ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN
---------------------------------------
MAI THỊ HỒNG
CHẤT LƢỢNG MÔI TRƢỜNG NƢỚC VÀ
ĐA DẠNG SINH VẬT NỔI MỘT SỐ HỒ
CỦA THÀNH PHỐ LẠNG SƠN
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC
Hà Nội, 2014
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN
---------------------------------------
MAI THỊ HỒNG
CHẤT LƢỢNG MÔI TRƢỜNG NƢỚC VÀ
ĐA DẠNG SINH VẬT NỔI MỘT SỐ HỒ
CỦA THÀNH PHỐ LẠNG SƠN
Luận văn Thạc sĩ chuyên ngành: Sinh thái học
Mã số: 60 42 01 20
Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: PGS. TS. Lê Thu Hà
Hà Nội, 2014
1.3 Hiện trạng chất lƣợng môi trƣờng nƣớc một số hồ miền Bắc Việt Nam...................12
1.4 Điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội thành phố Lạng Sơn ................................16
1.4.1 Điều kiện tự nhiên thành phố Lạng Sơn .......................................................16
1.4.2 Tình hình kinh tế - xã hội ...............................................................................17
CHƢƠNG 2. ĐỐI TƢỢNG VÀ PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU ...................18
2.1 Đối tƣợng nghiên cứu ........................................................................................18
2.2 Phƣơng pháp nghiên cứu ..................................................................................19
2.2.1 Phương pháp thu mẫu nước...........................................................................19
2.2.2 Phương pháp phân tích mẫu ..........................................................................20
2.2.3 Phương pháp phân tích số liệu.......................................................................20
CHƢƠNG III. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN ...........................24
3.1 Đặc điểm thủy lý hóa môi trƣờng các hồ nghiên cứu ....................................24
3.1.1 Hồ Phai Loạn ..................................................................................................24
3.1.2 Hồ Nà Tâm ......................................................................................................30
3.1.3 Hồ Phai Món ...................................................................................................36
3.2 Đa dạng sinh vật nổi ..........................................................................................43
3.2.1 Đa dạng thực vật nổi .......................................................................................43
3.2.2 Đa dạng động vật nổi ......................................................................................52
3.2.3 So sánh đa dạng sinh vật nổi giữa các hồ nghiên cứu ..................................61
3.3 Đánh giá chất lƣợng môi trƣờng nƣớc ............................................................63
3.3.1 Đánh giá chất lượng môi trường nước thông qua thông số thủy lý hóa ..............63
3.3.2 Đánh giá chất lượng nước theo phương pháp Lee và Wang ........................64
3.3.3 Đánh giá chất lượng môi trường nước thông qua chỉ số đa dạng động vật
nổi..............................................................................................................................65
3.3.4 Đánh giá chất lượng môi trường nước thông qua chỉ số đa dạng thực vật
nổi..............................................................................................................................66
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ ................................................................................69
TÀI LIỆU THAM KHẢO ......................................................................................71
Hình 8. Hàm lượng NO3- tại các điểm nghiên cứu hồ Phai Loạn ............................ 29
Hình 9: Hàm lượng PO43- tại các điểm nghiên cứu hồ Phai Loạn ............................ 29
Hình 10. Nhiệt độ tại các điểm nghiên cứu hồ Nà Tâm ............................................ 30
Hình 11. Giá trị pH tại các điểm nghiên cứu hồ Nà Tâm ......................................... 31
Hình 12. Độ đục tại các điểm nghiên cứu hồ Nà Tâm .............................................. 31
Hình 13. Hàm lượng DO tại các điểm nghiên cứu hồ Nà Tâm ................................ 32
Hình 14. Hàm lượng BOD5 tại các điểm nghiên cứu hồ Nà Tâm ............................ 33
Hình 15. Hàm lượng COD tại các điểm nghiên cứu hồ Nà Tâm .............................. 33
Hình 16. Hàm lượng NH4+ tại các điểm nghiên cứu hồ Nà Tâm .............................. 34
Hình 17. Hàm lượng NO-3 tại các điểm nghiên cứu hồ Nà Tâm .............................. 35
Hình 18. Hàm lượng PO43- tại các điểm nghiên cứu hồ Nà Tâm .............................. 36
Hình 19. Nhiệt độ ở các điểm nghiên cứu hồ Phai Món ........................................... 37
Hình 20. Sự biến động về nồng độ pH ở các điểm nghiên cứu Phai Món ................ 37
Hình 21. Độ đục tại các điểm nghiên cứu của hồ Phai Món..................................... 38
Hình 22. Giá trị DO tại các điểm nghiên cứu hồ Phai Món ...................................... 39
Hình 23. Hàm lượng BOD5 tại các điểm nghiên cứu hồ Phai Món ........................ 40
Hình 24. Giá trị COD tại các điểm nghiên cứu hồ Phai Món ................................... 40
Hình 25. Hàm lượng NH4+ tại các điểm nghiên cứu hồ Phai Món .......................... 41
Hình 26. Hàm lượng NO3- tại các điểm nghiên cứu hồ Phai Món .......................... 42
Hình 27. Hàm lượng PO43- tại các điểm nghiên cứu hồ Phai Món .......................... 42
Hình 28. Tỷ lệ thành phần loài giữa các nhóm thực vật nổi hồ Phai Loạn ............... 48
Hình 29. Tỷ lệ thành phần loài giữa các nhóm thực vật nổi hồ Nà Tâm .................. 50
Hình 30. Tỷ lệ thành phần loài giữa các nhóm thực vật nổi hồ Phai Món ............... 51
Hình 31. Mật độ thực vật nổi trung bình tại các điểm nghiên cứu hồ Phai Món .............. 52
Hình 32. Tỷ lệ thành phần loài giữa các nhóm động vật nổi hồ Phai Loạn .............. 58
Hình 33. Tỷ lệ thành phần loài giữa các nhóm động vật nổi hồ Nà Tâm ................. 59
Hình 34. Tỷ lệ thành phần loài giữa các nhóm động vật nổi hồ Phai Món .............. 61
Hình 35: Thành phần loài thực vật nổi tại các hồ nghiên cứu .................................. 62
Phai Loạn
5
NT
Nà Tâm
6
PM
Phai Món
7
TP
Thành phố
8
KLN
Kim loại nặng
9
ĐVKXS
cách Hữu Nghị quan 15 km và Đồng Đăng 13 km về phía đông bắc. Dân số của
thành phố năm 2009 là 187.278 người, với nhiều dân tộc khác nhau
như: Kinh, Tày, Nùng, Hoa và các nhóm người Dao, Mường, Sán Dìu, Sán Chỉ,...
Thành phố nằm trong vùng khí hậu cận nhiệt đới ẩm, nhiệt độ trung bình hàng năm
21oC, độ ẩm trung bình 80%, lượng mưa trung bình năm là 1439 mm [28].
Trên khu vực thành phố có rất nhiều hồ tự nhiên cũng như nhân tạo như hồ
Nà Tâm, hồ Thẩm Sỉnh, Bó Diêm, Lẩu Xá, Bá Chủng, Pò Luông. Các hồ này đóng
vai trò rất quan trọng trong việc phát triển kinh tế của thành phố [27]. Ngoài vai trò
trong việc phát triển kinh tế thì các hồ ở đây còn là lá phổi xanh giúp cho môi
trường không khí trong lành hơn. Tuy nhiên những năm gần đây, sự phát triển vĩ
mô của nền kinh tế đã đem lại hậu quả là nguồn nước của các hồ trên địa bàn thành
phố không được mát mẻ trong xanh như trước mà thay vào đó là nước trong một số
hồ bắt đầu bị ô nhiễm.
Bên cạnh việc phát triển kinh tế thì việc bảo vệ nguồn nước tại thành phố
cũng như sự đa dạng sinh học trên khu vực sông hồ tại đây cũng là vấn đề rất cần
được quan tâm. Chính vì thế mà đề tài “ Chất lượng môi trường nước và đa dạng
sinh vật nổi một số hồ của thành phố Lạng Sơn ” là một sự cần thiết cho việc
1
quản lí chất lượng nước của các hồ tại thành phố Lạng Sơn. Mục tiêu của đề tài
bao gồm:
• Sơ bộ điều tra thành phần loài Động vật nổi, thực vật nổi từ đó đánh giá về
độ đa dạng sinh vật nổi tại các điểm nghiên cứu.
• Đánh giá chất lượng nước tại các điểm nghiên cứu bằng các thông số thủy
lý hóa và các chỉ số sinh học.
• Đề xuất một số giải pháp bảo vệ môi trường nước.
2
nghèo nàn.
+ Vùng littorioprofundal là thềm dốc để xuống lòng chảo đáy hồ
+ Vùng profundal hay hadal là lòng chảo đáy hồ, gồm trầm tích hạt nhỏ
không có hệ thực vật.
3
- Phần nước nổi:
+ Vùng nước ven hồ có giới hạn ngoài ứng với mặt phẳng đi từ giới hạn dưới
của vùng littoral lên mặt nước.
+ Vùng nước khơi: nằm ngoài vùng nước ven bờ.
Theo chiều thẳng đứng, khối nước gồm các tầng: tầng mặt, tầng giữa, tầng
sâu, tương ứng với những biến đổi của cường độ chiếu sáng, nhiệt độ và hoàn lưu
khối nước theo chiều thẳng đứng [15]
1.1.2 Các quần xã sinh vật trong hồ
Sinh vật trong hồ chủ yếu là các loài bản địa và khá đa dạng về thành phần
loài. Tuy nhiên do những điều kiện đặc trưng, nhất là sự cách li tương đối của các
hồ trong những vùng khác nhau mà thành phần loài của quần xã sinh vật không
giống nhau. Những hồ sâu, có lịch sử phát triển dài thường là nơi sống của các loài
di lưu, chứa nhiều dạng đặc hữu [15].
Thực vật trong hồ khá đa dạng và đóng vai trò quan trọng trong đời sống của
hồ như tạo nên nguồn thức ăn, là nơi sống và bãi đẻ của nhiều loài động vật, đồng
thời gây ra sự thay đổi đáng kể về điều kiện môi trường của hồ liên quan với trạng
thái phát triển của chúng.
- Thực vật nổi: trong hồ có nhóm thực vật nổi mà đại diện quan trọng là Tảo
Lục, tảo Vàng ánh, tảo Lam, tùy thuộc vào từng vĩ độ và đặc điểm môi trường mà
cấu trúc thành phần loài có sự thay đổi khác nhau. Nhưng nói chung các hồ ở vùng
nhiệt đới xích đạo nhóm tảo Lam phát triển rất phong phú trong đó nhiều loài
thường gây hiện tượng tảo nở hóa với mật độ cao khoảng vài trăm triệu tế bào/l
Đây là nhóm chuyên ăn thực vật nổi, cặn vẩn và vi khuẩn đồng thời tạo ra
nguồn thức ăn đầu tiên cho cho các nhóm động vật ăn thịt tiếp theo. Động vật nổi
trong các thủy vực gồm 2 nhóm chính, khác nhau về dạng sống liên quan với các
giai đoạn phát triển khác nhau trong tầng nước.
+ Nhóm holoplankton: là những loài cả đời sống nổi trong tầng nước
+ Nhóm meroplankton: là những loài chỉ ở giai đoạn đầu của đời sống trong
tầng nước sau đó chúng trở về dạng trưởng thành sau khi biến thái, sống ở những
nơi mà cha mẹ chúng sống. Đó là ấu trùng của nhiều loài côn trùng, động vật đáy,
trứng cá, cá con.
5
Trong hồ hay các thủy vực vùng vĩ độ thấp nói chung, nhóm động vật nổi rất
đa dạng về thành phần loài và đông về số lượng đặc biệt là ấu trùng côn trùng. Do
đó sau mỗi lần biến thái có sự thay đổi lớn về số lượng động vật nổi.
Động vật nổi trong hồ chủ yếu là trùng roi không màu, infuzoria,
Rotatorir,…cùng với ấu trùng của động vật đáy, trứng cá, cá con… tuy nhiên tùy
thuộc vào sự phân bố, hình thái hồ cũng như điều kiện sống trong đó, thành phần
của động vật nổi rất khác nhau.
Động vật nổi tập trung ở tầng nước mặt, nơi có giàu hàm lượng thức ăn và có
độ chiếu sáng vừa phải. chính vì vậy trong các hồ sâu chúng cũng phân bố theo
chiều thẳng đứng, đặc biệt theo ngày đêm. Ban ngày chúng chuyển xuống tầng
nước sâu hơn, còn ban đêm chúng lên sát tầng mặt. Theo mặt ngang, động vật nổi
thường tập trung ở nơi giàu thức ăn, song tại trung tâm vùng nở hoa của tảo, mật độ
động vật nổi giảm đi rõ rệt. Vùng có mật độ động vật nổi cao nhất là nơi lân cận với
vùng tảo nở hoa.
1.2
Các thông số đánh giá chất lƣợng nƣớc.
Nhiệt độ nước tăng lên 10oC thì độ dẫn điện của nước sẽ tăng 2-3%. Thông thường
độ dẫn được đo ở nhiệt độ tiêu chuẩn là 25oC .
1.2.1.2 Thông số thủy hóa
- Các thông số BOD, DO, COD... dùng để đánh giá gián tiếp mức độ nhiễm
bẩn hữu cơ, trạng thái chất lượng nước, khả năng tự làm sạch của nguồn nước [6].
- Nồng độ muối chỉ tổng nồng độ của các ion hòa tan trong nước trong đó
đặc biệt lưu ý đến nồng độ của 7 ion quan trọng nhất chiếm tới 95% tổng số các ion
hòa tan trong nước bao gồm: Na+, K+, Ca2+, Mn2+, Cl-, SO42-, và HCO3- Hàm lượng oxy hòa tan trong nước (DO: Dissolved oxygen) là lượng oxy
không tác dụng với nước về mặt hóa học. Độ hòa tan của oxi trong nước phụ thuộc
vào các yếu tố: nhiệt độ, áp suất, đặc tính của nguồn nước (bao gồm cả thành phần
hóa học, vi sinh, thủy sinh sống trong nước). Hàm lượng DO là một trong những chỉ
tiêu quan trọng đánh giá chất lượng nước và khả năng tự làm sạch của nguồn nước.
Khi hàm lượng DO giảm mạnh sẽ kéo theo số lượng sinh vật sống trong nước giảm
hoặc không thể tồn tại nữa .
- Các thông số NH4+, NO2-, NO3-, PO43- dùng để đánh giá mức độ phú dưỡng
của nước.
7
- Độ pH là một trong những nhân tố môi trường có ảnh hưởng rất lớn trực
tiếp và gián tiếp đối với đời sống thủy sinh vật như: sinh trưởng, tỉ lệ sống,
sinh sản và dinh dưỡng. pH thích hợp cho tất cả các động vật đều gần bằng
7. Do đó, khi pH môi trường quá cao hoặc quá thấp đều không thuận lợi
cho quá trình phát triển của thủy sinh vật. Tác động chủ yếu của pH khi
quá cao hay quá thấp là làm thay đổi độ thẩm thấu của màng tế bào làm rối loạn quá
trình trao đổi muối - nước giữa cơ thể và môi trường ngoài. Do đó, pH là
nhân tố quyết định giới hạn phân bố của các loài thủy sinh vật. Ngoài ra giá trị pH
của nguồn nước còn góp phần quyết định phương pháp xử lý nước.
- Nhu cầu oxy hóa học (COD: Chemical oxygen demand) là lượng
Để đánh giá một cách toàn diện chất lượng nước của dòng chảy nói riêng và
của các nguồn nước nói chung, bên cạnh các chỉ tiêu lí hóa học người ta sử dụng
một hệ thống sinh vật chỉ thị [20].
Sinh vật chỉ thị: Là những cá thể, quần thể hay quần xã có khả năng thích ứng
hoặc rất nhạy cảm với môi trường nhất định. Các sinh vật chỉ thị có thể là 1 loài, 1
nhóm loài, có thể tương quan giữa các nhóm loài hoặc tổng số loài trong quần xã và chỉ
số đa dạng [17]. Chúng có thể chỉ thị về độ sạch, độ nhiễm bẩn của thủy vực (gắn liền
với độ giàu, nghèo dinh dưỡng). Chỉ thị về chất lượng nước: nước cứng, nước mềm,
nồng độ muối, độ nhiễm phèn, độ độc...
Nguyên nhân sử dụng sinh vật chỉ thị để đánh giá chất lượng nước: Trong
hoạt động sống của mình, sinh vật luôn có xu hướng thiết lập một sự cân bằng với
các điều kiện môi trường. Các loài sinh vật luôn chịu sự chi phối của môi trường,
đồng thời biến đổi thích nghi của chúng với sự thay đổi của môi trường. Vì vậy khi
các nhân tố môi trường thay đối sẽ kéo theo phản ứng thích nghi của sinh vật. Đến
một ngưỡng nào đó các sinh vật nào không chịu đựng được sự biến đổi của môi
trường đó sẽ bị mất đi và thay thế vào đó là xuất hiện loài sinh vật mới thích nghi
với môi trường hiện tại. Sinh vật sống trong môi trường nào sẽ phản ánh đặc tính
của môi trường đó. Do đó hoàn toàn có thể sử dụng sinh vật để xem xét đánh giá
chất lượng môi trường nước.
Những sinh vật chỉ thị cho môi trường thường có những tính chất sau:
- Vật chỉ thị dễ dàng định loại (readily indentifiel)
- Dễ thu mẫu: không cần nhiều thao tác hoặc thiết bị tốn kém và có thể
định lượng
- Có phân bố rộng, tối ưu là phân bố toàn cầu
9
- Có nhiều dẫn liệu sinh thái học phong phú, đây là sự trợ giúp đáng kể trong
ở vùng nước tù hãm chứa nhiều chất dinh dưỡng. Do vậy cùng với tảo, rong, bèo là
các thực vật chỉ thị cho hiện tượng phú dưỡng của nước [16].
Cá là động vật máu lạnh. Có nhiều loại cá khác nhau cùng tồn tại trong một
thủy vực với các đặc điểm khác nhau về hình thể, nguồn thức ăn, nơi sinh sản phát
10
triển và khả năng thích nghi với môi trường. Chính vì vậy nhiều loài cá có thể được
sử dụng như chỉ thị sinh học để xác định lượng nước và ô nhiễm nguồn nước [14].
Theo Hellewell (1989) tỷ lệ sử dụng các nhóm sinh vật trong chỉ thị chất
lượng nước như sau:
- Virut: 1%
- Vi tảo: 25%
- Vi khuẩn: 15%
- Thực vật bậc cao: 3,5%
- Nấm: 3,5%
- Động vật nguyên sinh: 17,5%
- Nấm men: 2,5%
- Động vật không xương sống cỡ lớn: 26%
Như vậy, vi tảo và động vật không xương sống cỡ lớn là hai nhóm sinh vật
chỉ thị được coi là ưu việt hơn cả và thường được sử dụng trong phương pháp sử
- Nước bẩn (Meso saprobe): được chia làm 2 mức:
+ Mức bẩn (α Meso saprobe): Hàm lượng oxy thấp, số lượng Vi khuẩn đạt
đến hàng ngàn tế bào/ ml. Các sinh vật chỉ thị chính là tảo Lam, tảo Silic như
Euglena viridis,...
+ Mức bẩn vừa (β Meso saprobe): các chất phần lớn ở dạng khoáng hóa, xuất
hiện NO3+, NO2-, hàm lượng oxy hòa tan cao hơn. Các nhóm chỉ thị như Melosira,
Spirogyra, Heliozoa.
- Nước bẩn ít (Oligo saprobe): Chứa rất ít chất hữu cơ, hàm lượng oxy cao
vi khuẩn dao động từ 1000 - 10000 tế bào/ lít, thủy sinh vật đa dạng và phong phú
bao gồm các nhóm tảo, động vật không xương sống, nhiều loài cá.
1.3
Hiện trạng chất lƣợng môi trƣờng nƣớc một số hồ miền Bắc Việt Nam.
- Các hồ trên địa bàn Hà Nội: Hiện nay sông, hồ trên địa bàn thành phố Hà
Nội tiếp nhận hàng ngày khoảng hàng triệu m3 nước thải công nghiệp, nước thải đô
thị và nước thải từ đồng ruộng, các khu vực nuôi trồng thủy sản. Lượng nước thải
sinh hoạt trên địa bàn thành phố Hà Nội từ 440.934 m3/ngày đêm vào năm 2020.
Như vậy trong tương lai nguy cơ ô nhiễm nguồn nước sông, hồ ở thành phố Hà Nội
không những không giảm mà còn gia tăng nhanh chóng, đặc biệt là ô nhiễm do chất
thải công nghiệp, sinh hoạt. Đây là cảnh báo khẩn cấp cho công tác bảo vệ và phục
hồi chất lượng nước ở thành Phố Hà Nội phục vụ cấp nước an toàn cho sinh hoạt,
thủy sản, du lịch và nông nghiệp [18].
- Hồ Hoàn Kiếm, Hà Nội: Hồ Hoàn Kiếm có diện tích 10,6ha, chiều rộng
trung bình 200m, chiều dài 600m, độ sâu trung bình 1,5 - 2,0m, với chiều sâu hiện
tại thì lượng nước có trong hồ khoảng 160.000 - 200.000m3. Đặc điểm nổi bật của
12
nhà, bãi đỗ xe, trở thành bãi tập kết phế liệu, rác thải sinh hoạt [18].
13
Nguyên nhân gây ô nhiễm chính là do nước thải sinh hoạt và một phần nước
thải từ gia đình hoặc cộng đồng tùy tiện thải xuống hồ. Các ô nhiễm này làm tăng
nồng độ các chất hữu cơ, vượt quá khả năng tự làm sạch của hồ, dẫn đến suy thoái
chất lượng nước, dẫn đến thiếu hụt oxy, tăng lượng trầm tích trong hồ, khiến cho
nước của nhiều ao hồ đục bẩn, có nhiều hồ, ao nước biến thành màu đen, hệ thống
sinh thái bị đe dọa và rối loạn nghiêm trọng. Hiện tượng đổ phế thải xây dựng, đổ
đất, lấn chiếm ao hồ… làm giảm đáng kể diện tích ao hồ, nhiều hồ đang dần biến
mất. Các hồ chưa kè đều đứng trước nguy cơ bị lấn chiếm, việc kè hồ giúp chấm
dứt việc lấn chiếm. Tuy nhiên, nhiều hồ đã kè nhưng cũng rất ô nhiễm, nước đục
đen, làm mất đi nền tảng sinh thái và thảm động, thực vật tự nhiên ven bờ rất quan
trọng đối với hồ [1].
- Hồ Thiền Quang ở Hà Nội bị ô nhiễm kim loại nặng. Các chỉ tiêu ô nhiễm
chủ yếu là BOD5, COD. Hàm lượng BOD5 vượt qua tiêu chuẩn cho phép gần 2.54
lần. Hàm lượng COD vượt quá gần 3 lần (2,83). Và hầu hết các chỉ tiêu còn lại đều
vượt quá tiêu chuẩn cho phép [8].
- Hồ Tây: Hồ Tây là hồ lớn nhất trong khoảng gần 200 hồ lớn nhỏ của Hà
Nội. Hồ Tây nằm ở phía Tây Bắc nội thành Hà Nội với diện tích khoảng 500ha,
đường vòng quanh Hồ Tây dài gần 20km. Theo số liệu về môi trường nước Hồ Tây
mà chúng tôi có được thì vào những năm 60 của thế kỷ trước chất lượng nước Hồ
Tây còn rất tốt, hàm lượng BOD5 của nước Hồ Tây còn bé hơn 6 mg/l, tức là còn
thuộc chất lượng nước loại A, nhân dân xung quanh Hồ thường ra Hồ Tây lấy nước
về phục vụ ăn uống. Thế mà ngày nay nước Hồ Tây đã bị ô nhiễm tới mức trở
thành nước loại B1, B2, hàm lượng BOD5 của nước Hồ Tây ở giữa Hồ cao nhất đạt
tới 23 mg/l, ở điểm gần bờ phía đường Thanh Niên cao nhất đạt tới 35 mg/l (vượt cả
mức lớn nhất của nước loại B2 (25 mg/l). Thậm chí, thực tế đã xảy ra tình trạng có
NH+4 đều nằm trong khoảng giới hạn cho phép. Hồ Hòa Bình có dấu hiệu ô nhiễm ở
mức độ trung bình [10].
- Hồ Ba Bể: Ba Bể là một hồ nước ngọt ở Bắc Kạn, Việt Nam. Nó là một
trong một trăm hồ nước ngọt lớn nhất thế giới và nằm trong vườn quốc gia Ba Bể,
nơi đây được công nhận là khu du lịch quốc gia Việt Nam. Độ sâu trung bình 2025 m, lúc cạn nhất còn 5–10 m. Nguồn nước chính được cung cấp từ 3 con sông
chảy vào hồ. Hiện chưa có đánh giá chính thức nào về việc nước hồ Ba Bể có bị ô
nhiễm không, nếu ô nhiễm thì ở mức nào. Tuy nhiên, có một thực tế cho thấy là lưu
lượng nước trong hồ cũng đã giảm so với những năm trước đây [26].
15
- Hồ Trị An: Hồ Trị An là hồ chứa có diện tích khoảng 323 km2 với dung
tích là 2,76 tỷ m3 nước nằm phía thượng nguồn sông Đồng Nai. Theo kết quả quan
trắc chất lượng nguồn nước mặt hồ Trị An cho thấy tại vị trí thượng nguồn, khu vực
lòng hồ thuộc địa bàn thị trấn Vĩnh An, xã Phú Cường, xã La Ngà (huyện Vĩnh
Cửu) và đoạn cửa sông Đồng Nai đổ vào hồ, chất lượng nguồn nước bị ô nhiễm cục
bộ, nhiều thông số về môi trường không đạt chuẩn quy định. Khu vực cách cầu La
Ngà khoảng 1,5 km về phía hạ lưu sông Đồng Nai, nguồn nước bị ô nhiễm nặng. Cụ
thể các thông số TSS (chất rắn lơ lửng), COD (lượng ôxy hoà tan), BOD5 (nhu cầu
ôxy sinh hóa), N-NO2 (hàm lượng nitrate), Fe (sắt), Ecoli và Coliform (vi sinh vật
trong nước) vượt quy chuẩn nhiều lần. Tại khu vực này, mức độ ô nhiễm nguồn
nước được đánh dấu màu da cam, ở mức độ cảnh báo thứ 4 trong 5 cấp độ cảnh báo
về ô nhiễm nguồn nước. Có 3 vị trí quan trắc được đánh dấu ở mức cảnh báo màu
vàng, mức thứ 3 trong 5 mức cảnh báo gồm: vị trí bờ phía Nam thị trấn Vĩnh An,
khu vực xã La Ngà và đoạn cửa sông Đồng Nai đổ vào [19].
1.4 Điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội thành phố Lạng Sơn
1.4.1 Điều kiện tự nhiên thành phố Lạng Sơn
Thành phố Lạng Sơn nằm giữa một lòng chảo lớn, có dòng sông Kỳ
Cùng chảy qua trung tâm Thành phố đây là dòng sông chảy ngược. Nó bắt nguồn từ