ yếu là đá vôi, đất
sét, cát, đá cuội, sỏi Có 2 mỏ đá vôi chưa xác định được trữ lượng, nhưng chất
lượng đá vôi có hàm lượng Cacbonac canxi rất cao đủ điều kiện để sản xuất xi
măng. Mỏ đất sét có trữ lượng trên 22 triệu tấn, dùng làm nguyên liệu sản xuất vật
liệu xây dựng. Ngoài ra còn có một trữ lượng nhỏ vàng sa khoáng, kim loại
đen (Mangan), bôxit [27].
1.4.2 Tình hình kinh tế - xã hội
Năm 2007 dân số của Thành phố là trên 148.000 người, trong đó dân số
thành thị chiếm 78%, dân số nông thôn chỉ chiếm 22%, tỷ lệ tăng dân số tự nhiên là
0,92%. Cư trú tại Thành phố ngoài 4 dân tộc chủ yếu là Kinh, Tày, Nùng, Hoa còn
có các dân tộc Cao Lan, Dao, Sán Dìu, Sán Chỉ, Ngái Có 89.200 người trong độ
tuổi lao động, chiếm 56% dân số, trong đó lao động nông nghiệp chỉ chiếm 26% so
với lao động trong độ tuổi. Số lao động có trình độ chuyên môn từ trung cấp trở lên
chiếm hơn 10% trong tổng số lao động [11]. 18
CHƢƠNG 2. ĐỐI TƢỢNG VÀ PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Đối tƣợng nghiên cứu
Nghiên cứu 3 hồ trên địa phận thành phố Lạng Sơn là: hồ Phai Món, hồ Nà
Tâm, hồ Phai Loạn.
- Hồ Phai Loạn: thu tại 6 điểm là PL1, PL2, PL3, PL4, PL5, PL6.